những tổ khúc rời-tuyển tập trường ca

 

 

 

Những tổ khúc rời- thơ Nguyễn Thanh Hiện
© 2018 Nguyễn Thanh Hiện Fish Eyes 8 | ftắt Cá 8

First published by | Xuất bản lần thứ nhất bởi AJAR press www.ajarpress.com

Cover & book design || Thiết kế bìa & sách: Trần Thu Ngân

All rights reserved. No part of this book may be used or reproduced without written permission.
ISBN 978-1-7320466-2-7

The Fish Eyes series of AJAR press invites various not-yet-named poetic voices, listens to theechoesofstrangeunderwaterwhispering, seeks to link the having occurred with the occurring, the here with the there, the inside with the outside, the present with the absent, the originals with the translations, seeks to (re)connect and nurture the encounters and improvisational collaborations between writers and readers, writers and writers, poetry and other art, beings and their visions, visions and their beings.

On the skin of each book, the author’s handwriting appears as traces leading into a shared and intimate space.

In some small corners of sky in this universe, there are floating beings who can perceive and love the language of poetry, of each other, and sometimes they meet.

In optimal financial conditions, the series blinks open three new eyes a year. To submit to Fish Eyes, email us at: submit@ajarpress. com. We welcome submissions of work in translation and works by previously unpublished authors.

—————————————————-

Chuỗi thơ Mắt Cá của AJAR press mời mọc những giọng thơ chưa- đeo-biển-tên, hồi vọng những tiếng thầm thì từ những dòng chảy lạ, nỗ lực nối liền cái đã xảy ra và cái đang xảy ra, đây và kia, trong và ngoài, những hiện diện và những vắng mặt, bản gốc và bản dịch, kết nối (lại) và nuôi dưỡng những gặp gỡ, phối hứng giữa người viết và người đọc, người viết và người viết, thơ và nghệ thuật, những hữu thể và những viện tượng của hữu thể, những viễn tượng và những hữu thể của viễn tượng. Trên da sách, chữ viết tay của tác giả hiện diện như những dấu vết dẫn mở vào một không gian san sẻ thân thiết.

Ở những góc nhỏ của bầu trời trong vũ trụ, có những cá thể trôi dạt, thấu hiểu và yêu thương tiếng nói của thơ, của nhau, và đôi khi họ gặp nhau.

Nếu điều kiện tài chính cho phép, chuỗi thơ này sẽ ba lần mở mắt mỗi năm. Để gửi bản thảo cho chuỗi thơ Mắt Cá, email cho chúng tôi: submit@ajarpress.com. Chúng tôi chào đón những tác phẩm dịch và những tác giả chưa xuất bản.

 

 

Ngoài một số bài thơ lẻ, tuyển tập này bao gồm các tác phẩm từ các trường ca được tác giả tự xuất bản và đăng tải rải rác trên các trang mạng văn chương: Bài hành ca của một khách hào hoa, (diendan.org, 2013, & bản in tự xuất bản), Cổ tích của đất, 2014 (diendan.org), Những khúc hát gửi lên trời, 2013 (damau. org), Ngẫu nhiên, 2015 (tienve.org), Dấu tích, 2014 (damau.

org), Người gieo hạt, 1998-2015 (chưa xuất bản), Những bài hát rong đương đại, 2012 -2017 (diendan.org , damau.org , vanviet. info, tienve.org), Khúc ca bi thiết của một kẻ cô độc, 2014-2015 (damau.org), Dấu vết mặt trời, 2014 (diendan.org), Những tổ hợp của chữ, 2016 (diendan.org), Hồi ức về những con đường đất tôi đã đi qua (diendan.org & bản in tự xuất bản).

MỤC LỤC

thay lời tựa || in place of a preface

Những câu chuyện không đầu không cuối
Những gương mặt của đất
Ngẫu nhiên
Một chút ký ức mùa hè
Biến tấu
Những điều còn lại
Không hề cạn kiệt phù sa
Ta vẫn là hạt bụi
Người buôn ngựa ở quảng trường Tahir
Homo… homo
Những khúc ca bi thiết
Biến khúc
Minh triết và tro than
Chữ – những hệ lụy
Poems with English translations
      nàng || her (trans . Ngân)
kịch bản || A script (trans . Kaitlin Rees)
Những tiếng gọi ngầm ||
Calls from below (trans . Kaitlin Rees)
Người đọc
Dấu tích những khúc rong ca – Hải Ngọc

thay lời tựa

tôi đi. cứ thấy mình lạc vào cõi thời gian ngoài nghĩ ngợi. hoa mặt trời lả tả rơi. phù thế. tôi đem chữ nghĩa xếp thành hình thù của dịch chuyển. những cuộc ly tan. những cách thế kết hợp. cứ đọng lại những giọt nước mắt của cỏ cây. vào một ngày của thế kỷ có người đến ngồi giữa thế gian để nói về những cách thức suy tàn của các loài hoa. tôi đi. cứ chấp chới những cơn mơ về sự hồi phục. cái một. sự điềm đạm của những vật thể nhỏ nhoi nhất. cuộc rong chơi của những hiện diện và vắng mặt. phong lưu của nắng của gió và của những hiện hữu chỉ nhìn thấy được bằng niềm cảm hứng. và có thể chữ nghĩa sẽ bị rối tung giữa buổi loạn lạc của ý nghĩa. những cuộc khai phá phải tạm ngừng cho đến khi các thứ ý nghĩa được khôi phục. lũ chim dường không còn muốn hót. bởi hết thảy những bài hát của chúng đều trở nên vô nghĩa trước một thế giới các thứ ý nghĩa chưa được xác lập. vào những lúc như thế tôi thường hay nhìn thấy thứ vật thể có tên nghịch lý từ miền cổ tích chảy suốt qua những tháng năm buồn bã.

in place of a preface.  

i go. keep feeling myself lost in the time beyond thought. the sun shedding its petals. ephemeral world. i carry words and meanings formed by transforming. the dispersals. the fusions. lingering tears of grass and trees. one day in the century there is someone who  sits among the world ephemera to talk about how are the ways flowers decay. i go. keep some flickering dreams of recuperation. the oneness. the mild manners of the smallest creatures. roaming presences and absences. rich flow of sun of wind of existence only visible by inspiration. and perhaps words get intricately tangled in a chaos of meaning. the bulldozers must pause until senses can recover. seems the birds don’t want to sing anymore. because every  last one of their songs becomes meaningless in a world where senses cannot be recognized. in times like these I often see an object by the name of a paradox from dreamy lands running through the sad months and years.

 

 

NHỮNG CÂU CHUYỆN KHÔNG ĐẦU KHÔNG CUỐI

 

những người đàn ông đem những chiếc bóng của lũ chim đang bay trên bầu trời trên đầu
đặt lên những chiếc bóng của mình đang ngã trên đất
người ta nói như thế là sự kết hợp giữa
ảo ảnh và hiện thực  

 

từ những khoảng trống

 

thế giới vẫn chòng chành trên những cuộc chơi chẳng theo luật tắc nào

sợ sự lãng quên

người đàn ông lén dấu nhúm đất vào áo

hôm qua có kẻ nói với tôi chớ đi đâu cả cứ ở lại trong những khoảng trống

dường có sự trục trặc nào đó xảy ra lũ chim có cánh hết thảy đều bay lên

từ trong những khoảng trống bước ra tôi gặp khuôn mặt nhăn nhó của đất

 

chúng ta vẫn đang có mặt trên đất

 

đừng chờ đợi ân sủng từ các vị thần cứ tự vinh danh mình

bằng cách ca ngợi mồ hôi ca ngợi nước mắt

ca ngợi máu chảy ra khỏi các mạch máu ca ngợi cái chết từ từ

máu từ các mạch máu từ từ chảy ra trước khi chết điều đó chẳng dễ dàng chút nào

nhưng chúng ta đang làm

để được có mặt trong danh mục các loài nơi mặt đất buổi tối hãy cứ soi vào các vì sao

để được nhìn thấy gương mặt chúng ta sinh ra từ các cuộc chết chóc vẫn nặng trĩu những hoài bão không gọi được tên

nhưng có thể nói bằng ẩn dụ những ẩn dụ không hề cạn kiệt

hôm qua có kẻ đến nói với tôi đừng đi đâu cả

hãy cứ ở lại giữa cơn sinh nở được sinh ra từ các cuộc chết chóc có vẻ đùa cợt

 

 

có quá nhiều những ngọn lửa giận dữ

 

cuộc hành trình của tôi trên con đường đất mùa đông

con đường bỗng nhớ đến cái chết của những kẻ bị lũ rắn đen áp bức mùa đông con đường thu mình lại

tôi vất vả với cuộc hành trình của mình các bạn đừng chờ

vì không chắc tôi tiếp tục được cuộc hành trình tôi nói với các bạn hữu của tôi

 

vào cuối mùa đông

lũ rắn đen lại trườn ra trên đường có nhiều kẻ không chết

chỉ ngắc ngoải với những hạt lúa lấy từ những thửa ruộng đã bị những ý đồ ngông cuồng của lũ rắn băm nát

có quá nhiều những ngọn lửa giận dữ ẩn náu bên dưới bầu trời đừng chờ tôi

tôi lại nói với các bạn hữu của tôi đang chờ tôi ở cuối những tiếng la hét

những tiếng la hét cất lên từ lúc mặt trời mới mọc lửa

những tiếng la hét và ánh mặt trời

có quá nhiều sự kết hợp khiên cưỡng bên dưới bầu trời

 

 

những người đàn bà đi nhặt tóc rối

 

chính những người đàn bà trong làng có những cái búi tóc thật to làm tôi cảm động

(mẹ tôi hồi ấy, trước khi bà nằm xuống, cũng có cái búi tóc thật to) những người đàn bà trong làng có những cái búi tóc thật to cũng đã đến tuổi sắp nằm xuống như những người đàn bà có những cái búi tóc thật to đã nằm xuống

chính những người đàn bà ấy làm tôi nghĩ ngợi

họ đi nhặt những lọn tóc rối những người đàn bà khác gỡ bỏ khi chải tóc

những lọn tóc rối có khi được nhét vào một lỗ cột nhà hay nhét vào cái hốc vách hay nằm vất vưởng trong vườn nhà ai đó

họ nhặt những lọn tóc rối cất giữ cho đến khi bó được cái đầu tóc giả

(mẹ tôi hồi ấy cũng đi nhặt tóc rối để bó cái đầu tóc giả)

 

tôi gọi là đầu tóc giả nhưng những người đàn bà có những cái búi tóc thật to thì gọi là cái đầu tóc

cái đầu tóc ở ngoài đầu tóc

chính là cái đầu tóc ở ngoài đầu tóc khi chêm vào cái đầu tóc rụng gần hết tóc

những người đàn bà đi nhặt tóc rối sẽ búi được cái búi tóc thật to như tôi nhìn thấy

(mẹ tôi hồi ấy cho đến khi trút hơi cuối cùng cũng còn giữ được cái búi tóc thật to)

càng ngày càng rất ít những người đàn bà đi nhặt tóc rối dường chốn trần gian hỗn độn làm cho họ không còn muốn làm đẹp cái búi tóc của mình trước khi nằm xuống

 

 

và có quá nhiều cách nhìn thế giới

 

và chính những người đàn bà ấy đã đi nhặt những hột nút áo cũ ở các bến tàu thường trở về làng vào lúc nửa đêm

từ làng tôi đến các bến tàu gần nhất phải mất cả buổi đường thật ra bọn họ cũng muốn trở về làng vào lúc còn ánh mặt trời nhưng điều đó là không thể

bởi bọn họ còn phải chờ cập bến những chuyến tàu chở những kẻ không có công ăn việc làm từ các nơi trên mặt đất trở về với những chiếc áo cũ

có quá nhiều người mặc áo cũ và họ đã giữ gìn những hột nút áo của mình quá cẩn thận

tôi nhìn thấy quá nhiều hình ảnh những hột nút áo cũ trong ánh mắt những người đàn bà ở làng tôi chuyên đi nhặt những hột nút đã bị rứt khỏi áo

hình như những người đàn bà chuyên đi xin thức ăn thừa ở các bến tàu có vẻ không bằng lòng về việc những người đàn bà ở làng tôi chuyên đi nhặt những hột nút cũ

cứ gì phải là đi nhặt nút áo cũ trong khi chúng ta còn thiếu thốn mọi thứ trên đời bọn họ nói

quả thật có quá nhiều cách nhìn thế giới

 

 

trong buổi tiệc đêm

 

người làng tôi gọi tên một loài chim không hề thấy mặt cũng như tôi

đôi khi tôi gọi tên em nhưng không hề nhìn thấy em

người làng tôi gọi tên con chim không hề thấy mặt là chim kéo chỉ

 

trong buổi tiệc đêm của muôn nghìn sinh vật trên mặt đất

có thể người ta nghe thấy sự lặng lẽ của một loài chim nào đó lúc ngày đã biết rõ về chúng

có thể người ta nghe thấy tiếng hót của một loài chim nào đó lúc ngày đã nghe thấy tiếng hót của chúng

trong muôn nghìn cung bậc của buổi tiệc đêm bỗng nổi lên thứ âm vang chẳng phải âm vang

chẳng hề biết đó là loài chim gì

nhưng khi đêm xuống nghe thứ âm vang tựa hồ cây kim khâu chạm vào vải

thứ âm vang chẳng phải âm vang

người làng tôi lại nói là tiếng kêu của chim kéo chỉ cũng như tôi

khi chẳng hề nhìn thấy em tôi cũng gọi tên em

 

khi em lặng lẽ nhìn tôi qua muôn nghìn sự vật là những âm vang chẳng phải âm vang

nơi cánh cửa của thế giới sự vật đang mở ra

chỉ có bước nhảy của những tiếng động phát ra từ sự lặng lẽ của em

(Cổ tích của đất, 2014)

 

NHỮNG GƯƠNG MẶT CỦA ĐẤT

 

đêm như cứ đổ về phía nguyên sơ

những dòng sông sao như đang chảy xuống giấc ngủ có vẻ yên lành của em

em vẫn ngủ yên lành

giữa những gương mặt của đất đai

 

này ta nói cho lũ các người biết đất đai là kết tụ của những nghìn triệu

năm khổ lụy không dễ gì để cho các người đem phù du thay chỗ cho vĩnh hằng

những người trên vai đang nặng chật những khổ lụy của đất đai nói

 

nhưng lũ người ưa sự tráo trở của mưa nắng cứ làm như chẳng hề nghe thấy

chúng vẫn mưu toan xóa hết sạch những vẻ đẹp của đất đai

 

đêm như cứ đổ về phía nguyên sơ

và ta thì bắt đầu chép lại hết thảy những màu cổ sơ chói lọi đang chuyển sang u buồn tăm tối

ngọn bút của ta như không còn đứng nổi khi những lầm than lở lói đang lan ra khắp mặt đất

ta chép như không còn nghĩ đến câu cú

ta chép liền một mạch từ đầu tới cuối không chấm phảy cốt để cho người đọc không còn đọc nổi bởi ta cứ sợ bọn họ lại đem chữ nghĩa của ta đốt thành tro bụi

mãi lúc những dòng sông sao biến mất trong ánh sáng của ngày em mới thức dậy

thấy có nụ cười thật tươi trên môi em

 

ta biết là em đang vui

 

anh đang sợ người ta chẳng hiểu nổi những gì anh đang nghĩ ngợi

em nói

và vẫn giữ nụ cười trên môi

 

*

 

cho đến hôm bầu trời trở nên rách nát lũ chim không còn muốn bay nữa

chúng tụ tập từng đàn bên dưới những u buồn vỗ chân nguyện cầu lời của chim quyện vào những đám mây vô hồn

lang thang những khúc hát gần như đuối sức của lũ chim còn muốn thử sức lần cuối

bầu trời trở nên vô định trong cả cốt cách vốn được hình thành tự thuở vừa thoát khỏi hỗn mang (không còn là màu đen của đêm không còn là sự trong lành của ngày…) vô định trong cả thiết lập những chuẩn mực về sự cách trở và về sự kéo dài ra hay thoáng chốc

thuở ấy người ta không còn biết cách nói về nỗi thương nhớ bên dưới bầu trời ảm đạm con người chẳng còn biết cách thể hiện những nghĩ ngợi trong lòng

đám đá trời ngỗ nghịch suốt ngày đêm đi rêu rao về sự tận cùng của thế giới

chúng vốn là những mảnh hồn tơi tả được sinh ra sau khi bầu trời trở nên rách nát

cả cỏ cây cả con người và cả các vị thần đều im lặng đợi chờ một thông điệp mới của cuộc vô thường

và ở tận phía bên kia của u buồn dường có ai đó lên tiếng gọi người mình yêu thương

và từ miền đất có con sông có tiếng là sông dài nhất trên mặt đất dường có người con gái vội vã ra đi

 

và những thế kỷ sau có người nói tình yêu nguyên sơ đã làm lành lại bầu trời rách nát

nhưng lũ ngông cuồng của thế kỷ trong niềm kiêu căng vô lối đã làm cho vẻ đẹp nguyên sơ trở thành thần thánh

bọn chúng đã làm cho cái có thể trở thành không thể

 

đêm đầu tiên đặt chân lên bờ con sông ấy ta hôn lên ánh mắt em như để nhớ đến một cuộc tình nguyên thủy và cứ thấy em lung linh trong vẻ đẹp nguyên sơ.

 

*

 

đêm ta gối đầu lên ngực em

cũng chẳng phải là giấc ngủ êm đềm bởi quãng giữa khuya ta giật mình thấy mình hóa bướm

những con bướm mùa đông rũ ướt bay về phía những ngọn núi vừa mới hình thành trong cuộc tạo sơn hồi cuối niên kỷ

a lại là giấc mộng nửa chừng

hình như ai đó đứng nơi đỉnh đồi thốt lên những lời bí ẩn chắc là muốn nói với ta bởi vừa thốt lên những lời bí ẩn vừa nhìn ta với ánh mắt nửa nghiêm khắc nửa bao dung ta vừa mừng vui vừa lo sợ bởi chẳng biết đó là lời nói thật hay chỉ là một ẩn dụ về cách tiếp cận thế giới

vào quãng nửa đêm ta làm con bướm rũ ướt từ ngọn núi chiêm bao vội vã bay về đậu lại nơi ngực em trong niềm hoang mang của thế kỷ

(Những khúc hát gửi lên trời, 2013)

 

NGẪU NHIÊN

 

I

tôi ngã xuống trăm năm niềm cảm xúc. về những bóng cây xà cừ. về những hàng phố cửa đóng im ỉm về đêm [buồn tẻ như sự lâu năm của ngày tháng] và về hàng thông chạy dọc theo biển [tôi không muốn có những lời giả dối về biển] ký ức thức dậy như những sự cố không thể không nhắc lại. trong ký ức tôi em như sự trở lại của mùa thu. chợt nghe lá rụng. thảng thốt một cung bậc xa vắng như bước chân ai [nơi đầu ngõ có tiếng con chim cu gù tình] những đêm trở giấc, tôi thấy em vẫn còn như buổi nguyên sơ. sự thao thức của đất. buồn. và dài lâu. niềm vui thuở trước vẫn cuộn mình trong chiếc áo chật cứng của những phong tỏa đến từ phía khác của cuộc sống.

II

tôi rã rời những ý tưởng về thế giới. những gương mặt. nỗi ám ảnh của thế kỷ. chạy dài theo những con đường dẫn về những sáng những chiều, ngổn ngang những vật thể ngôn ngữ. những cam kết. những tuyên bố. những dò xét. những hứa hẹn. những thách thức. như lục bình trôi trên sông. hay như qua cầu gió cuốn. những đại tự sự đương đại đổ. những bóng chiều nắng quái. câu thơ bình dị vội vã chạy trốn khỏi những con đường đầy xác chữ. ai đi giữa những lời lẽ u ám. những ngày tháng cuộn mình trong thứ thời khắc được đo bằng hơi thở của đất. thơ cũng đi xe cát như lũ còng xe cát. em. giờ em đang ở đâu giữa lúc thi ca hoạn nạn.

III

tôi khắc vào gió những kỷ niệm đã thành hình thù, vốn là tiếng biển vỗ vào một đêm tháng ba hóa thân thành câu chuyện cổ tích. những năm tháng ngự trị bởi sự quá trớn của lịch sử. sự khẳng định quá trớn. sự phủ định quá trớn. sự khẳng định phủ định cũng quá trớn. những ngu xuẩn của con người rắc đầy những nẻo đường dẫn vào những ngõ ngách cuộc sống. khởi thủy của ngu xuẩn là lời. những từ chương màu khói bụi dấy lên nhiều như lá mùa thu. im bặt nụ cười hoa trái. im bặt tiếng hát trăng sao [chỉ còn nghe thấy những lời thì thầm của những kẻ đã ra đi tự nghìn năm trước] em đi giữa những trích dẫn đầy vẻ thách thức. đốt cháy những lâu đài thành quách ngàn xưa. ngơ ngác những ngọn khói cất lên từ quá khứ. đêm mùa thu mệt nhoài. mộng mị. gió. và những khúc quanh. dường như không còn ngả khác. buổi chiều tháng chạp em thử đưa tay gõ vào thời gian.

IV.

thảng thốt một khúc hát. có ai đang đi phía bên kia bầu trời nhiều mây chăng. sự tưởng tượng của tôi bao giờ cũng rối rắm. lãng đãng nghìn trước. nghìn sau. bạc mệnh một bước nhảy. thời gian vẫn nói với tôi rằng thế giới vẫn như bài du ca của người lữ khách,

 

bước nhảy vọt của năm tháng làm chùn bước những vì sao. lung linh. thời khắc. con ốc nằm nơi khe suối. thăm thẳm bầu trời. những bóng hình. ảo ảnh. sự nhảy vọt của cuộc tiến hóa vẫn mang trong mình những nhầm lẫn. giữa bài ca và niềm cô độc. giữa niềm cô độc và tham muốn. ngự trên nỗi buồn mùa thu là nước mắt của lá. của hoa. của tiếc nuối. chiều tháng tám, mùa thu, lữ khách nói với cuộc đời rằng, chẳng bao giờ dứt những ngày tháng không tên.  

V.

tôi chạm vào ký ức của đất. vang lên bao nhiêu hình thù. đam mê. và những ẩn ức luôn ẩn mình đằng sau những va chạm. đất. như nơi náu mình của thời khắc. mùa thu trôi đi giữa màu xám cây cỏ [một trong muôn nghìn hình dạng của nơi chốn] và sự luyến nhớ của những chiếc lá [thứ thời khắc tự thu nhỏ] là luôn diễn ra giữa lúc có sự chuyển đổi cung bậc của đất. tôi chạm vào sự ký thác của thời gian. em đi. những kỷ niệm trương nở theo mùa. tôi dấu trong tôi niềm âu yếm. chạy dài theo những con đường trên mặt đất là những nghĩ ngợi. niềm thao thức. cháy những tháng ngày mong mỏi. tôi chạm vào ký ức của đất. em có chờ tôi ở cuối những khoảnh khắc. cuối cùng.

VI.

trong ký ức của gió tôi nhìn thấy em. thoắt một dáng hình. cuộc hải hồ có cả những cung bậc sang trọng lẫn những ngọn sóng bạc đầu. tôi dong ruổi trong những tháng năm không có em. dẫm lên rối rắm. những con đường đầy xác rối rắm [những giọng điệu va đập nhau chí mạng, những tham vọng bất kể ngày đêm, và khi những chiều hôm buông xuống thì lữ khách lại uống cho say mềm để lăn ra ngủ giữa rối rắm] những tháng năm dong ruổi không có em. tôi nương vào ký ức của gió. để nhìn thấy tiếng thì thầm của những đêm có tiếng con chim bay lạc trên bầu trời lơ đãng. để nhìn thấy giọng nói đã lâu [tự hôm em nói như thét vào những kẻ ngông cuồng của thế kỷ rằng không thể để cho lũ chim không còn bầu trời bay lượn] giọng nói đã lâu nhưng cứ nghe như lúc nãy. tôi vẫn nương tựa vào ký ức của gió. để nhìn thấy những ngôi sao vừa mới sinh ra đã rụng xuống những khoảnh khắc có tiếng gào của những kẻ vừa bị xua đuổivào chốn man rợ. gió. và những dấu tích của thời gian.

VII.

bỗng tôi nghe thấy những lời khúc chiết cất lên từ trang sách cổ xưa. người gánh định mệnh đi giữa cỏ hoa…

 

này, ta nói các người biết, mặt đất không phải nơi chốn dễ đi lại. một chút hương sắc đất trời. sự quyến rũ. đằng sau hương sắc bao giờ cũng ẩn tàng quyến rũ. hương sắc, nó là bộ dạng của chữ nghĩa được nối kết thành lời nhảy múa trên nỗi thèm khát điên cuồng về những thứ chẳng thể có hay không bao giờ có [những đại tự sự bao giờ cũng nuôi dưỡng những con đường, đi về đâu là sự khắc nghiệt nhất trong những khắc nghiệt luôn chi phối tồn sinh], hương sắc, nó là bộ dạng của cuồng nhiệt âm thầm lay động tồn tại. cuống quít đuổi theo những bóng hình cư trú đằng sau những khuôn mặt lý tưởng. chẳng kịp hay cũng chẳng cần nghĩ ngợi [có thể là một đoạn đời có thể là cả một cuộc đời đeo đuổi, bất chấp cái chết]. căm phẫn và tán tụng. những hình thái cuồng nhiệt đổ xuống cuộc vận động bất tận. nghịch lý luôn cư trú trong nghĩ ngợi.

người gánh định mệnh đi giữa phù vân

VIII.

ở phía bờ bên kia có kẻ đi nhặt những lãng quên còn sót lại sau cuộc hải hồ. lãng đãng giữa những điều có thể và không thể. và những đêm. những ngôi sao vẫn rụng xuống các số phận. sự khiếm khuyết. đen tối. những cách thức làm tiêu vong tồn tại. cho đến một ngày chẳng ai còn nhớ có một ngày có sự tồn tại của sự vật nào đó. lãng quên tựa dấu vết không thể không có của cuộc hải hồ. và những ngày. vẫn nhìn thấy mặt trời. vẫn những lời chúc tụng của lũ chim nghe thấy được vào buổi sớm mai. vẫn cứ đi lại nơi mặt đất một cách nhiệt tình của lũ thú hai chân bốn chân. vẫn cứ cuồng nhiệt đam mê phía trước. của một ngày. một tháng. một năm. và những thiên niên kỷ. nỗi ám ảnh dài lâu và tàn nhẫn. rồi hết thảy cứ lũ lượt biến khỏi trí nhớ nhân gian. ở phía bờ bên kia có kẻ không vui khi nhặt được lãng quên

IX.

đằng sau vẻ tráng lệ của thế giới là những chông chênh hiểm trở. tôi mệt nhoài trong cuộc chạy trốn sự cạn kiệt lòng trắc ẩn. cháy những niềm mơ ước. những con đường dẫn về nơi có nhiều ánh mặt trời dường như tắc nghẽn. tôi nhìn thấy những ngày những đêm trườn đi trên nỗi âu lo. người chép việc thiên niên kỷ cứ gào lên. hỡi cỏ hoa yêu dấu, dẫu thiếu ánh mặt trời thì cũng phải vươn lên như một nỗ lực của tồn sinh. bởi thiếu cỏ hoa mặt đất trở nên lạnh lẽo u buồn. cỏ hoa như sự kết tập cuối cùng những nghĩ ngợi về vẻ đẹp tàng ẩn đằng sau những lộng lẫy kiêu sa. như niềm bí ẩn dài lâu nhưng lại là hiện hữu của tồn tại. người ghi chép hiện hữu của tồn tại cứ gào lên. vang động những tháng năm cũ. hỡi quá khứ u ám hãy trút bỏ gương mặt tàn nhẫn trút bỏ những mưu toan bởi quá khứ không qui định được hiện tại và tương lai nhưng lại để lại những âm vang như những khúc cầm ca làm mủi lòng những kẻ đến sau, hoặc cũng có thể như một thứ tà thuyết lung lạc hậu thế. người ghi chép việc quá khứ cứ gào lên. vang động thế giới. hỡi những con đường dẫn về phía trước hãy dẹp bỏ những gập ghềnh trắc trở trả lại bằng phẳng cho sự bằng yên của cõi con người. tồn sinh là gì nhỉ? trong cuộc chạy trốn sự cạn kiệt lòng trắc ẩn tôi luôn tự hỏi mình

X.

thế giới nhiều khi phức tạp đến khó hiểu. cứ mỗi sáng nhìn thấy bầu trời mỗi khác. nghe tiếng con chim cu gù tình mỗi khác. cách con người trên mặt đất cư xử nhau mỗi khác. dường gương mặt thế giới là luôn biến đổi theo những nhịp điệu bất trắc. đảo lộn những nghĩ ngợi. trắng những ngày những đêm vô vọng về niềm vĩnh cửu. mùa thu chưa đến nhưng những chiếc lá trên cành bắt đầu thấy buồn khi mỗi sáng mỗi chiều những đám mây xám thấp cứ kéo qua lại trên bầu trời. tôi đi khi lũ dế bắt đầu hát khúc giao mùa. thấm đẫm âm vang bất trắc. dường phía bên kia biên giới của thực và mộng ai đó đang hát về nỗi bất trắc,

 

những dòng sông mùa hạ rơi vào cơn mơ. chảy xiết. ai tắm trên đồi cao. giữa ngỡ ngàng con nước. bão tố lay động sự bền vững của mùa. lay động niềm tin của lũ chim. lay động những ảo ảnh vẫn ẩn nấp đằng sau niềm mơ ước. đá bỗng cất lời thở than sau nghìn năm lặng thinh.  

XI.

em lại chạm vào nghĩ ngợi trong tôi. ngôn ngữ khi trở thành biểu tượng tình yêu như cơn giông tháng tám đánh động cả trí tuệ của yên phận vốn là thuộc tính của những chiếc lá mùa thu [sự trở dậy của tồn tại] tôi và em những sinh thể nhỏ nhoi lạc vào nhau vào một ngày mọi thứ như đang cũ đi. những mảnh hồn thương tích rơi rớt sau bao đam mê nhỏ bé. những háo hức vô ích mới khởi lên đã lụn tắt. buổi sáng có tiếng kêu cứu của những tham vọng đang giãy chết. buổi tối lũ côn trùng vô danh bắt đầu lớn tiếng với nhân gian. em đi giữa những ngày gương mặt thế giới trở nên buồn bã bởi những kẻ bảo thủ [của thời đại] cứ muốn khoác lên người chiếc mặt nạ của sự thông thái. tôi vẫn lắng nghe tôi. sông núi quyện vào niềm ấp ủ. trắng những đêm nghĩ ngợi về những con đường dài rộng và hàm chứa những yếu tố mới. em cứ để cho niềm bất tận trở nên nội dung của trăn trở.

XII.

không còn nghe thấy những khúc hát vui nơi những ngọn gió thổi về khi đêm chưa hết. hoa trái buổi chiều hôm khao khát niềm âu yếm của lũ ong hút mật về muộn. hằng đêm tôi vẫn nhìn thấy em ném những ý tưởng cô độc lên bầu trời [niềm cô độc vẫn như một thuộc tính của tồn tại] chẳng lẽ thế giới là thứ lâu đài cổ kính để con người cứ chui ra chui vào những giấc mơ không có khúc cuối. tôi biết em cũng như tôi đang trong cuộc hành trình đi tìm cái có thể. em hãy cứ khóc. hãy cứ cười. khi có thể

XIII.

ở cuối cuộc luân hồi xe mặt trời chở em đến gặp tôi. một chiều lá rụng trên sông. con sông vừa mới hình thành nơi mặt đất. có tiếng khóc ai còn sót lại đâu đó. thảng thốt. nghìn triệu năm ly tan còn chưa đủ hay sao. em nói. và nhặt lên một mảnh phù vân còn thơm mùi nước mắt. tôi nhìn thấy dường rất nhiều người đang chen chúc nhau qua con sông định mệnh. có vẻ rất háo hức. hay là lại đang bắt đầu lại nhịp điệu trầm luân.

XIV.

bỗng, em làm cháy lên trong tôi một ngọn lửa, sáng và dịu dàng. thế giới bắt đầu trương nở. có nhiều tiếng chim hơn. có nhiều cây lá hơn, có nhiều dòng sông hơn. và có nhiều những kẻ đi về phía mặt trời mọc. và gió. lùa đi những kẽ nứt. mộng mị biệt giam vào chốn lãng quên. chẳng còn chỗ cho những mưu toan đóng băng sự thật. bỗng, em khiến cho mặt đất dưới chân tôi rộng ra. hoa trái rộng ra. niềm xúc động của đêm rộng ra. những khái niệm về thế giới rộng ra. nghìn năm trong chớp mắt

(Ngẫu nhiên, 2015)

MỘT CHÚT KÝ ỨC MÙA HÈ

 

chẳng phải chỉ có ánh nắng dịu dàng của mặt trời ban mai
với bình minh với lời chim hót em biết không
ở đó mỗi ngày sẽ còn thật nhiều những ngọn gió vô tình cùng những đám mây lang thang không bờ bến,

 

1.

sự có mặt của em trong những tháng năm ấy như một sự cố lớn lao đối với cuộc đời tôi

chẳng phải tình yêu mà là một phát hiện

tôi phát hiện ra ngọn lửa nơi người con gái như vừa bị xua đuổi khỏi cuộc sống

và em phát hiện ra ngọn lửa trong tôi

một con đường mới tinh khôi lập tức trải ra giữa niềm háo hức của hai con người nhỏ bé đang thừa hưởng thứ vóc dáng lung linh của tổ tiên truyền lại từ cuộc tiến hóa đầy hiểm nguy người ta cố làm cho tắt đi ngọn lửa trong tôi và em bởi lòng ích kỷ nhỏ nhen

nhưng đấy là chuyện khác

trên đường đi về phía trước tôi và em đã phải trải qua hết thảy những cảnh trí của cuộc sống

những bất trắc như thử thách của thế giới luôn đặt ra trước tôi và em

nhưng trước những chuyến đi bao giờ tôi cũng hôn lên mắt em như hôn lên ngọn lửa biết nhìn,

 

2.

và tôi vẫn cứ thủng thẳng bước đi trên mảnh đất quê em với những ý nghĩ mang hình thù sự hàm ơn về một thế giới rộng lớn sung mãn và chu đáo đến tận kẽ tóc, chẳng có gì là không có trong cái thế giới rộng lớn tôi vẫn hàm ơn, trong những bước chân chiều buồn cô độc tôi bỗng nhận ra những hòn sỏi dưới chân mình, những hòn sỏi có từ bao giờ tôi không biết, nhưng tôi biết những hòn sỏi nằm trên con đường vào làng, con đường dẫn đến mảnh đất có nhau rốn của tôi cha tôi đã chôn ở đó ngay từ lúc mẹ tôi để cho tôi được có mặt ở cái thế giới rộng lớn sung mãn và chu đáo, ở trong làng, buổi sớm, nghe lũ bò ù đòi gặm cỏ, nghe lũ gà con chiu chít kêu mẹ, tôi cứ giật mình nghĩ đến cách thức tồn tại của cái thế giới rộng lớn sung mãn và chu đáo, và tôi vẫn cứ thủng thẳng bước đi trên mảnh đất quê em với những ý nghĩ mang hình thù về sự luyến tiếc, tôi luyến tiếc một mùa thu tĩnh lặng, luyến tiếc một mùa xuân thơm mùi hoa trái, ai xé nát một mùa thu tĩnh lặng, làm tan nát một mảnh trời xuân, sự lỡ tay của con người làm hỏng cả những nét đẹp vốn có của đất trời, những biến cố mùa thu, biến cố mùa xuân, những biến cố mang những tên gọi vang động đất trời tưởng chừng

sẽ làm nên những sự tích lẫy lừng, sự lỡ tay của con người như những giọt nước mắt lẽ ra chẳng nên chảy xuống cái thế giới rộng lớn sung mãn và chu đáo, tôi vẫn bước đi trên mảnh đất quê em với những niềm luyến tiếc khôn nguôi, sao lại có những nghĩ ngợi không mấy tốt đẹp như những hạt sạn lẫn vào dòng nghĩ ngợi như con suối mùa xuân trong suốt của loài giống con người, sao lại có thứ triết học như một thứ hạ tiện xen vào dòng minh triết con người gầy dựng được trong suốt cuộc trường kỳ tiến hóa,

(Người gieo hạt, 1998-2015)

 

BIẾN TẤU

 

cũng như hoa cỏ mùa xuân, hay tiếng chim hót trên rừng, tình yêu của chúng tôi nó là dấu tích, một biểu hiện khác của tạo tác, bởi chúng ta chẳng đời nào nhìn thấy được tạo tác

 

tôi cột ngựa ở ven đường, đi về phía những đám mây màu hoa tường vi, dường ở đó có người con gái đang học nói thứ tiếng nói của miền đất sinh ra mình, tôi nghe những lời những tiếng những trần tình tha thiết đang thốt lên giữa những ẩn ức phù sa, con dế hát, bài hát về buổi sáng có người con gái bước vào làng tôi với dáng rụt rè,

chỗ bắt đầu cho cuộc tình của chúng tôi là những lời, dấu tích của trời đất vô cùng, những lời đã được viết ra tự buổi con người nghĩ ra cách khiến cho trời đất có thể để lại dấu tích, tình yêu của chúng tôi là dấu tích, dấu tích bắt đầu cho dấu tích, em, mưa nắng giông bão không hề báo trước, những lời những tiếng được thốt ra giữa giông bão và mưa nắng khôn lường, em, chín cõi đi về thấy con nước màu đỏ cuốn theo những xác lá rừng thì biết là đang đứng giữa phù vân, tình yêu của chúng tôi bắt đầu từ những lời những tiếng thốt ra giữa cuộc phù vân,

có người con gái ẩn trong dáng vẻ hoa tường vi một thời làm xáo trộn những nghĩ ngợi của tôi, em là hoa là trái nơi khu vườn có loài sóc ăn đêm, hay là sự tích trích từ những cuộc nhảy múa điên cuồng của những đám sao trời buổi hồng hoang, hay là

sứ giả của những đám mây mùa đông được cử xuống trần thế rao giảng về nỗi buồn của những cơn mưa tháng chín, nhưng dẫu em chỉ là người con gái lạc đường vào làng tôi, thì tôi cũng chẳng thể nào quên buổi sáng em đứng trước nhà tôi, em nói em đang đọc những mảnh nhật ký tôi treo ở hiên nhà, em nói em biết tôi viết cho ai, tình yêu của chúng tôi cũng ngẫu nhiên như bao nhiêu ngẫu nhiên trong trời đất, nhưng dẫu là ngẫu nhiên, thì những gì chúng tôi dành cho nhau lại là tất nhiên của một cuộc tình, dẫu là ngẫu nhiên, nhưng mỗi khi tôi hôn em qua cõi đất trời rộng lớn, em nói em cảm thấu hết những nỗi niềm tôi dành cho em,

tôi cột ngựa ven đường, đi về phía nỗi nhớ của em, con đường như dài ra, tôi thấy trong nỗi nhớ của em có cả tôi có cả con đường đang dài ra, trong khi tôi nghĩ về em, tôi biết, lũ chim đang rủ nhau về phương nam, nơi có những khu vườn những người giữ vườn rất yêu quí các loài chim, còn lũ trẻ trong làng thì đang nghĩ về bầu trời có những đám mây hình ngựa chạy, tôi thấy thế giới bỗng trở nên sáng sủa lạ thường, như chẳng còn

nhìn thấy bóng dáng kẻ vẫn âm mưu ám hại những cuộc tình, tôi cột ngựa ven đường, đi về phía có em đang đợi tôi, tôi thấy trong nỗi chờ đợi của em có cả những ý nghĩ của biển, sóng vẫn vỗ vào bờ nỗi nhớ khôn nguôi, tôi và em, những vật thể nhỏ nhoi trong trời đất cũng thấy trong lòng nỗi nhớ khôn nguôi của biển,

tôi không thể không nghĩ về em,

và cứ mỗi sáng tôi và em lại nhìn nhau một chút trò chuyện về một thứ gì đó về thế giới

để cho mối non nước lận đận u hoài ngấm vào tôi và em cứ thế

ngọn lửa nguyên sơ trong tôi và em vẫn bùng cháy giữa một thế giới lạnh lùng và tàn nhẫn

a

tôi đã nghe thấy tiếng dế hát vọng lại tự phía đầu kia mặt đất tự phía có em

và em bảo tôi hãy thắp nến lên

để em xua đuổi những bóng tối ra khỏi thế giới một cuộc tình kỳ dị

cả cây cối trong vườn cả lũ chim chóc đậu trên những cây cối trong vườn đều nói về cuộc tình của tôi và em như thế

tôi nói với lũ chúng rằng

phải có những cuộc tình như thế mới mong làm lành lại những vết thương của thế giới

tôi biết có lúc em cố trốn khỏi một cuộc tình kỳ dị để ở lại với những hiện thực trần thế như bao cô gái khác nơi mặt đất

em cố trốn khỏi tôi

cũng như tôi cố trốn khỏi em

 

nhưng tôi và em đã không cưỡng nổi một cuộc tình làm cháy lên trong tôi và em ngọn lửa tạo tác

có vẻ như tôi và em đã là đôi uyên ương tự buổi nguyên sơ hôm nhận ra nhau chúng ta đã ôm nhau khóc giữa niềm kinh ngạc của thế giới

có vẻ như ai đó đã bịa ra câu chuyện của tôi và em để làm mủi lòng một thế giới đang khô cạn niềm trắc ẩn

a

lại có ai đang gọi tôi và em ở phía bên kia rặng núi có những đám cháy vừa mới được cơn mưa đầu mùa dập tắt

thì ra là bọn họ muốn rủ rê tôi và em tham gia cuộc thánh chiến bọn họ vừa mới phát động

nhưng tôi phải nói cho bọn họ biết rằng

em còn đang mệt nhoài vì cuộc chạy trốn một cuộc tình kỳ dị còn tôi thì đang sửa sang lại nơi trú ngụ cho những cảm xúc trần thế

cứ thế, trôi giữa trăng sao một cuộc tình ngoại lệ ngoại lệ cả cách thức bắt đầu

và ngoại lệ cả cách thức đến với nhau

như ký ức loài giống mách bảo với chúng tôi rằng

ngay tự thuở trăng sao còn lẫn lộn tôi và em đã là một chửa được là hạt bụi nguyên sơ

tôi và em chỉ là mỗi mảnh phù vân giữa mê cung cuộc chơi của tạo tác

sao lại không tan đi giữa dòng càn khôn nước biếc, em nhỉ… ngày xưa… ngày xưa… ai còn nhớ mỗi mảnh phù vân trôi giữa

 

âm vang vô định

hôm gặp nhau dưới vòm trời đương đại rắc rối nhiêu khê tôi đã lập tức nhận ra em

cứ thế

trôi giữa trăng sao một cuộc tình ngoại lệ ngoại lệ cả trong cách thức gọi nhau

có lần em bỏ tôi đi trần gian lạnh ngắt

để mường tượng ra những thế giới tôi gọi em

bằng im lặng

chẳng có mùa xuân mùa hạ chẳng có mùa nào cả

thế giới đang đọng lại xám ngoắc

có con chim nào đó chết trên rừng vì không chịu nổi sự im lặng có em bé nào đó chết khi mới chào đời vì không nhìn thấy thế giới như mong đợi

có những người đàn ông và những phụ nữ đi về phía những rắc rối để chết

thế giới đang đọng lại xám ngoắc

cũng chẳng phải xám ngoắc có một thứ màu nào đó sẫm hơn

đang che khuất ánh mắt em che khuất tiếng cười của em cuối cùng

 

tôi phải nói ra là tôi rất yêu em

cứ thế

trôi giữa trăng sao một cuộc tình ngoại lệ

tôi đang gào thét giữa một cuộc tình

(Dấu tích, 2014)

 

NHỮNG ĐIỀU CÒN LẠI

 

                                Hồn phách tôi nương theo em chốn ấy  

tôi nghe ký ức dày đặc những cơn mưa

 

người ta chặt bỏ cả những hàng thông từng che chở những câu chuyện không hề kết thúc của tôi và em

và con đường mới đổ ngang qua đó không hề biết ngày ấy ngày nào tôi và em cũng ngang qua đó

khi tôi đứng dưới bóng những hàng thông chờ em thì biển bắt đầu vỗ vào bờ những ngọn sóng thật êm

có khi là có mưa

những cơn mưa mùa hạ

bất chợt như cuộc gặp gỡ của chúng ta

người ta dỡ bỏ cả ngôi nhà từng che chở tôi và em trong những tháng năm những kẻ lạ mặt luôn rình rập chúng ta

tôi gom nhặt chữ nghĩa của thuở trước để kết nối cho xong bài hát buổi sáng của người gieo hạt

em ngồi chờ nghe tiếng còi chuyến tàu khuya trở về phố biển chuyến tàu ra đi từ mấy hôm trước có mang theo lời nhắn của người con gái đất phương nam lưu lạc nơi phố biển

hàng thông xưa không còn ngôi nhà xưa không còn em cũng đã ra đi

đứng nơi con đường mới đổ nhìn biển tôi nghe ký ức dày đặc những cơn mưa

 

ngày xưa ai khóc dưới bầu trời mùa thu

 

mùa thu lại làm dấy lên trong tôi những tháng năm trắc trở những tháng năm đo bằng chiều dài con đường từ nhà em đến khu rừng thông nơi tôi ngồi viết

chiều dài con đường đôi khi dài ra bởi sự ngăn trở của những thế lực đen tối đến từ phía mặt trái cuộc đời

lũ ngông cuồng của thế kỷ lâu lâu lại ném vào cuộc tìm kiếm của em những lời lẽ bất lợi hòng nhìn thấy em gục ngã trước cuộc chơi của chúng

những tháng năm gian khó của em tựa những thách thức được đặt ra từ một mệnh lệnh có tên là ngày mai

tôi cũng nắm lấy bàn tay em và nói

ngày mai tôi và em sẽ không còn nhìn thấy nơi mặt đất bóng dáng của lũ người ngông cuồng

ngày xưa… ngày xưa có ai khóc dưới bầu trời mùa thu tôi đem nước mắt dấu vào ký ức

và chờ

 

đêm không mặt trời con mắt núi nhìn bằng những ngọn gió thổi qua rừng cây

 

tôi đưa em lên rừng đi tìm những gì có thể còn tìm được làng đang ở cữ không cho con ma ngu muội trở lại

đêm tôi và em ngủ ở bờ con suối chảy sau làng tháng ba

rừng còn thơm mùi lá non

đêm không mặt trời con mắt núi nhìn bằng những ngọn gió thổi qua rừng cây

nửa khuya lũ ốc suối trèo lên bờ khơi lại chuyện cũ

 

chúng làm như tôi và em chẳng hay biết việc nghìn năm trước tổ tiên loài giống tôi sinh sau đẻ muộn

những tháng năm gian khó chắt chiu từng nơi trú ẩn trời đổ mưa lửa nắng lửa

các loài giống được sinh ra nơi mặt đất ngày nào cũng ăn nhau tổ tiên tôi trốn trong những nghĩ ngợi mang hình thù thế giới cho có ngày hôm nay

tôi và em lên rừng thức trắng đêm nơi bờ suối

 

như thể tôi phải băng qua hằng bao nhiêu thế kỷ mới đến được với em

 

và con đường buổi sáng hàng thông che nắng mặt trời em ngồi đợi tôi

rất nhiều những buổi sáng em ngồi đợi tôi nhân gian nghìn nỗi

tôi biết có kẻ băng qua những nấm mồ kẻ khác để ngược về phía những lâu đài tham muốn

đi về phía em tôi phải ngang qua những gương mặt dối trá luôn được dấu kỹ

bên trong những bó hoa sắc màu sặc sỡ trong những cuộc chúc tụng những tháng năm đến với em

tôi nghe nước mắt thấm đẫm trí nhớ

niềm khao khát của chúng ta giản đơn như tiếng chim gù nơi bờ tre đầu ngõ

cũng chỉ là cuộc tình trong trời đất

đám người đố kỵ chúng ta mùa xuân vất em ra khỏi con đường tôi phải cầu xin lòng trắc ẩn của lũ bướm ngày ngày nhường bớt cho em hương thơm tháng giêng chúng thu nhặt được trong những chuyến đi về miền hoa cỏ

thế giới là cái hỏa lò vĩ đại nung đốt cả lòng trắc ẩn lẫn đố kỵ rất nhiều những buổi sáng em ngồi đợi tôi

 

như thể tôi phải băng qua hằng bao nhiêu thế kỷ tội lỗi của con người mới đến được với em

 

em là ánh sáng ngoại lệ

 

em là ánh sáng ngoại lệ soi rọi vào tôi cho tôi nhìn thấy tôi

trong cuộc hành trình đi tìm những điều có thể tôi thấy mình trở nên mạnh mẽ hơn

lũ người có khuôn mặt không thật không còn làm gì được tôi những mưu mô đen tối của những kẻ có trái tim giả không còn làm gì được tôi

mùa đông những cơn mưa rả rích thường đem đến cho con người nỗi buồn không còn làm gì được tôi

tôi đi

cứ thấy đất nước nghìn năm trở nên mới mẻ xin chào hạt bụi

những kẻ quen biết bấy lâu vẫn gọi tôi là hạt bụi tôi nói hạt bụi bay về giữa đất nước nghìn năm ngoại lệ cả trong cách nhìn đất nước

cả trong cách nhìn chính tôi

tôi thấy mắt mình như nhìn thấu được những nghĩ ngợi thầm kín nhất của em

khi nhìn thấu được những nghĩ ngợi thầm kín nhất của em tôi thấy mình còn sáng tỏ hơn mặt trời mặt trăng

có phải em đang nghĩ về tình yêu chúng ta như sự gặp gỡ ngoại lệ

 

điệp khúc cho một đêm không ngủ

 

tôi đi giữa mông quạnh của những vì sao đêm, con tắc kè ngủ say, cây vông đồng không biết con tắc kè ngủ dưới chân mình, làng quê không biết tôi đang đi về phía có em,

 

tôi đi, làng quê đang yên giấc, khẽ dậm bàn chân xuống con đường làng, tôi hát bài hát về cây vông đồng, con tắc kè không nghe tôi hát bài hát về cây vông đồng, cũng không biết là tôi đang đi về phía có em,

 

đồng làng lúa đang ngậm sữa, tôi đi, đất nước những nghìn năm lúa đồng làng ngậm sữa, lũ dế trên đồng làng biết lúc nào im lúc nào thì ca hát, bờ cỏ đồng làng dài theo đất nước nghìn năm, một sớm em về, đi trên bờ cỏ, tôi lấy nón cho em che nắng, lúa đồng làng ngậm sữa nhớ hoài buổi em đi trên bờ cỏ,

 

đêm tháng ba, tôi đi, con đường làng không nói gì, khiến tôi nhớ buổi em đến làng tôi, cũng buổi tháng ba, cây vông đồng đang ra bông, đêm, con tắc kè trú ở bộng cây vông đồng kêu váng đồng làng, tôi nói với em là con tắc kè đang đọc những trang sử về nòi giống chúng, em chỉ nghe tôi nói, lặng lẽ nhìn tiếng tắc kè kêu trong đêm,

 

tôi đi giữa đất nước nghìn năm, bồi hồi ngọn gió khuya, đêm nay con tắc kè không kêu váng đồng làng như hôm em đến, tôi thấy nhớ ánh mắt lặng lẽ của em,

 

suốt cả đêm, tôi đi, những vì sao trên trời chăm chú nhìn tôi, như có tiếng chân ngựa chạy đằng sau những đám mây trên bầu trời trên đầu, thấy có xe tứ mã, tôi lơ mơ nhận ra một cuộc tình, suốt cả đêm, tôi đi, vẫn chưa ra khỏi đồng làng,

 

tôi nhìn thấy vết xước nơi trái tim em

 

và dấu chân em như vẫn còn nguyên bên dưới những hàng cây xà cừ, những con đường ngang qua cuộc đời một người như

 

những phác thảo tăm tối và rối rắm, những ngày chạy trốn sự ngu tối của con người em đã băng qua những con đường cũ kỹ ẩn mình bên dưới những hàng cây xà cừ vòm lá thâm u ẩn mật, những ngộ nhận của thế kỷ chỉ làm chậm đi cuộc tiến hóa của loài giống, có những đêm tôi một mình lặn lội đi tìm một sự trợ giúp nào đó đến từ phía thuở trước, chẳng hạn một vị thần cổ đại hảo tâm nào đó chịu bước vào chốn đương đại, hay là có một thứ phép màu thuộc những năng lực của buổi hỗn mang có thể xua tan được ngu tối của con người, nhưng tất cả những điều tôi mong ước lại thuộc về thứ cảm thức giả định có tên

là thế giới ảo ảnh, tôi lo em không vượt qua được những năm tháng khó khăn, nhưng vào một đêm tháng ba có tiếng sóng biển vỗ vào rừng thông, em đã đến gõ cửa nhà tôi, nụ cười thật tươi trên môi em thay cho lời giải thích là em vẫn bình yên, em vừa mới vượt qua được những chặng đường tăm tối, vẫn tiếp tục cuộc hành trình, em nói, vẫn giữ nụ cười thật tươi trên môi, nhưng tôi lại nhận ra có sự bất thường nào đó đã xảy ra với em, tôi áp tai lên ngực em, nghe thử, thì nhìn thấy có vết xước nơi trái tim em

(Người gieo hạt, 1998-2015)

KHÔNG HỀ CẠN KIỆT PHÙ SA

 

Cuộc hành trình của tôi bắt đầu vào
một ngày có quá nhiều tiếng hát của đất

 

trên con đường du hành qua miền đất chôn nhau cắt rốn của mình

 

trên con đường du hành qua miền đất chôn nhau cắt rốn của mình tôi chẳng bao giờ cô độc

xin chào

những người tôi gặp bao giờ cũng cất cao lời chào thân thiện có kẻ đi chân đất

đang lùa bò qua phía bên kia đồng lúa đang trổ có kẻ đang cai quản lũ cừu mẹ và lũ cừu con xin chào…

trông thấy tôi

người chăn cừu cất cao lời chào

còn lũ cừu thì hết thảy ngẩng mõm lên là chúng đang nói theo cách của chúng

nhưng tôi thì tôi cho là chúng đang nói về tôi vào một ngày mặt trời mặt trăng vẫn xoay như cũ tôi đã gặp kẻ tự xưng là đến từ đầu kia của lịch sử xin chào

giọng nói của kẻ ấy tựa thứ âm vang xưa cũ

ta và các loài cây hiển hoa cùng lúc có mặt ở trần gian này, có nghĩa, các loài hoa đã hun đúc nên sự cao cả của tổ tiên con người, nhưng không phải hoa chỉ để nuôi dưỡng con người đang trò chuyện, tôi bỗng thấy kẻ ấy mình đầy máu me

đừng sợ

 

giọng nói của kẻ ấy như có vẻ mới hơn trước

ta và bọn chúng vừa mới giao chiến xong, có nghĩa chiến tranh bộ tộc đã xảy ra, nhưng chẳng phải chỉ xảy một lần rồi thôi đang trò chuyện, tôi bỗng thấy kẻ ấy có vẻ giống như kẻ hát rong trong

các ca khúc của các nền văn minh xưa cũ thời gian làm ra ta, và ta thì đang hát về nó kẻ ấy nói

hát như thế nào tôi hỏi

lúc vui thì làm ra một vì vua, lúc buồn thì làm ra những loài chim rừng biết hót, nhưng sau khi đã có vua và có lũ chim rừng thì ta cũng chẳng biết làm gì nữa

kẻ ấy nói

 

và bây giờ thì trong những bài ca của đất

 

thưa, các vị là ai tôi hỏi

nhưng những người trở lại từ những trăm năm trước bảo tôi hãy im

để nghe một điệp khúc về mùa thu

bấy giờ thì trong những bài ca của đất dường có lời từ chối sự vĩnh hằng

bầu trời mùa thu cùng những tích tụ hương thơm các cuộc triển nở của các vì sao chẳng phải dành riêng cho đất hay sao

một con dế trong đám dế đang làm cuộc phiêu lưu hỏi lại vang lên những khúc ca có lẫn những hạt bụi

chảy cả những dòng sông, chảy cả những trang cổ thư chép về những dòng sông, nghìn thu nhỏ hơn chớp mắt, ai gọi đò ở phía bên kia

hát về mùa thu mà sao như hát về cuộc tồn tại

 

một con dế khác trong đám dế đang làm cuộc phiêu lưu hỏi lại vang lên những khúc ca có lẫn những âm tiết đen

bướm hoa

với các cách thức gãy

vỡ rụng

gió xám ngắt phơi ngọn lá, và những giọt sương nhiểu về tự những tháng năm cũ

làm sao mùa thu lại mang âm vang của chết

một con dế khác trong đám dế đang làm cuộc phiêu lưu hỏi lại vang lên những khúc ca có lẫn tiếng cười của đất

a máu

ta cưu mang muôn loài

cưu mang cả sự sống lẫn sự chết

và máu chỉ là những gì còn sót lại sau khi chúng dùng đồng loại mình làm thức ăn…

nhưng, các vị là ai tôi hỏi

những người trở lại từ những trăm năm trước bảo

khi nhắc lại điệp khúc mùa thu thì thấy như mới làm ra đâu hôm qua.

(Cổ tích của đất, 2014)

 

TA VẪN LÀ HẠT BỤI

 

Nguyên sơ chẳng muốn để cho mình trở nên hoen ố giữa
cuộc đọ sức sinh tử giữa bóng tối và minh triết.

 

ta vẫn cố làm cho em hiểu ta là hạt bụi

 

từ làng Cù ra đi ta chỉ là hạt bụi nhỏ nhoi, nhưng trong tâm tưởng em ta không phải hạt bụi, trong tâm tưởng em ta là người đã đặt vào đôi mắt em viễn cảnh của tình yêu, từ ngôi làng quê nhỏ bé của mình, ta đã ngang qua những lâu đài của lũ ếch nhái tổ tiên chúng đã dựng lên tự buổi rứt ruột ra khỏi biển khơi, những lâu đài được làm bằng lòng nhẫn nại lấy từ những ước muốn dai dẳng, vào những lúc có cơn mưa bất chợt, nghe ếch nhái hát ca ta cứ thấy nhớ tiếng hát của em, là em hát về viễn cảnh của tình yêu, còn lũ ếch nhái là hát về niềm hoài nghi thuở rứt ruột ra đi, là vẫn muốn trườn lên nơi mặt đất nhưng là vẫn chẳng tin, hay đúng hơn là vẫn chưa tin chốn xa lạ là mặt đất này sẽ mang lại niềm vui cho loài giống của chúng, ta là hạt bụi nhỏ nhoi trong trời đất nên ta vẫn luôn mang trong mình niềm hoài nghi như niềm hoài nghi của tổ tiên lũ ếch nhái, từ làng quê nhỏ bé ra đi, ta đã ngang qua ngôi làng của lũ ong hút mật được dựng lên ở bên dưới những tán lá nơi khu rừng ấy, trù phú như được trợ giúp từ hào phóng của núi rừng, cửa ngõ và những con đường mở ra dưới vòm cây lá là luôn được làm cho mới ra bởi lá cây rừng là luôn thay đổi sắc màu, xin chào hạt bụi, lũ ong đi lấy mật cất tiếng khi trông thấy ta say mê nhìn những ngôi nhà được kiến trúc theo phong cách như đùa như thật của loài ong, những ngôi nhà có vẻ như đang gá lên những cành cây của rừng nhưng thật ra đấy là thứ công trình rút ruột nhả tơ, chính là lũ ong hút mật đã từng ngày đặt từng chút từng chút sức lực lên cành cây, sự kết họp của cẩn trọng và niềm cảm hứng vô bờ bến được truyền lại từ những tổ tiên xa xưa của chúng, ta đi, và mang theo niềm kính phục, những con vật biết tạo dựng cho loài giống mình một thứ sắc thái, một cõi tồn sinh, ta đi, và một hôm bỗng muốn quay lại để hỏi lũ ong cho rõ cái cách tạo dựng niềm tin cho loài giống, vào một sáng mùa thu ta quay lại khu rừng ấy, thì ngôi làng tấp nập lũ ong ấy không còn, xin chào hạt bụi, ta nghe có tiếng một con ong cất lên đâu đó, mật đã bị con người lấy sạch, và trước khi đi bọn họ đã đốt cháy những ngôi nhà giết hết lũ ong trong làng, hình như đấy là ong chúa, ta như nghe thấy niềm kinh hãi trong thứ giọng nói yếu ớt của vị trưởng làng của loài ong, cứ muốn hỏi có phải là đã trải qua cuộc tử chiến với con người và còn sống sót hay không, nhưng chưa kịp hỏi thì ong đã chết, từ ngôi làng nhỏ bé ra đi, ta vẫn muốn em gọi ta là hạt bụi, ta muốn nói với em ta chỉ là hạt bụi, ta chỉ là hạt bụi nhỏ nhoi trong trời đất nên ta vẫn mang theo trong mình niềm kinh hãi loài ong đã truyền sang hôm nào…

 

thì ta vẫn là hạt bụi của đời em

 

nhưng có một hôm em gọi ta là hạt bụi, xin chào hạt bụi của em, vào cái hôm em đem thứ hạt bụi nhỏ nhoi là ta gắn vào cuộc đời em, thì ta trông thấy thế giới như đang nổ tung lên, lả tả những mảnh trần gian, biển lớn vỡ ra, những dòng sông lớn vỡ ra, lềnh bềnh xác của đủ loại người, những kẻ hung hăng, giả dối, những nhà chính trị mặc áo giấy, những vị thầy cãi bọt mép còn khô đọng trên môi, những vị thuyết pháp túi còn đầy ắp những kinh điển, những nhà trị nước, thông thái có không thông thái có, nhưng khi chết đều nghe toát ra từ thân thể họ mùi vàng và mùi đàn bà, xác người và các thứ rác rưởi là đang bị cuốn đi, những dòng nước là đang cuồn cuộn cuốn đi, xin cho chúng tôi một thế giới khác, ta nghe đâu đó như vang lên tiếng gào của những kẻ còn sống, và lạ thay, vào lúc ta nhìn vào đôi mắt em, một thế giới hoàn toàn mới mẻ là đang hiện ra trong ánh mắt lúc nào cũng ánh lên thứ màu đen kỳ diệu, lộng lẫy huy hoàng là đang bày ra trên khắp mặt đất, người ta đang hôn nhau ở trên ruộng đồng, hôn nhau ở trên đường phố, hôn nhau ở trên núi đồi, những bài hát ngợi ca về tình yêu là đang vang lên khắp nơi, em sẽ chờ anh cho đến cuối thế kỷ, không phải chỉ có thế, người ta còn cam kết về một thứ tình yêu lớn hơn, tình yêu đồng loại, và, bỗng như một cú huých vào nhận thức của ta, em kêu là vừa nhìn thấy như có một cuộc chiến nào đó đang diễn ra, lập tức ta nhìn thấy một thứ mặt đất lở lói đang bày ra ở bên ngoài mắt em, có mùi xác người thoảng lên đâu đó, hậu quả của một cuộc chiến nào đó chẳng rõ, quạ từng lũ sà xuống mặt đất, đánh thẳng cơ quan đầu não, những người trông coi nghĩa địa vừa gào to, vừa giơ cuốc dọa lũ chim xâm lược, và, ở cuối con đường trước mắt dường đang có cuộc đuổi bắt ai đó, là lũ con nhà ai đang chơi trò trốn tìm, em nói, nhưng không phải, thì ra là người ta đang đuổi bắt những kẻ đánh cắp tự do, hãy bắt lấy nó, là tiếng gào của một ông lão, ông lão thì vừa chạy vừa gào vừa vấp ngã, và cái đám người đánh cắp tự do ta không nhìn rõ mặt, nhưng là đông lắm, chúng vừa chạy vừa cười khúc khích, có tiếng dế hát, giữa lúc ấy thì cuộc đuổi bắt đương đại lại làm em nhớ về thời tuổi thơ của ta và em, em kêu là vừa nghe thấy tiếng dế hát, phải, là có tiếng dế hát, ta nói là mình cũng nghe có tiếng dế hát, nhưng ông lão, sau khi không đuổi kịp bọn kẻ cắp, đã hối ta và em hãy mau đi đi, hãy mau đi khỏi cái thế kỷ nhiễu nhương này đi, ông lão hối, nhưng khi ông lão đã đi khuất em nói với ta dù gì thì chúng ta cũng đã nghe được tiếng dế của tuổi thơ.

 

những lời thành thật của loài giống

 

ta cứ muốn cắn vào trái tim em cho em tắt thở để em vĩnh viễn thuộc về ta,

nhưng em bảo đôi môi em là nơi đã thốt ra những ngôn ngữ của tình yêu,

không có lời dịu dàng nào là không được nói ra từ đó, cháy bỏng những chiều thu tắt nắng,

em nói khi nghe thấy những bước chân luyến tiếc của ngày thì đôi môi em mấp máy gọi tên của người em yêu,

đêm đã xuống rồi đấy, và có phải bóng tối là đang cố ngăn cách tình yêu chúng ta,

em nói khi bóng đêm đổ xuống thì năm tháng như thừa cơ đêm tối để đánh lừa những kẻ cả tin,

chớ hoài công đi tìm những gì mong ước,

chúng nó, thứ dòng sông có tên là năm tháng cứ gào lên thế,

và bấy giờ thì đôi môi em lại mấp máy gọi tên của người mình yêu, em nói khi đêm xuống thì dòng sông năm tháng ấy tựa hồ một lão già khó tính cứ gõ lên ý nghĩ của em,

này, con người chẳng thể trường tồn mãi với thời gian, hãy liệu thu xếp công việc cho xong trong ngày,

cái lão già khó tính cứ đưa bàn tay sần sùi vẫy về phía trước, như thể để gọi ai đó hãy đến đưa em đi,

vào những lúc ấy thì những lời kêu cứu bật thốt trên môi em, kêu cứu sự trợ giúp của ký ức loài giống,

vào một đêm mùa thu, khi bóng tối đã trùm xuống thế gian, thay vì cắn vào trái tim em, ta cắn vào đôi môi thầm lặng của em, và nghe thấy những tiếng nói thốt ra từ trong thẳm sâu của cuộc trường tồn.

 

ai đi giữa tro than của năm tháng, đi giữa cuộc tử chiến, mười phần thắng là thuộc về bóng tối,

 

vừa bước ra khỏi cái nôi của tồn tại là lập tức rơi vào cuộc tử chiến, lửa,

nước,

và những lời thách đấu,

cuộc va chạm giữa những thế lực vốn được sinh ra ở chỗ cuối con đường, hư vô chợt rơi vào nguy biến ở chỗ cuối con đường, từ đó là mang tai hoạ lại cho cuộc tồn sinh, không còn là trinh trắng vô ưu, không còn là uyên nguyên bất di bất dịch của thuở nguyên sơ, cái một nguyên sơ bỗng trở nên hai nửa trần gian,

con người đi giữa tro than của hai nửa trần gian, cuộc tử chiến là cuộc tử chiến của hai nửa trần gian,

đêm tối dày đặc những ngu xuẩn, những đê tiện, những tàn nhẫn, những dối trá, ai khóc vì bị lường gạt và ai chết vì sự dối trá, còn thói háo danh háo sắc thì đi lại như mắc cửi trong đêm trường tăm tối,

nguyên sơ là chẳng muốn để cho mình trở nên hoen ố giữa cuộc đọ sức sinh tử giữa bóng tối và minh triết,

nhưng con người thì vẫn kẹt giữa hai nửa trần gian cuối cùng thì thi ca đã dấy lên,

nhưng đấy cũng mới chỉ là những mảnh vụn của khôn ngoan, mà con người là cần đến những dòng chảy của cảm hứng trí tuệ.

 

phải rồi, vào cái đêm mùa thu ấy ta đã nghe được những lời thành thật của loài giống con người được nói ra từ đôi môi thầm lặng của em.

(Những bài hát rong đương đại, 2012-2017)

 

NGƯỜI BUÔN NGỰA Ở QUẢNG TRƯỜNG TAHIR

 

em biết không, người buôn ngựa ở quảng trường Tahir nói với ta rằng nội đêm mai, hoặc ông ta phải giao nộp ngựa, hoặc phải giao nộp mạng sống của mình cho bọn cướp đến từ biển Đỏ

 

ta nói từ phương đông mới đến ta cần có ngựa để đi xem cho hết những lâu đài thành quách chói lọi những buổi bình minh, dấu vết của bao nhiêu vương triều nối nhau dằng dặc trên đất nước sông Nil

 

nhưng người buôn ngựa ở quảng trường Tahir nói đám quan quân đi gom nô lệ cho các pharaon cũng cần có ngựa, đám dân đói rách đang lũ lượt kéo về quảng trường Tahir để sửa soạn cho một cuộc xóa bỏ những dơ bẩn của lịch sử cũng cần có ngựa, cả bọn cướp vàng bạc và châu báu nơi những nhà mồ của đám quí tộc lẫn bọn cướp chữ ở thư khố Alexandria cũng cần có ngựa, và chỉ nội đêm mai là ông ta phải giao nộp cho bọn cướp đến từ biển Đỏ con ngựa nòi phương đông

 

ta cũng chẳng hiểu vì sao bọn cướp đến từ biển Đỏ lại cứ nằng nặc đòi người buôn ngựa ở quảng trường Tahir phải giao nộp chúng con ngựa nòi phương đông bấy giờ cũng hiếm như chân lý những nhà thiết kế lịch sử đang tìm kiếm

 

là ta đang đi giữa quảng trường Tahir, và con ngựa nòi phương đông của ta dường cũng đang có những ý nghĩ như ta, những ý nghĩ vươn tận những ngõ ngách xưa cũ các vị thần sông Nil đã trải qua những nghìn năm trước, em biết không, con ngựa của ta là cứ chồm lên, hí, như thể đang dẫm phải dấu chân của

 

một vị thần trong một cuộc săn lùng tình nhân nào đó ở sa mạc Saqqara, và con sông Nil như thể đang tràn qua những ngõ ngách lịch sử, làm ướt đẫm những trang sử bằng đất…

 

***

 

là ta đã nhìn thấy ở miền châu thổ sông Nil bốn ngàn dinh thự, cung điện, bốn trăm rạp hát, bốn trăm nhà tắm công cộng, và sau hai mươi ba tháng bao vây, những đồ đệ của ftahomed, đám người Hồi Giáo của Arm đã hất tung những cuốn sách ở thư khố Alexandria bởi chúng là vô ích khi cuốn sách của thượng đế đã nói hết cả

 

là ta đã nhìn thấy Abu Abbass, vì vua khát máu của triều đại Abbasside, giết tám mươi thủ lĩnh của triều đại trước, triều đại Omayyade, và cho đoàn người ngựa của mình dẫm lên đất đai của những đất nước Sindh, Balouchistan, Afghanistan, Turkestan, Ba Tư, ftesopotamia, Armenie, Syrie, Palestine,

Chypre, Crete, Ai Cập, Ifrikia, ftaghreb… chẳng có thứ khí giới nào thắng nổi tiếng hô xung phong của đoàn người ngựa của ông vua khát máu, vị chúa tể đất đai của những thế kỷ văn minh Hồi Giáo tay cầm cuốn sách của thượng đế, tay cầm gươm, và để cho máu người chảy lên đất đai thân yêu của mình suốt từ sông Indus của nước Ấn Độ thân yêu cho đến sông Nil của các pharon thần thánh, và còn hơn nữa

 

là ta đã nhìn thấy hết thảy những thủ lĩnh, hết thảy những calife, những người tuân phục cuốn sách thánh của thượng đế, khi chết vì lưỡi gươm của kẻ thù, thì lập tức nơi máu chảy trở thành thánh địa, và chỗ yên nằm của thi thể thì lập tức trở thành nơi hành hương, em biết không, ta đã nhìn thấy những thánh địa như thế mọc lên trên đất nước sông Nil, và những cuộc hành hương dài hàng thế kỷ

 

là ta đã nhìn thấy vua Khumarawayh của triều đại Tunilide đã lệnh cho thần dân mình dát vàng hết thảy thành quách lâu đài nơi kinh đô Fustat, ở gần Caire, trong khi con sông Nil nổi cơn cuồng nộ phá nát hết những cánh đồng lúa những vườn nho và những mơ ước vừa mới chớm lên nơi ánh mắt của những đôi tình nhân, con cháu thân yêu của các vị thần sông Nil thân yêu

 

là ta đã nhìn thấy công chúa Asshida, con gái vua ftuizz của triều đại Fatimad, lúc chết đã để lại mười hai ngàn chiếc áo dài, với hai triệu bảy ngàn dinar, tức là tương đương với hơn mười hai triệu đồng tiền của nước ftỹ đương đại, vua khóc, thì thấy máu của người dân Ai Cập cứ ứa ra nơi khóe mắt mình

 

là ta đã nhìn thấy Salih, ông vua cuối cùng của triều đại Ayyoubite tắt thở, bà vợ góa của vua, nữ nô lệ Shajar al Durr, đã làm ngơ cho người ta ám sát con riêng của chồng, để lên ngôi nữ hoàng Ai Cập, dẫn đến việc dìm chết đức phu quân Aybad khi ông ta có ý sáng lập ra triều đại ftameluk, nhưng nữ nô lệ nữ hoàng Shajar al Durr đã bị đập chết bằng guốc, và triều đại ftameluk vẫn tồn tại suốt hai trăm sáu mươi bảy năm, kinh đô Caire nhuộm máu vì các cuộc ám sát và lật đổ, nhưng con sông Nil vẫn mang lại hoa trái cho người, và những bài hát kỳ dị về đất nước Ai Cập kỳ dị vẫn được tấu lên với ngàn cây đàn luth

 

***

 

và cái bóng của kim tư tháp Cheop ở Gizeh vẫn như bóng ma quá khứ tiếp tục ám ảnh nhân gian

 

này, ta nói cho các người biết, ta vẫn mãi mãi là đức vua thần thánh của các người, ta nghe như đang vang lên từ công trình

 

cự thạch ấy tiếng nói lẫm liệt của những con người đã tạo ra thứ quá khứ lẫm liệt của đất nước sông Nil, này, ta nói cho những kẻ mang gươm và sách của thượng đế biết, dẫu các người có đuổi các vị thần của bọn ta ra khỏi đất nước sông Nil, nhưng mãi mãi nghìn triệu năm sau, các vị thần của bọn ta vẫn mãi mãi ngự trên đầu thần thánh của các người, ta nghe như đang toát ra từ cửa miệng các vị pharaon đang nằm nghỉ nơi những kim tự tháp rêu phong lời thề ngọc bích kim cương, từ đó, đã chảy ra máu xương thảm khốc, những rạn vỡ thảm khốc của bầy đàn

 

ta biết, từ đó, cái bóng của những ngôi mộ khổng lồ của các vị pharaon vẫn đổ xuống nhân gian nỗi ám ảnh về những cách thức trần thế

 

hay đấy là sự tàn nhẫn của lịch sử, xương cốt những kẻ tạo nên dấu vết lịch sử thì vĩnh viễn trở thành cát bụi, còn dấu vết lịch sử thì vẫn lặng thinh chẳng thèm đá động đến những kẻ đã tạo ra chúng

 

hay đấy là thách thức của vĩnh hằng, khái niệm mơ hồ vẫn quyến rũ nhân gian bỗng có cơ hội để thể hiện mình, này, ta nói cho các người biết, hãy nhìn vào những khối đá khổng lồ đang câm lặng trên các sa mạc Saqqara, Gizeh, thì các người sẽ hiểu thế nào là sự vĩnh hằng

 

hay đấy là một cách phỉ báng của thời gian, này, các người chẳng bao giờ hiểu được thế nào là thời gian đâu, bởi trước mặt các người luôn bày ra cái công trình bằng đá bền chắc có vẻ như chẳng bao giờ sụp đổ

 

nhưng ta, kẻ từ phương đông mới đến, thì ta cho rằng đấy là niềm kiêu hãnh của một dân tộc, thì chẳng phải những khối đá

 

to lớn có vẻ như chẳng hề chi trước sự tàn phá của thời gian là dáng dấp nghìn năm dựng nước của một dân tộc hay sao

 

hay đấy vẫn là niềm bí ẩn của tồn tại không ngừng kích thích trí tưởng con người, này, thì các người cứ nói ra đi, ta là gì nào,

các người hãy nói ra đi, ta nghe như những nấm mồ bằng đá của các vị pharaon của các vương triều mới cũ của đất nước sông Nil đang lên tiếng thách đố chúng ta

 

***

 

và cái đám người đang tụ tập ở quảng trường Tahir dường như cũng đang bị kích động bởi những thách thức của vĩnh hằng, ta biết là bọn họ đang tìm kiếm vĩnh hằng

 

người buôn ngựa ở quảng trường Tahir cứ theo hối thúc ta nhượng lại con ngựa nòi phương đông, nhưng ta thì cần có ngựa để đi gặp những người đang tụ tập ở quảng trường Tahir, những người đang mang nặng những hờn căm, những chờ đợi, ta biết là bọn họ đang sửa soạn một cuộc tẩy rửa những dơ bẩn của lịch sử, sự tụ tập, ta biết, là đêm trước của một cuộc thanh tẩy

 

đả đảo các vị thánh thần đang mưu toan biến nhân gian thành nơi thể nghiệm của thời gian, cuộc thể nghiệm tàn nhẫn nhất trong những tàn nhẫn, đả đảo những thằng mặt đen những thằng mặt trắng những thằng mặt xanh luôn mưu toan mượn tay thần thánh để bày ra những cuộc đỏ đen luôn mang những tên gọi thiêng liêng như thể là được nói ra từ cửa miệng thần thánh, đả đảo cường quyền và bạo lực luôn lập lờ đánh lận con đen, đả đảo những giả dối, đả đảo những lừa bịp đê hèn làm hoen ố lịch sử trong sạch của con người, hoan hô lũ chim trời đang sải cánh bay trên bầu trời trong sạch, hoan hô sự tự do của

 

lũ chim trong sạch

 

những người tụ tập ở quảng trường Tahir cứ gào lên, và con ngựa nòi phương đông của ta cứ chòm lên, hí, còn ta, thì cũng muốn gào lên, hãy dẹp hết các quốc sử quán, dẹp hết các nhà chép sử, dẹp hết các nhà bình sử, bởi những người đang tụ tập ở quảng trường Tahir để sửa soạn cho cuộc tẩy rửa dơ bẩn của lịch sự là đang tổng lược lịch sử trong những lời hoan hô và đả đảo đầy tâm huyết

 

và từ trong những người đang tụ tập ở quảng trường Tahir, ta đã nhìn thấy ông lão ấy bước lên phía trước, gào, Người đang ở đâu vẫn chưa thấy đến, dường như là bọn họ đang chờ kẻ dẫn dắt cách thức tẩy rửa dơ bẩn của lịch sử, là bọn chúng tôi đang chờ, ông lão vẫn cố gào lên, và khạc ra máu, và quị xuống quảng trường, có vẻ như là dấu hiệu của vô vọng

 

***

 

và ta vội vã thúc ngựa đi về phía sa mạc Ghizeh, này, con quái vật kia, là ngươi vẫn đang tiếp tục cản trở con người, phải không, ta đang nghĩ đến kẻ dẫn dắt cuộc thanh tẩy lịch sử đang bị ai đó cản trở, và gào lên với con quái vật Sphinx

 

a ha, ta nghe con Sphinx cười thành tiếng, và bảo là sẽ mãi mãi làm kẻ tra vấn lịch sử, con Sphinx bảo là nó sinh ra không phải để cản trở mà chỉ để tra vấn con người

 

hãy dẹp đi những tra vấn cũ kỹ, ta thét, khi nghĩ đến cái cách gạn hỏi nghìn triệu năm trước của con thú đầu người mình thú, hãy dẹp hết những tra hỏi cũ rích ấy đi, ta lại thét lên

 

người buôn ngựa ở quảng trường Tahir cứ hối thúc ta nhượng lại con ngựa nòi phương phương đông của ta, nhưng ta thì đang bận tranh cãi với con quái vật đầu người mình thú

 

thần thánh chẳng làm hỏng con người, mà chỉ có con người là đang làm hỏng thần thánh, con Sphinx nói

 

nhưng là ngươi hãy nói với hết thảy các vị thánh thần rằng, chính là các vị đã để cho con người lợi dụng tên tuổi các vị tạo ra những cuộc đỏ đen làm hoen ố lịch sử con người, hãy bảo với hết thảy các vị ấy rằng hãy thôi đi việc can dự vào thời gian của con người, ta nói

 

và con Sphinx lại giận dữ hét, hãy đi cho khuất mắt ta hỡi loài giống con người cứng đầu cứng cổ

 

***

 

ta trở lại ngôi làng thân yêu của ta với hai bàn tay không, con ngựa nòi phương đông ta đã cho người buôn ngựa ở quảng trường Tahir, bởi không thể để xảy thêm cái chết vì bạo lực, cả cuốn sách chép về cách làm cho cây lúa chóng trổ bông ta cũng cho người buôn ngựa, bởi ông ta nói thoát chết lần này thì bỏ nghề buôn ngựa quay về quê trồng lúa

 

ân nhân của ta là sứ giả của những vị thần nhân từ của các đất nước phương đông, người buôn ngựa ở quảng trường Tahir nói

 

ta nói ta chẳng phải sứ giả của các vị thần, mà là kẻ đang đối địch với các vị thần, kẻ luôn làm mếch lòng các vị thần thánh nơi mặt đất

 

phải rồi, khi trở lại ngôi làng thân yêu của ta thì ta sẽ nói với em là ta đã nói nói với người buôn ngựa ở quảng trường Tahir rằng ta đang tham gia vào cuộc chiến chống lại các vị thần

(Những bài hát rong đương đại, 2012-2017)

 

HOMO…HOMO

 

Trong cuốn lịch sử loài người có cả những thành tựu cao quí nhất
và có cả những hành động ghê tởm nhất
LỊCH SỬ VĂN MINH NHÂN LOẠI – UNESCO

 

1.

những nhà chép sử nói châu Phi đen nằm giữa những hoang mạc Sahara ở phía bắc và Kalahari ở phía nam, nhưng tôi thì nghĩ hết cả dải đất gồm vô khối những hoang mạc vô khối những rừng rậm vô khối những sông hồ ghềnh thác bốn bề đều giáp biển ấy là châu Phi đen theo nghĩa phóng túng nhất của từ này, châu Phi đen với tôi là tất cả những trắc trở

 

2.

khi nghĩ đến những trắc trở là tôi đang đứng nhìn hồ nước Tanganyika mênh mông, có cả những người Burundi, những người Congo, cả những người Tanzania và Dambia đang đánh cá trên hồ, bởi hồ Tanganyika là trải dài trên những đất nước ấy, không phải sự trắc trở nằm trong những cơn mưa đổ xuống hồ, cũng chẳng phải nằm trên con sông Luataba mang nước hồ vào sông Congo, mà nằm ở sự thù nghịch thỉnh thoảng lại xảy ra giữa những người đánh cá trên hồ vốn là láng giềng thân thiết, ở châu Phi đen cái gì cũng có thể trở nên thân thiết và cái gì cũng có thể trở nên thù nghịch, nhưng lũ vịt trời ở hồ Tanganyika thì vẫn luôn ca hát, homo… homo… trong lúc tôi nghĩ về sự thù nghịch thường hay xảy ra ở châu Phi đen thì lũ vịt trời ở hồ Tanganyika vẫn hát bài hát tổ tiên chúng để lại, bài hát về sự ra đời của loài giống con người trên đất châu Phi đen

 

3.

nơi tôi đang đứng nghe lũ vịt trời hát là thuộc đất nước Tazania, bởi hồ Tanganyika là trải dài theo biên giới phía tây của đất nước ấy, những người đánh cá nói tiếng Swahili nói tôi là khách hào hoa, tôi hỏi là đến từ Kenya hay từ ftozambique, bởi ở những đất nước ấy người ta đều nói tiếng Swahili thuộc ngôn ngữ Bantu, bọn họ im, cười, và chỉ tay về phía ngọn núi Kilimanjaro cao hơn 5000 mét đang sừng sững mỗi mình giữa trời chiều lặng lẽ, tôi biết bọn họ là người Tazania, và bắt đầu nhìn thấy như ngọn núi lửa Kilimanjaro bắt đầu tuôn ra những dòng dung nham nóng bỏng, cuồn cuộn những dòng dung nham nóng bỏng, những trăm năm trời mây nghi ngút lửa khói, rồi bỗng lặng đi dưới những cơn mưa thế kỷ, rồi đồng cỏ xavan hiện ra, rồi con người hiện ra, homo… homo… tôi lại nghe lũ vịt trời trên hồ Tanganyika hát bài ngợi ca loài giống con người

 

4.

và tôi lại nghe như có những ai đó đang bước đi trên tro bùn núi lửa, những bước chân âm thầm lặng lẽ như thể để thông báo cho đất trời biết là đang diễn ra một cuộc sinh tồn chưa hề thấy nơi mặt đất, cuộc sinh tồn là bao gồm cả một quá trình bí ẩn, cả việc bắt đầu cả việc triển nở là đều bí ẩn, sự sống là diễn ra tự những nghìn triệu năm trước, nhưng lại chờ cho đến khi giá băng tràn mọi nẻo, chờ cho đến khi dòng sông cuộc sống có sự trắc trở, cuộc sinh tồn kỳ lạ ấy mới chịu bước ra khỏi bụi bặm thời gian, phủi đi giá băng lạnh lẽo để bước đi trên những ngổn ngang được để lại từ những thiên niên kỷ trước, giá băng, nỗi sợ hãi, và cái chết, tôi nghe như có những ai đó đang bước đi trên phế tích của thời gian, và đang nói vào tai tôi những lời tâm phúc, rằng tôi đang tìm được đồng điệu, những đồng điệu của ngươi là đang mang trong mình thứ ký ức nghìn tầng lớp của loài giống con người, những chiều buồn ngấu nghiến nhai  cơn đói sau một ngày giành giựt chí chết những thức ăn dư thừa trên đồng cỏ xavan, lũ thú ngang ngược bao giờ cũng là kẻ chiến thắng, đêm, ôm nhau nhảy múa dưới ánh trăng lạnh lẽo cho quên đi những tủi nhục cay đắng của cuộc xâu xé có vẻ bất tận, những căm giận điên cuồng là chẳng thể quên, cuộc sinh tồn cũng có nghĩa là cuộc nghìn năm buồn tẻ, không phải ai đó đang nói với tôi những lời tâm phúc, mà là tôi đang nhớ lại câu chuyện con người đương đại đã nhìn thấy được dấu vết của tổ tiên mình, những dấu chân của tổ tiên con người đã để lại trên đất châu Phi đen

 

5.

khi tôi rời khỏi hồ Tanganyika thì màn đêm đã phủ xuống đất nước Tazania, tiếng hát của lũ vịt trời trên hồ Tanganyika như vẫn còn nguyên trong cảm xúc của tôi, homo… homo… con người… con người… là tôi đang đi về nơi có dấu vết con người tự buổi mới bắt đầu lịch sử của cuộc nghìn năm buồn tẻ, là tôi đang đi về phía hẻm núi Olduvai, đi về phía hoang vu tiền sử, đi về phía những biến động khôn cùng của mặt đất những nghìn triệu năm trước, trong lúc nghĩ về những biến động khôn cùng của nghìn triệu năm trước là tôi đang bước đi trên thung lung giãn nứt Đông Phi, Rift Valley Đông Phi, tôi bước đi trên sự giãn nứt và cứ nghe như đất dưới chân mình rung rinh, trong lúc cảm thấy đất dưới chân mình rung rinh là tôi đang nghĩ về những dòng dung nham cuồn cuộn tuôn ra từ những ngọn núi lửa mọc lên từ sự giãn nứt của đất, và nước và gió cứ tuôn vào, những lớp địa tầng muôn vẻ là cứ tiếp tục hình thành trên những dòng dung nham bi thảm, và sự bất an của đất lại chen vào khiến cho hết thảy những tầng tầng lớp lớp là được nâng lên, và con sông tiền sử lại ngang ngược cắt ngang qua làm bày ra hết thảy những gì đã bị thời gian vùi lấp, olduvai… olduvai… tôi nghe như có tiếng hát từ đại hồ Victory vọng lại, tiếng hát

 

của những người Kenya đang bủa lưới đêm, giữa tiếng hát mơ hồ của những người đánh cá đêm, tôi nhìn thấy những hài cốt của tổ tiên con người và những chiếc rìu làm bằng đá thạch anh như đang bày ra trên hẻm núi định mệnh Olduvai

 

6.

tôi cũng khẽ hát Olduvai… Olduvai… và nhìn thấy những xiêm y lả lướt giữa trời đêm, những vũ nữ ngực trần áo xiêm lả lướt là đang nhảy múa điên cuồng giữa những vì sao, bày tỏ niềm bi thiết của trần gian bằng nhảy múa cũng chỉ là cách thức để cho dòng lịch sử gập ghềnh khúc khuỷu của mình ngấm vào cỏ cây, ngấm vào sương tuyết, tôi cứ khẽ hát Oduvai… Olduvai… và nhìn thấy như cả châu Phi đen đang nhảy múa điên cuồng giữa bầu trời đêm

 

7.

đêm, tôi nằm dưới bóng núi Kilimanjaro nghĩ về những chiếc rìu đá thạch anh, nghĩ về nền văn hóa sơ nguyên của loài giống của mình, niềm vui sướng đang dâng lên trong lòng tôi, vào khoảng nửa đêm thì thấy nhà truyền giáo người Đức, ông Johann Rebmann, từ trên đỉnh Kilimanjaro băng xuống chỗ tôi, xin chào khách hào hoa, ông nói, xin chào nhà thám hiểm của thời đại, tôi nói, ta đang băng qua bình nguyên Tsvo thì bắt gặp Kilimanjaro như nàng công chúa đang say ngủ, lập tức ta khao khát muốn biết những gì đang xảy ra trên ngọn núi ngàn năm tuyết phủ, và ta đã phải trải qua bao nhiêu cảnh quan khí hậu, những cánh rừng nhiệt đới ken dày cây lá, những đầm lầy muỗi vắt, những đồng cỏ mênh mông, những bãi đá hoang vu với những loài địa y lạ lẫm, là ta đã leo lên núi Kilimanjaro, ông Johann nói, và trao cho tôi bản ghi chép về mái nhà hùng vĩ của châu Phi đen, ta đã nhìn thấy được một tặng vật khác thường trời đất đã đem ban tặng cho loài giống con người, ông Johann nói, và băng về phía những trăm năm trước

 

8.

thật ra thì những kỳ vĩ khác thường như đã được sắp đặt từ lâu, từ sáu mươi triệu năm trước các lục địa Loxia ở phía bắc và Gôngvara ở phía nam vốn tách ra từ lục địa nguyên thủy Pangie lại vừa tiến lại gần nhau vừa tan vỡ ra thành những mảng nhỏ trôi dạt tứ phương, những mảng nhỏ Arap, Nubia, Somali vỡ ra từ lục địa Gôngvara là đã tạo ra một dáng vẻ kỳ vĩ khác thường, thung lũng giãn nứt Đông Phi là một dáng vẻ kỳ vĩ khác thường của châu Phi đen, từ đó là núi lửa phun trào, từ đó là những dòng dung nham ngày đêm không ngớt phủ lên những khe nứt định mệnh như thể muốn xóa đi dấu vết của thời gian, đêm tôi nằm dưới bóng núi Kilimanjaro cũng có nghĩa là nằm trên vết nứt của thời gian, vị nữ thần cai quản vết nứt Đông Phi có lẽ  đã đợi tôi từ rất lâu, vừa sáng tinh mơ đã đến gặp tôi, xin chào người đến tự phương đông của những đồng lúa xanh tươi, nghe cách chào hỏi tôi nghĩ nữ thần cũng gốc ruộng đồng như tôi, em vốn sống ở bình nguyên Tsvo, nhưng vị thần coi ngó vết nứt Đông Phi không chịu nổi cảnh ngày nào cũng nhìn thấy những dòng dung nham tuôn ra từ ngọn núi Kilimanjaro, buồn quá, bỏ đi biệt tích, từ đó em phải vừa làm công việc cai quản đồng ruộng Tsvo vừa làm công việc coi ngó vết nứt Đông Phi, từ giọng nói, ánh nhìn, cho đến những cử động tay chân là thuộc về một bộ tộc châu Phi nguyên mẫu, tôi như bị cướp mất hồn vía bởi thứ vẻ đẹp cổ xưa kỳ lạ, bấy giờ thì mắt tôi vẫn đăm nhìn đôi bầu vú nữ thần được phủ bằng một lớp lưới nhung tơ, nhưng cả hình hài thân xác tôi thì như đang tan chảy thành nước, một thứ niềm vui như tàn phá được cả thế giới là đang diễn ra trong cuộc gặp gỡ có vẻ định mệnh, có đời nào tôi lại đi nghĩ mình sẽ gặp được một vị nữ thần xinh đẹp trên đất châu Phi đen, chắc là người đến từ phương đông xa xôi cũng nhận ra em là con gái của bộ tộc ftaasai cổ xưa, cuối cùng thì vị nữ thần xinh đẹp của tôi cũng thừa nhận mình là thuộc về vẻ đẹp xưa cũ

 

9.

thật ra bấy giờ tôi cũng không dám chắc đấy là vị nữ thần coi ngó vết nứt Đông Phi hay là người con gái của một bộ tộc ftaasai nào đó được cử đến đón tôi, bởi theo tôi biết người ftaasai ở châu Phi đen rất hiếu khách, bấy giờ là tôi vẫn không rời mắt khỏi đôi bầu vú căng đầy của nữ thần, vừa say đắm nhìn thứ vẻ đẹp có sức dẫn dắt đến cõi nguyên sơ tạo tác, vừa hình dung ra những cảnh trí của cuộc du cư lãng tử, cuộc sống của người ftaasai là cuộc du cư lãng tử, mới hôm trước nhìn thấy những lều trại mọc lên nơi nơi đồng cỏ dưới chân sơn nguyên Ethiopia, qua hôm sau đã biến mất hết, cuộc sống của người ftaasai là luôn chảy theo nhịp chảy trong huyết quản của mình, ngày, bọn họ cùng đàn gia súc trên đường dong ruổi, đêm, lũ cừu dê ngủ nghỉ, còn bọn họ thì ôm nhau nhảy múa, như có một thứ mời gọi kỳ bí của tiền sử, tôi khẽ hát homo… homo… và ôm lấy thân thể vị nữ thần xinh đẹp của mình bắt đầu bước theo những nhịp điệu điên cuồng đang ồ ạt hình thành trong cảm xúc của tôi, xưa nay em vẫn thích nhảy múa thế này, vị nữ thần xinh đẹp của tôi nói, và áp sát đôi bầu vú vào ngực tôi, bấy giờ thì tôi nghe thấy như có cả mùi cây lá có cả mùi ghềnh thác đang tỏa ra từ nơi cơ thể cường tráng của người con gái của bộ tộc ftaasai, bấy giờ là tôi chẳng còn đủ sức để phân biệt đâu là thần đâu là người, tôi cứ ôm chặt lấy người con gái ftaasai, hôn lên môi hôn lên mắt nàng, sáng hôm ấy là chúng tôi ôm nhau nhảy múa như điên dưới bóng núi Kilimanjaro

(Bài hành ca của một khách hào hoa, 2013)

NHỮNG KHÚC CA BI THIẾT

Hồn phách ta vẫn mở toang ra đất trời bốn phía
minh triết cuộn giữa phù du…

 

I

có phải là khải thị của đêm

ta đọc thấy trong sự chần chừ của ánh mặt trời buổi sớm mai đến muộn

rừng cây như không còn muốn nghe tiếng hát gượng gạo của chim lũ chúng cũng mới trở về từ cuộc hành trình gian truân

ngang qua vùng cấm bay trên mặt đất và trên biển những sắc lệnh ngu xuẩn của con người

khiến lũ chim vô cùng mệt mỏi hỡi những vị thần cai quản đất đai người yếm thế

hay người bất lực trước sự thô bạo của con người ta kẻ cô độc bước trên bờ sử lịch

thấy lũ chim buồn không thể không nói

 

II

 

lũ sâu bọ cựa mình trong chiếc áo màu máu

lập tức cuộc diễn tập về cách làm ngưng trệ cuộc tiến hóa diễn ra khắp nơi

có phải là khải thị của đêm

những kẻ ca ngợi lũ sâu bọ đã tụ tập thành bè nhóm để làm ra những cuốn sách

báng bổ vẻ đẹp của sự thật báng bổ và những cuộc trò chuyện của những kẻ vốn kết giao với những ngọn gió

thổi về tự buổi hoang sơ

 

đổ xuống những chiều cô tịch cứ rộ lên tiếng gà gáy đêm

những người đi tìm lương thảo cho ánh mặt trời đã rời khỏi cuộc hành trình

ta kẻ cô độc bước trên bờ sử lịch

thấy con rắn buổi hồng hoang có mặt trong những cuộc diễn tập được phát động bởi lũ sâu bọ

những người đi tìm lương thảo cho ánh mặt trời đang chờ nhau dưới đám mây mùa đông

 

III

 

những mảnh hồn cổ xưa lại hiện về trong trằn trọc nhận thức, ta chạy hụt hơi qua những tháng năm cũ để tìm chút an ủi trong những lời được viết ra trên mảnh đất nung, chữ viết hình nêm vàng ố cảm xúc, thời gian nén lại thành những hình hài, có thể là ký thác cái chết cao cả, người anh hùng chết cho tổ quốc lâm nguy, có thể là lời tiên tri về sự đảo lộn của thế giới, ai đó đứng nơi công trình cự thạch bên biển cả nhìn thấy số phận con người, có thể là cơn thịnh nộ của vị thần sinh nở khi nhìn thấy con người đã gạt bỏ niềm xúc động thiêng liêng ra khỏi cuộc giao phối của mình, có thể là tường trình vẻ tráng lệ của những cảm thức biến ngợp về buổi ban đầu kỳ diệu của tạo tác, sự bắt đầu cho sự bắt đầu thi ca, ta chạy hụt hơi qua những tháng năm tiền sử bới tìm trong đất những trường đoạn buồn vui của kiếp con người, những dấu vết cuộc tồn sinh bao giờ cũng làm ta bớt cô độc.

IV

 

có biết là ta đang cô độc hỡi những kẻ đã nằm xuống mảnh đất sỏi đá, nhau rốn ta cũng chôn ở nơi này, sỏi đá và những con mắt đã cạn nước mắt, ta vẫn thường hay nhìn thấy những nắm xương cũ kỹ ở trong đất vào những lúc nghĩ ngợi về ngôi làng Cù của mình, con đường vào làng ta có lúc được đắp cao lên có lúc bị sụt lở, những ngôi nhà trong làng ta có lúc biến thành nhà tầng nhà gác có lúc cháy rụi vì lửa của trời hay lửa của người, đồng làng ta có lúc ngọn lúa tươi tốt có lúc không người cày, nhưng hết thảy những thứ đó là đều thuộc về mảnh đất sỏi đá, đã mấy trăm năm sỏi đá và những con mắt đã cạn nước mắt, những người làng ta nằm xuống từ ngôi làng đã quá cũ kỹ, nên cũng để lại trong đất những nắm xương cũ kỹ, ta cũng thường hay nhìn thấy những ngọn tre làng phủ xuống trong giấc ngủ, những ngọn tre làng như những con mắt đã cạn nước mắt

 

V

 

những giấc mơ chẳng mách bảo ta điều gì mới mẻ, lúc ngày ta gần như hụt hơi giữa một thế giới đang xoay chuyển đến mức như không còn kịp nhìn, đêm lại nằm mơ thấy mình chạy trối chết giữa cuộc rượt đuổi của bầy thú hoang, ta chạy như không còn kịp sống, thì ra giấc mơ trong đêm chẳng qua là một cách diễn dịch khác của ngày, đêm hôm qua ta nằm mơ thấy chó sủa khắp nơi trên mặt đất, lũ chó lùng sục hết thảy những ngõ ngách của nền văn minh cổ kính, lùng sục hết thảy những ý nghĩ của những kẻ đang dốc hết tâm sức cho một ngày nhìn thấy được thứ vật chất tối bấy nay vẫn phủ lên mặt đất, theo sau lũ chó là những kẻ mặc áo quần đen, đội mũ đen, đi giày đen, tiếp sau đó là những bắt bớ, bắn giết… sáng ra ta đem kể với người làng Cù ta về giấc mơ trong đêm, nghe xong mọi người đều bảo đấy là thật chứ chẳng phải mơ.

 

VI

 

có phải là khải thị của đêm, ta đọc thấy trong màu ráng chiều niềm nghi hoặc, chẳng phải tài ba như kẻ đo đạc con nước sông Nil cổ kính, nhưng từng là kẻ ruộng, ta cũng biết nhìn màu ráng chiều đoán vận mệnh cây lúa trên đồng làng, buổi chiều hôm nhìn những đám mây màu máu trên đỉnh núi Voi Nằm, ta không thể không cảm thấy nghi hoặc về một cơn mưa trái mùa làm nảy sinh loài sâu bọ, đêm nghe tiếng vạc kêu trên đồng làng, tiếng kêu khắc khoải tựa buổi mới lập đất, và lũ chó nhà ai, như đang chõ mồm về phía bầu trời có tiếng vạc, cùng tru lên những lời lẽ, cũng khắc khoải như tiếng vạc kêu sương, sự cảm nhận đơn giản của kẻ ruộng mách bảo với ta rằng lũ chó nhà ai và lũ vạc kêu sương là đồng đảng, chúng đang hùa nhau để nói cho con người biết là chúng đang biết có điều hệ trọng gì đó sắp xảy ra

 

VII

 

ta vẫn hít thở dưới bầu trời xưa cũ, trăng sao vẫn là trăng sao thuở trước, nhưng ta đọc thấy sự lơ là trong cách gặm cỏ của lũ bò ở làng Cù ta, nếu không nói là chúng không còn muốn gặm cỏ, làm như thể chúng sắp tiến hóa lên một loài giống nào đó cao hơn loài bò gặm cỏ không còn phải gặm cỏ, cũng trăng sao thuở trước, nhưng ta đọc thấy sự lơ là trong cách đến với nhau của con người thời đại, dường không còn niềm xúc động thiêng liêng của những đêm tiền sử đốt lửa giữa rừng sâu, con người là phải nắm chặt tay nhau cùng cười khóc giữa thế giới đầy bất trắc, làng Cù ta nhỏ như bàn tay, đêm chỉ mỗi tiếng chó sủa trong làng cũng làm ta tỉnh ngủ, đêm ta cứ lơ mơ nghe thấy tiếng kêu cứu vang lên khắp mặt đất, có khi là ta nghe như tiếng tức tưởi không thành lời, hay là sự ngu xuẩn của thời đại đang siết cổ con người, đêm ta cứ nghe lũ chó trong làng hùa nhau sủa, làm như thể chúng biết cách thông báo cho nhau biết đến lúc đó là hết thảy phải cùng sủa lên

 

VIII

 

tất nhiên là chẳng có vị quân vương nào muốn bị nguyền rủa bởi những linh hồn rã mục trong đất đai thấm máu, đâu còn có kinh thành nào ngả bóng lên biển cả, ta nhìn thấy những cơn ác mộng phủ xuống mảnh đất như bàn tay đơn độc thò ra biển cả, cơn ác mộng của thế kỷ, những con đường phố loang lổ thời gian, đào lên và lấp lại, và lại đào lên, bến nước luôn vọng lại tiếng còi tàu ẩm ướt, nỗi sợ hãi choàng lên năm tháng, ác mộng lại chuyển sang đại mộng, người ta lại bắt đầu nói về bầu trời đầy sao, các vị thần trên cao đã xuống đất bước đi cùng con người thời đại, áo gấm đang bay trong gió, bỗng giữa chừng có kẻ hấp hối vì đánh mất niềm tin, đêm, những cột đèn đường vẫn thao thức

 

IX

 

em đến giữa lúc những kẻ coi ngó phố chợ còn đang ngái ngủ những tay biện thuyết nghênh ngang đi lại

quảng trường thời đại luôn vang lên những lời hô hét hết thảy hãy cùng tiến lên

những người đánh cá đêm ngoài khơi phải chờ cho đến lúc tàn cuộc đỏ đen nơi phố chợ

mới dám bủa lưới

thì chẳng phải là đang buổi thanh bình

nhưng bởi vì em mang trong mình những nghĩ ngợi khác với nghĩ ngợi nhưng tay biện thuyết

nên không còn được ăn cơm gạo của phố chợ đêm

những ngọn đèn đường vẫn thao thức

ta đưa em đến trú ngụ ở vùng núi rừng biên cương của xứ sở một cuộc tình khởi lên giữa bão tố

 

X

 

và đây là cuộc đuổi bắt ngoạn mục của thế kỷ cuộc đuổi bắt các thứ mục đích

đuổi bắt các thứ ý đồ

đuổi bắt các thứ trạng thái ý thức tỉnh táo có cuồng loạn có

khói bụi tỏa kín bầu trời thế kỷ

ta hụt hơi và vô cùng cô độc trong việc trốn chạy khỏi các cuộc rao giảng về cách thế tồn tại của những tay biện thuyết tầm cỡ của thời đại

trốn chạy khỏi các cuộc tuyên truyền về một trật tự mới của mặt đất và bầu trời của những nhà mộ quân quyết đoán

trốn chạy khỏi những cuộc trưng bày các học thuyết về cái chết của những vị triết gia ăn vận hoàn toàn theo kiểu đương đại

là bọn họ đến từ các thế lực

đến từ các phe nhóm từ các trường phái các xu hướng…

đang có mặt khắp nơi trên mặt đất như sự đột phá của thời đại cái thời đại lắm việc lắm lời lắm cảnh ngộ ly kỳ

có vẻ như là thời cô đặc sầm uất nhất trong lịch sử con người

 

XI

 

ta cố chạy thật xa quảng trường thời đại nhưng vẫn còn nghe thấy tiếng hát véo von của đám vũ nữ đến từ những sa mạc phương nam trong bầu đoàn đi rao giảng về sự bất tử, ở quảng trường thời đại, sau mỗi bài thuyết giảng của kẻ nhân danh sứ giả của hư vô, đám vũ nữ lại khởi lên những vũ khúc mô tả cái thế giới lung linh kỳ dị chỉ chứa đựng sự bất tử qua xiêm y tơi tả như những chiếc lá trước gió cùng với giọng hát tựa khúc hồn phiêu dạt, sự bất tử ở đây là đồng nghĩa với hư vô

 

em chờ anh từ thế kỷ này sang thế kỷ khác chờ anh qua những mùa gió lạnh thấu xương và thứ nắng cháy thịt da nhưng chẳng hề chi đâu có nghĩa gì nhan sắc tàn phai chỉ cần được nhìn thấy anh hết thảy sẽ hồi sinh gió sẽ ngừng thổi nắng sẽ tan niềm hạnh phúc vĩnh cửu nơi thế giới này chỉ có thể có được từ cái chết của anh

ta chạy, và cảm thấy vô cùng sợ hãi thứ giọng hát quyến rũ sự tiêu vong,

quyến rũ cái chết, ta chưa bao giờ nghe thấy thứ giọng hát đầy ma lực lầm than như thế, hát để kêu gọi sự phủ nhận sự sống nơi mặt đất

 

XII

 

ta cố chạy cho thật xa nhưng vẫn còn nghe thấy tiếng trống chiêng, cuộc mộ quân kỳ dị nhất trong lịch sử loài người đang diễn ra ở quảng trường thời đại, ngay từ phút đầu nhìn thấy người chỉ huy cuộc mộ quân bước lên bục diễn thuyết tuyên bố rằng trật tự thế giới phải được thay đổi, ta đã linh cảm về một đại nạn của thế kỷ

con người vẫn đang ngập ngụa trong những thứ kỷ cương cũ nát, những thiên niên kỷ buồn tẻ vẫn cứ trôi đi, con người chỉ làm mỗi việc thêm vào hay bớt đi những thứ có sẵn, những thứ đã được tạo ra tự những nghìn triệu năm trước, những nguyên tắc ẩm mốc vẫn đang ngự trị trên đầu nhân loại, quyền lực vẫn được mua bằng sự dối trá và công lý phải luôn trả giá bằng máu, đã đến lúc phải được dọn dẹp sửa sang lại hết thảy

vào lúc người chỉ huy cuộc mộ quân đọc xong cương lĩnh và nổi trống chiêng thì ta rời khỏi quảng trường thời đại, chính là ánh mắt như ngọn lửa tam muội đốt cháy cả thế gian của ông làm ta sợ hãi hơn là sợ hãi cái cương lĩnh đầy máu me của ông, ta phải chạy cho thật xa, vì không thể để cho ông ta bắt ta cùng ông ta đi tấn công chân lý của lịch sử

 

XIII

 

có phải là khải thị của đêm

ta đọc thấy sự chần chừ của những giọt sương trên cỏ như những giọt nước mắt của đêm không muốn lau khô này bạn có định đi về phía mặt trời đang lên

ta nghe con đường cỏ còn long lanh những giọt sương hỏi người khách đi đường

dường cả ông khách lẫn con đường đều đang mang trong mình thứ tâm trạng đặc biệt nào đó nếu không nói là hơi bí ẩn

ta thấy ông khách đưa tay che ánh mặt trời nhìn con đường cỏ dưới chân ngẫm nghĩ rồi lặng lẽ đi về phía mặt trời lặn

những giọt sương trên cỏ cũng lặng lẽ tan

 

XIV

 

đằng sau vẻ bình tĩnh của thế giới như đang ẩn dấu điều gì nghiêm trọng

chỉ mỗi ánh mắt sợ hãi của ai đó thoáng thấy trong đám khách bộ hành cũng khiến ta phải nghĩ ngợi

niềm hoài nghi về thế giới thôi thúc ta lao vào cuộc tìm kiếm dường những bảng chỉ dẫn đường ở nơi đây đã bị ai đó lấy mất trong đêm

ta có hơi phân vân dưới ánh mặt trời buổi sớm mai có thể ánh mắt em là yếu tố khiến ta có đủ sáng suốt bấy giờ dưới ánh mặt trời buổi sớm mai

ta cứ thấy em

người con gái của dáng vẻ vô biên đang đứng nhìn ta này những kẻ ngông cuồng

các người có nhổ hết những bảng chỉ đường trên mặt đất thì ta cũng biết cách đi tới

 

ở một bến cảng có rất nhiều người đang chờ đợi lặng lẽ và căng thẳng

chẳng có con tàu nào cập bến cũng chẳng có con tàu nào rời bến chỉ có những kẻ đang chờ đợi

tất cả bọn họ đều nhìn ra biển lặng lẽ và căng thẳng

ta đi hỏi thử những người nhặt vỏ sò gần đó

tất cả bọn họ đều bảo từng nghe kể những kẻ ấy đã chờ suốt mấy trăm năm qua

chờ những người cha những người chồng và những người con đi tìm sự thật của thế giới trở về

ta buồn bã rời khỏi bến cảng bất hạnh đi về phía thành phố buổi trưa

không có dấu hiệu nào cho thấy buổi trưa thì bớt người đi lại bớt xe cộ trên đường và bớt đi những tạp âm

ta đứng chờ ở một bến xe buýt nhưng cũng chẳng biết là sẽ đi đâu

một người mù bước xuống xe có vẻ đang nóng lòng muốn đi đâu đó

ta hỏi thử thì biết

người ấy sẽ ở chơi thành phố này mấy hôm rồi lên đường đi tìm sự thật của thế giới

(Khúc ca bi thiết của một kẻ cô độc, 2014-2015 )

 

BIẾN KHÚC

Viết tặng nơi chôn nhau cắt rốn của tôi

 

những chiều hôm

nằm dài trên luống cày mới vỡ

tôi thấy nhớ những sớm tinh sương cây mù u thay lá

rụng xuống con đường bùn dấu chân trâu

bước giữa ảo ảnh giọt mồ hôi mặt trời không bao giờ từ bỏ những dấu vết

từ làng Cù tôi đi

trăng rằm nghe câu hát hạt lúa trì trắng lòng một thời

tháng chạp hương rạ thoảng về tận buổi nguyên sơ tổ tiên chúng ta những người không áo quần

bước đi từ hai bàn tay trắng hôm nào chạm vào mầm cây

những cuộc tình khởi lên giữa cơn gió bấc

từ làng Cù tôi đi cơn mưa mùa đông

ướt hết những nhọc nhằn trên lưng người mẹ tình yêu long lanh giọt mồ hôi

em nói em muốn tôi hôn em

như người đi săn con mang hôn lên ngọn lửa rừng thời tiền sử bài tình ca

thổi bùng khí phách những con đường người hát rong đi dọc bờ lịch sử

con mòm thổi buổi chiều hôm ai về dưới giã

đánh động giấc ngủ trăng sao

ngọn cỏ vùng vẫy giữa khúc sử đen ngòm

làng Cù tôi

mùa đông mang áo tơi chằm lá núi con cuốc gọi

năm canh rả rích cơn mưa những trường đoạn buồn vui gửi hết cho ánh mặt trời

từ làng Cù tôi đi

chân không dám rời đất mẹ xanh xao giấc ngủ

cơn ác mộng làm nát lòng ngọn gió sớm mai ở làng Cù tôi

con gà gáy buổi sớm mai bờ cỏ đồng làng thức dậy con trâu nhai rơm

người cha khua cây cuốc ở hiên hè

những cuộc tình khởi lên dưới ánh mặt trời

ở làng Cù tôi

buổi ấu thơ học sử

thấy khúc ngoẹo trên con sông Hồng thấy nước chảy trên con sông Cửu Long

lớn lên không nghe những lời ma mị của người lớn từ làng Cù tôi đi

cuộc hành trình dài theo lời hát ru của mẹ cứ thấy bước chân trâu trên ruộng

cứ thấy nón lá chân trần

cứ thấy bờ tre rũ xuống con đường làng tiếng gù tình của lũ chim cu làm thức dậy

những nỗi niềm ngủ quên trong chiếc áo đẫm nước mưa mùa đông

không có ai cả

chịu để cho con trâu không còn bước trên bờ cỏ đồng làng

ruột gan tổ tiên để lại

bỗng có kẻ muốn mưu toan làm cho đất bằng dậy sóng người làng Cù tôi thức canh chừng thâu đêm

từ làng Cù tôi đi

cứ vướng bận tiếng chim hót buổi trưa tận hang cùng ký ức

cứ thấp thoáng gương mặt em người con gái của dáng vẻ vô biên

không có ai cả

chịu để cho cây cày cây cuốc nằm không nơi hiên hè

niềm thao thức khởi lên tự thuở cơn mê thần thánh ám ảnh người vợ buổi chiều hôm ngồi đợi

người chồng từ cuộc săn trở về

rối rắm còn nguyên trong nghĩ ngợi

bỗng khởi lên giữa lặng ngắt hoang dã câu chuyện cày bằng đao trồng bằng lửa từ làng Cù tôi đi

vẫn cứ thấp thoáng trong trí nhớ thời đá cũ đá mới

ai lật từ đất lên nụ cười vĩnh hằng buổi ấu thơ theo trâu ra ruộng những chiều nằm dài trên luống cày còn nghe mùi đất mới

lũ chim chiền chiện đến lót ổ ngay cạnh niềm vui của tôi cứ thấy nhớ thuở con người

còn trò chuyện với hươu nai trên rừng

ở làng Cù tôi

mùa thu lá rụng trong vườn

nỗi buồn vẫn lẩn quất trong nghĩ ngợi những người cày ruộng từ làng Cù tôi đi

ám ảnh về màu hoa ô thược

mùa thu hoa ô thược trôi trên sông Tượng con sông chảy qua đồng làng tôi

mấy mươi năm tôi đặt tên cho những loài hoa không tên

mấy mươi năm trong đời tôi nắng gội

giấc mơ nửa chừng

thức giấc giữa tiếng kêu chim bịp thấy mùa hè đang ngang qua thế kỷ niềm dang dở

đang khoác lên mình chiếc áo giả

từ làng Cù tôi đi mùa xuân

lũ chim cu nói tôi đang lạc đường tôi không dám cãi

chỉ lặng lẽ băng qua những trang sử không vui

tôi đi cho hết lòng

với người con gái của dáng vẻ vô biên cố qua hết những tháng năm bụi bặm quay về làng Cù

thấy em đứng đợi dưới trăng non đầu tháng con chim ấp muỗi đánh động bờ tre trước ngõ em cười

ký ức nghìn năm thức dậy trong tôi

để có thể cứu vãn những trang sử tăm tối tôi ôm hôn em giữa đất trời tháng chạp

tôi đi cho hết lòng với người làng Cù tôi

cái thế kỷ đã bạc đãi người làng Cù tôi rất bạc đãi

nhưng không nói chuyện ấy nữa không nhắc lại nữa

 

ngang qua núi Voi Nằm

nghe đá núi đã bắt đầu trò chuyện với rong rêu thời gian như con chim mỏi cánh

đậu xuống tháng năm hòa hoãn

tôi nghe những người làng chết trong những cuộc hận thù nhau hồi thế kỷ trước đang trù tính nhau về một chuyến viếng thăm có tính lịch sử

chuyến viếng thăm những người còn lại trên mặt đất có phải đã thật sự xảy ra những ý tưởng táo bạo

có tính thiên niên kỷ khi ngang qua đồng làng

tôi nhìn thấy những người cày ruộng đang đem chiếc bóng của mình

so với bóng mặt trời.

(Dấu vết mặt trời, 2014)

MINH TRIẾT VÀ TRO THAN

 

Lần này thì lũ các người
hãy thử dùng sức mạnh của thi ca
LỜI GHI TRÊN VÁCH ĐỀN APHRODITE

 

 

Cuộc hành trình lần này ta đã có em, ta đã gặp em, ngẫu nhiên và định mệnh, như thể là em đã chờ ta ở đó những nghìn năm trước để đi cùng ta, cuộc hành trình gian truân nơi mặt đất gian truân,

 

Lần này thì cứ thử đem tình yêu của chúng ta đặt lên những ngọn sóng màu lam chiều réo gọi nơi eo biển Bosphorus, giữa lúc nữ thần Aphrodite buông lời thách thức, trần thế có phải là chốn để những kẻ đang yêu quấn quít bên nhau, hỡi những kẻ muốn đem trái tim mình đặt lên cuộc biến động khôn lường, lời của nữ thần tình yêu như âm vang cơn lũ khởi lên từ eo biển Bosphorus tràn tận đỉnh Ararat.

***

Ai đứng nơi bờ ftediterranean Sea, biển Giữa, những nghìn năm trước để thốt ra lời ngàn năm, tận tình và thống thiết. Tất cả là nước. Lời nói tựa thách thức xuyên qua những thế kỷ thách thức luôn có lũ người ngu ngốc đi tìm những thứ chẳng bao giờ có. Tất cả là nước. Dáng dấp thuở ban đầu. Con chim sải cánh, bầu trời nguyên sơ lộng gió. Ai đứng nơi bờ ftediterranean Sea, biển Giữa, thốt ra lời nguyên sơ như thách thức xuyên qua những tiết tấu thời gian vẫn gõ lên bụi bặm trần thế,

 

Những phác thảo về tồn tại tựa lời trẻ thơ. Con dế ca bài ca của

 

đất rồi đi tìm chú ngựa non trong ngôi nhà của chuột. Tiếng hát trẻ thơ. Và những phác thảo về tồn tại,

 

Ai đứng nơi bờ ftediterranean Sea, biển Giữa, những nghìn năm trước để hô hoán rằng thuở ban đầu là chẳng có con đường nào vào cõi miên trường ảo ảnh, dùng dằng người đi kẻ ở, treo lơ lửng trước lối mòn vô vọng, nước mắt chảy giữa gió mây vô vọng, ai ngờ một ngày có kẻ đứng nơi bờ ftediterranean, biển Giữa, để hô hoán rằng thuở ban đầu là sắc hoàng hôn nguyệt bạch, treo lơ lửng trước đời lối đi về vô tận, chẳng có bàn tay ai nâng đỡ, tất cả là lơ lửng giữa bất định hư không, vào một ngày có kẻ đứng nơi bờ ftediterranean, biển Giữa, hô hoán lên rằng, sở dĩ được treo lơ lửng giữa bất định hư không là nhờ luôn trai trẻ và luôn giữ được những xa cách ngang bằng nhau giữa muôn ngàn sự thế,

 

Cũng chẳng ai ngờ một ngày có kẻ đứng nơi bờ ftediterranean Sea, biển Giữa, để bảo với mọi người rằng thuở ban đầu là hơi thở miên man bất tận, dòng sinh hóa từ đó mà ra, ai ban cho ta hơi thở ban đầu mà biến hóa khôn cùng, khi tụ tập thành những hình hài kỳ tuyệt, lúc giãn ra thành cõi trống trải hư không, co lại và giãn ra là để cho muôn vạn hình hài, ta đã có, ta đang có, và ta sẽ có, là có cả những vị thần cùng những hình hài cốt cách của những vị thần, cái ta không nhìn được là các vị thần, cái ta nhìn được là hình hài cốt cách của những vị thần, chẳng ai ngờ có ngày có kẻ đứng nơi bờ ftediterranean, biển Giữa, để làm cho hình dáng ban đầu của tồn tại trở nên lung linh quyến rũ,

 

Là Thales, là Pittacus, Bias, Solon, hay Chilon, Cleobulus, ftyson, hay Anacharsis, Phytagoras, hay Anaximandre, Anximene, là bảy vị, hay mười bảy vị, hay là hai mươi bảy vị, chuyện có bao nhiêu vị hiền triết chỉ là chuyện về con số, chuyện về cái bóng của hình, những nghìn năm trước những hình hài minh triết vẫn tiếp tục đi lại nơi bờ ftediterranean Sea, bờ biển Giữa, vẫn nối bước nhau bước lên những hòn đảo minh triết ở ftediterranean Sea, biển Giữa, vẫn không ngừng nghĩ ngợi dưới bầu trời Anatolia, để thốt lên lời nghìn năm,

 

Buổi chiều, đứng nơi bờ ftediterranean Sea, biển Giữa, ta và em hóng mắt về phía ban đầu, hóng mắt về phía lung linh quyến rũ, những lời của kẻ yêu nhau thuở ban đầu trở thành lời ngàn năm, con dế ca bài ca của đất rồi đi tìm chú ngựa non trong ngôi nhà của chuột, tiếng hát trẻ thơ, và những phác thảo về hình dáng của tồn tại.

***

Ephesus mùa thu. Ta và em đến Ephesus vào một ngày mùa thu. Chẳng còn nghe thấy tiếng cung bạc leng keng của nữ thần Artemis trên bầu trời Ephesus lặng gió. Lũ ruồi có vẻ chán nản nơi mi mắt thiếu ngủ của lão tư tế đang chán nản canh giữ ngôi đền đổ nát chỉ còn như thứ âm vang già nua trong tâm tưởng con người. Nhưng các người từ phương đông đến cũng nghe thấy những gì đang diễn ra dưới bầu trời đương đại, lão tư tế nói, như thể đã thoát ra khỏi cơn thiu ngủ ngàn năm, cơn thiu ngủ hình thành từ pháp điển hiến chương về tồn tại những nghìn năm trước, thứ pháp điển hiếu chiến vẫn được coi như sở thích con người của thuở ban đầu. Nhưng cuộc chiến thành Troa đã kết thúc tự những nghìn năm trước sao nữ thần chiến tranh vẫn vắng bóng nơi ngôi đền cổ kính, ta nói lời ấy với lão tư tế đền thần Artemis trong lúc lão mệt mỏi xua tay đuổi lũ ruồi đi khỏi sự mệt mỏi của mình, còn em thì đăm mắt về phía những hoang tàn như thể đang cố nhìn lại những tháng năm lừng lẫy của người con gái của Zeus thần thánh, người con gái vẫn cùng với con người và muông thú trên rừng nhảy múa hát ca, nhưng vẫn ra tay giết chóc con người và muông thú theo thứ pháp điển hiến chương mông muội,

 

Tồn tại là gươm đao. Thứ pháp điển hiếu chiến vẫn được các nhà kiến thiết tài ba thuở ban đầu diễn dịch thành ngôi đền Artemis lộng lẫy dưới bầu trời Ephesus lộng lẫy, những Chersiphon, Pheidias, những Polycleitus, Kresilas, Pheadmo vẫn còn ghi trong sử cũ, những nhà kiến thiết tài ba đã tạo nên chốn ngự trị của vị nữ thần chinh chiến. Nhưng có phải vào cái đêm hăm mốt tháng bảy hơn hai nghìn năm trước chàng trai trẻ có tên Herostratus đã muốn xóa bỏ biểu tượng của hiếu chiến, xóa bỏ những định kiến man rợ, ta và em đều cố nghĩ thế về Herostratus, nhưng lão tư tế đền thần Artemis bảo Herotratus còn hiếu chiến hơn cả nữ thần Artemis, Herotratus đốt đền nữ thần chiến tranh là cốt để cho loài người chỉ còn nhớ đến mình, lão tư tế mệt mỏi nói ra những ý nghĩ mệt mỏi của mình,

 

Nhưng là các người từ phương đông đến chẳng nghe thấy những gì diễn ra dưới bầu trời đương đại, lão tư tế đền thần Artemis nói, như thể đã ra khỏi hẳn cơn thiu ngủ nghìn năm, ta và em đều nói là rất vui khi không còn nhìn thấy bóng dáng nữ thần chiến tranh dưới bầu trời Ephesus, nhưng lão tư tế bảo là ta với em đã lầm, một sự lầm lẫn nghiêm trọng, các cuộc chiến của con người còn diễn ra trên mặt đất thì thần chiến tranh vẫn còn đó, và thứ pháp điển hiến chương mông muội vẫn còn chỗ trú ngụ dưới bầu trời đương đại, tồn tại vẫn là gươm đao, lão tư tế nói như thể là lời tuyên ngôn về tồn tại,

 

Vào buổi chiều mùa thu đặt chân đến Ephesus, miền đất cổ kính bên bờ ftediterranean Sea, biển Giữa, ta và em đã hiểu ra

 

sự hoang tàn của khu đền nữ thần chiến tranh Artemis như một cách thức biểu hiện về cách nhìn thế giới của con người đã được chuyển đổi, chẳng còn ai muốn nói tồn tại là gươm đao, chẳng còn ai muốn nhìn thấy sự có mặt của vị nữ thần chiến tranh, thực ra thì cách nhìn thế giới của con người đã được chuyển đổi tự hôm con người có tên Heraclitus đã được sinh ra dưới bầu trời Ephesus để nói ra những lời tâm huyết những ngàn năm qua vẫn được coi như một thứ pháp điển hiến chương của thời ngược với thời mông muội,

 

Đấy là ngọn lửa đang bùng cháy trong tâm can chúng ta. Nói là lửa, hay nói là tình yêu, đều là nói về nó, nói nó là con đường đi lên, hay nói nó là con đường đi xuống, hay con đường đi xuống là con đường đi lên, nói cách nào cũng đều là nói về nó, bởi mọi sự biến đổi là đều của nó, biến đổi là để thành nó, và nó là biến đổi, bởi nó là tất cả, nhưng nó cũng là một, bởi vì một là tất cả, và tất cả là một,

 

Những pháp điển hiến chương của tồn tại đã được Heraclitus hát lên tự những nghìn năm trước. Chẳng ai có thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông. Buổi chiều mùa thu đặt chân đến miền đất cổ kính Ephesus, ta và em đã hiểu ra lời tự tình ngàn năm của kẻ đa tình có tên Heraclitus. Nó là ngọn lửa nung nấu con người. Cháy lên và lụi tàn là cứ thay nhau trong lịch sử con người. Khi sự cháy lên được lặp lại là con người sẽ nhìn thấy những gương mặt rạng rỡ, đáng yêu. Nhưng khi sự lụi tàn được lặp lại thì có thể đó là những hài hước, kệch cỡm, là những giả dối, hèn hạ, dường chẳng phải là thuộc về gương mặt con người,

 

 

Buổi chiều, đứng nơi bờ ftediterranean Sea, biển Giữa, ta và em như nghe thấy được tiếng ca bất tuyệt của Heraclitus, con dế ca bài ca của đất rồi đi tìm chú ngựa non trong ngôi nhà của chuột, tiếng hát trẻ thơ, và những phác thảo về pháp điển hiến chương của tồn tại.

***

Aphrodisias cuối thu. ftùi sữa và mùi hoa hồng như cố ấp ủ cho cổ kính không tàn phai theo năm tháng. Và tự nơi cuối trời như có ai đó đang vẫy tay về phía cổ xưa, gào thét. Aphrodite, ta cứ muốn sờ lên từng hơi thở của em, ta cứ muốn chính mắt mình nhìn thấy thịt da em. Tiếng gào như thể ai đó chẳng còn chịu đựng được trước vẻ đẹp con người chỉ còn được ghi lại như một thứ dấu vết của trí tuệ. Và ta thì cứ cố lục lọi trong ký ức từ chương xem thử có lời nào thốt ra từ cửa miệng vị nữ thần sắc đẹp ấy hay không, nhưng chẳng tìm thấy, nhưng ta biết có tìm thấy chăng thì cũng đã được diễn dịch theo niềm cảm hứng khôn cùng của các thi gia sử gia Homeros (Homer) hay Hesiodos (Hesiod) hay Herodotos (Herodote). Và, trong ngày đầu tiên đặt chân đến miền đất Aphrodisias cổ kính ấy, thậm chí lời ghi trên vách đền Aphrodite cũng chỉ là sự tưởng tượng của ta và em,

 

Khi ta và em đặt chân lên miền đất cổ kính Aphrodisias bên bờ ftediterranean Sea, biển Giữa, nơi có đền nữ thần tình yêu Aphrodite, thì khái niệm tình yêu đã trải qua bao thiên niên kỷ, dường thời gian có làm cho thứ khái niệm vốn vô cùng nhiêu khê rối rắm ấy trở nên nhiêu khê rối rắm,

 

Aphrodite, tóc em là con sông bằng vàng, da thịt em là hương hoa là mùi sữa, và mắt em là vì sao trên trời, Aphrodite, em là tất cả đất trời. Ai đã đứng phía bên kia bờ ngôn từ để thốt lên những lời vô ngôn,

 

Khi ta và em đặt chân lên miền đất có cái tên đáng yêu diễn dịch từ tên thần tình yêu Aphrodite ở bên bờ ftediterranean Sea, biển Giữa, thì khái niệm về tình yêu đã trải qua những thiên niên kỷ nhọc nhằn, dường như những khi con người mãi tranh nhau chỗ đứng nơi mặt đất thì quên đi thứ khái niệm còn quí hơn da thịt của mình,

 

Thì chẳng phải một thời thần chiến tranh Ares, vị thần hiếu chiến và cuồng loạn, cũng say đắm nhan sắc của nàng hay sao, chẳng phải cái tên Aphrodite như một thứ khái niệm về phía khác của chết chóc, phía của tình yêu, một thứ khái niệm về luật lệ của cuộc sống,

 

Hôm ta và em đặt chân lên miền đất cổ kính ấy cứ nghe như đang vang lên tiếng hát của kẻ đang yêu. ftùi sữa với hương hoa hồng. Và tiếng hát của kẻ đang yêu. Con dế ca bài ca của đất rồi đi tìm chú ngựa non trong ngôi nhà của chuột. Tiếng hát trẻ thơ. Và phác thảo về luật lệ của tồn tại.

***

Trên những mảnh đất nung đào được ở Nineveh nơi bờ sông Tigris người ta đã đọc được thiên sử thi về vị vua anh hùng Gilgamesh của thành Uruk cổ kính, vị vua đã được nghe một người đàn ông có tên Utanapixtim kể về cơn đại hồng thủy do thần Enlin gây ra, người đàn ông đã thoát khỏi sự trừng phạt của các thần, và trở thành kẻ duy nhất có cuộc sống trường sinh bất tử,

 

Sách Cựu Ước nói chúa trời đã làm ra cơn lũ bốn mươi ngày đêm để tiêu diệt loài người tội lỗi, ta đã ân hận tạo ra con người,  và nay thì chỉ mỗi nhà ngươi là còn được sống để gầy dựng lại loài người, dường như chúa trời đã nói với ông Noah như thế,

 

Các ông William Ryan, Walter Pitman, những người làm công việc khảo cứu của nước ftỹ bảo rằng một trận đại hồng thủy đã diễn ra dưới bầu trời Anatolia, thuở ấy mặt đất nóng lên, băng tan, nước ở các biển lớn đầy lên, nước ở ftediterranean Sea, biển Giữa, cũng đầy lên, và bắt đầu tràn vào biển Đen cho đến lúc dâng lên tận ngọn núi phía đông Anatolia, ngọn Ararat,

 

Dường những ký ức về trận lũ kinh hoàng trong quá khứ đã được con người khắc họa thành niềm mong mỏi thiêng liêng về một sự hoàn thiện nào đó, em nói,

 

Dẫu là Utanapixtim trong sử thi Gilgamesh hay Noah trong Cựu Ước có trở thành bất tử hay được quyền sống sót sau cơn lũ lớn thì các vị cũng chỉ làm mỗi công việc gầy dựng lại loài người như cũ, ta nói,

 

Những đám mây không mấy sáng sủa đang kéo về bầu trời Anatolia. Ta và em là đang đi trên mảnh đất Anatolia chẳng mấy bình yên, và đang nghĩ về cơn đại hồng thủy đã diễn ra trong quá khứ. Cơn lũ lớn xảy ra dưới bầu trời Anatolia là có thật. Và dường các bộ óc lớn của loài người nhân có lũ lớn muốn làm lại một loài người khác, hoàn chỉnh hơn. Ta và em là đang đi dưới bầu trời Antolia sắp có lũ lớn. Và đang nghĩ về các ông Noah và Utanapixtim,

 

Những đám mây mưa là đang kéo về bầu trời Anatolia. Ta và em là đang đi trong sự báo động về một mùa lũ lớn. Nhưng chẳng dám nói ra là các bộ óc lớn của loài người đã thất bại thảm hại trong mưu toan làm lại loài người. Bởi đám nhân loại được ông

 

Noah hay ông Utanapixtim gầy dựng lại vẫn giống y đám nhân loại đã chết trong đại hồng thủy.

***

Bên kia sông Halys những giấc mơ.

 

Những giấc mơ cứ lặp đi lặp lại như ai đó cứ gỡ xuống dán lên bầu trời lịch sử bức tranh về nỗi băn khoăn của lũ phù du về sự vĩnh hằng và sự quyến rũ của quyền lực,

 

Ur, Eridu, hay Uruk, hay Lagooh, đều là những giấc mơ, những giấc của thời ftesopotamia son trẻ. Giấc mơ của vua người Amorite muốn biến thành những luật lệ vàng khắc lên đá, ta, Hammurabi, ta là sự thật, Nineveh, Nimrud trên bờ sông Tigris và ftari trên thượng nguồn Euphrate là của ta, ftesopotamia là của ta, những lời vua Hammurabi rắn như đá vẫn vang lên nơi thành cổ Babylon và tắt hẳn vào một ngày có người chiến binh ftursili I của đất nước Hitite vượt qua sông Halys tiến về miền ftesopotamia son trẻ,

 

Nhưng ftursili I là một giấc mơ khác. Giấc mơ của kẻ vừa mới bước ra từ niềm cảm hứng sáng tạo. Người ta nói khi thứ kim loại có tên là sắt được con người lấy lên khỏi mặt đất thì loài người đã bước sang một thời khác. Thời văn minh sắt. ftursili I là người của văn minh sắt. Vì vua trẻ của vương quốc Hitite với đoàn quân có chiến xa bánh sắt và những vũ khí bằng sắt đã vượt sông Halys san bằng các thành trì ở ftesopotamia. Và cứ tưởng vương quốc được gầy dựng bằng sắt của mình là còn mãi nơi mặt đất. Nhưng tro than đã phủ lên niềm vinh quang chiến thắng khi một vương quốc khác, vương quốc Phrygia nổi lên ở bên bờ sông Halys,

 

Và Lydia lại là một giấc mơ khác. Croesus, vị vua cuối cùng của nước Lydia giàu có đến mức những nghìn năm sau tên của vua vẫn là thứ thành ngữ để chỉ cho sự giàu có. “Một khi ngươi vượt sông Halys là ngươi hủy diệt một quốc gia hùng mạnh”. Nhà tiên tri ở đền Delphi nói khi Croesus sửa soạn đi đánh nước Ba Tư phía bên kia sông Halys. Và cuối cùng thì Cyrus II, vua nước Ba Tư, đã tiêu diệt nước Lydia, bởi Croesus đã hiểu khác đi lời nhà tiên tri ở đền Delphi,

 

Ở Anatolia, sông fteander chảy vào ftediterranean Sea, biển Giữa, còn sông Halys chảy vào biển Đen. Ta và em là đang đi trên bờ sông Halys. Những nghìn năm qua con sông Halys vẫn chảy vào biển Đen. Và như ai đó cứ gỡ xuống dán lên bầu trời lịch sử bức tranh về sự quyến rũ của quyền lực,

 

Cuộc hành trình của ta và em như mang thêm màu sắc bi tráng khi dừng chân nơi bờ sông Halys định mệnh. Buổi trưa, tự phía trời cao thẳm như đang lần lượt đổ ập xuống dòng nước đang trôi những hình thù của nghìn năm sông núi. Ta thì như đang nhìn thấy những thành quách nhìn thấy những ngai vàng cùng những áo mũ cân đai rơi rụng. Nhưng em bảo đấy chỉ là những mộng mị của con người làm bằng những vật thể có những tên gọi mơ hồ như ánh lửa ma trơi của những đêm trăng sao chết chóc,

 

Cuộc hành trình của ta và em như thêm phần bi tráng khi dừng chân nơi bờ sông Halys định mệnh. Những nghìn năm qua con sông Halys vẫn như một thứ ranh giới mong manh giữa tồn tại và không tồn tại.

***

Vào những tháng năm con người vừa bước ra khỏi sự mông muội, cuộc thể nghiệm vĩ đại nhất của tồn tại là đã diễn ra bên bờ ftediterranean Sea, biển Giữa,

 

Buổi chiều dừng chân nơi dấu tích thành Troa bên bờ ftediterradian Sea, biển Giữa, ta và em cứ nghe như đang vang lên tiếng hát của những kẻ hát rong thời Odysseus và Iliat,

 

Ca lên đi, hãy bắt đầu bằng cơn thịnh nộ của con trai nữ thần Thetis và Peleus, vua của quốc đảo Aegina. Homeros (Homer), người khởi xướng cuộc thể nghiệm của tồn tại là đang xướng lên bài ca về cuộc thể nghiệm,

 

Hãy bắt đầu đi những cuộc tình và những cuộc chiến. Các vị thần trên núi Olympus, kẻ tạo ra những giấc mơ ngu xuẩn cho loài người là đang phủ lên mặt đất trần thế những ảo ảnh khôn cùng,

 

Homeros (Homer), người khởi xướng cuộc thể nghiệm, như đang nằm dài ra trước tòa lâu đài thi ca nhân loại mà hát, những khúc hát dường không bao giờ cũ,

 

Hỡi nàng Helen, chuyện tày đình xảy ra là do trái tim quyến rũ của em, hay là do sự ngu si đa cảm của những chàng trai ngu si đa cảm, những nghìn năm qua con người nơi mặt đất vẫn đi tìm lời giải đáp, có quả thật là vẻ đẹp của em đã gây nên những cơn giận dữ,

 

Hay cơn giận dữ thành Troa cũng chỉ là cái cớ để những kẻ hoang tưởng nơi mặt đất hoang tưởng thỏa mãn lòng tham muốn vô bờ bến của mình,

 

Helen của Spart và Parix của Troa. Hay nữ hoàng của biển

 

Aegean và vị vua trẻ dưới bầu trời Anatolia. Hay cuộc tình đã lỡ buột nói ra của nhà thơ nhà chép sử Homeros (Homer), cuộc tình dẫn đến những bất trắc khôn lường nơi mặt đất,

 

Buổi chiều dừng chân nơi dấu tích thành Troa, ta và em nghe thấy có tiếng gì như tiếng thở dài vọng lại tự những nghìn năm trước,

 

Chẳng thể nào sửa lại được những gì xảy ra ngày ấy. Khi Homeros (Homer), kẻ đề xuất cuộc tình, chẳng thể dẫn dắt cuộc tình mình đề xuất, và khi nữ hoàng Helen đã rời Spart để lên giường nằm với vị vua trẻ thành Troa, thì lũ chim có thể bắt đầu thay đổi những lời ngợi ca, lũ ong hút mật có thể bắt đầu thay đổi cách đi tìm hoa, con người có thể bắt đầu thay đổi cách nhìn thế giới, và các vị thần trên núi Olympus có thể bắt đầu thay đổi cách nhìn loài giống con người, có nghĩa, cái không thể trở thành có thể,

 

Không còn là niềm hận thù của ông hoàng thành Spart đối với vị vua trẻ thành Troa, hay là niềm hận thù của ftenelaus đối với Parix, mà bỗng trở thành mối hận thù giữa các quốc gia Spart và Troa, bỗng trở thành cuộc chiến có tính cách toàn thế giới, Spart bỗng kéo theo cả Agamenon vua của ftycene, kéo theo cả Odysseus vua của Ithaca, kéo theo cả Achille vua của Aegina, kéo theo cả các vị thần trên núi Olympus, cái không thể đã trở thành có thể,

 

Và đánh nhau bằng cả chân tay, bằng cả gươm đao, bằng cả phép màu, chia phe mà đánh, con người chia phe nhau, các vị thần chia phe nhau, bầu trời Anatolia như nơi thể nghiệm một cuộc chiến chưa hề diễn ra trong cuộc tồn tại, cái không thể đã trở thành có thể,

 

Và không có gì là không xảy ra dưới bầu trời Anatolia. Niềm hoan lạc. Cái chết. Nỗi sợ hãi. Cơn giận dữ. Những tráo trở, lừa lọc. Con người tráo trở, lừa lọc. Các vị thần tráo trở, lừa lọc. Các ông vua nơi mặt đất hoang mang. Các vị thần trên núi Olympus hoang mang. Zeus, thần của các thần, đã khóc. Apollon, Aphrodite, Hera, Athena, Hadet, Podeiong, các vị thần dưới trướng của Zeus, cũng khóc,

 

Và những con người ưu tú nhất nơi mặt đất đã lần lượt ngã xuống. Hector, và Patrocloc, và Achille, và Parix, và các anh em của Parix, những đứa con trai của Priam vua của thành Troa.

Hằng vạn trai trẻ đã lần lượt ngã xuống trong suốt mười năm binh đao. Những cái chết nơi mặt đất đã khiến cho Hadet, thần cai quản thế giới của chết, cũng cảm thấy hoảng hốt,

 

Buổi chiều dừng chân nơi dấu tích thành Troa, ta và em đã nhìn thấy vua Priam khóc con, và vua Agamenon ngỡ ngàng trước sự phản bội của người vợ thân yêu. Sau mười năm của cuộc tình

và cuộc chiến, người ta đã nhìn thấy những giọt nước mắt và những nỗi đắng cay trên gương mặt con người,

 

Vậy thì tồn tại là thuộc về tình yêu hay chiến tranh. Buổi chiều dừng chân nơi dấu tích thành Troa, em đã buột nói ra lời ấy,

 

Ta nói dường như Homeros (Homer) đã cố tình để cho vua thành Troa và vua ftycene khóc thay mình. Dường như nhà thơ vĩ đại của chúng ta đã nhìn thấy trước sự thất bại của mình trong cuộc thể nghiệm tồn tại.

***

Đêm Anatolia như có ai đó gác mắt lên bầu trời sao nhìn về

 

phía ta và em. Ta nói là Zeus, thần của các vị thần. Nhưng em bảo không phải Zeus, mà là con trai Zeus, thần Apollon,

 

Trên đường đến cội nguồn trí khôn của con người, lũ các người đã nhìn thấy trong những tro than nơi mặt đất có cả xác của khôn ngoan minh triết,

 

Lời thần Apollon như lời chào thân thiết.

(Những bài hát rong đương đại, 2012-2017)

 

CHỮ – NHỮNG HỆ LỤY

 

Câu chuyện thi ca
huyễn tượng của con vật tinh khôn  

 

những gì tôi nói về cuộc tình của tôi cũng chỉ là một hổ lốn chữ nghĩa, nhưng tất cả những thứ đó lại dính dáng với cái thế giới cái gì cũng có vẻ rõ ràng sáng tỏ nhưng cái gì cũng có vẻ tối tăm bí ẩn, một hệ lụy như sự kéo dài đằng đẵng của một số phận, những tiếng nói và việc làm của tôi và nàng luôn phải gắn chặt với những bày biện chết người của tạo tác

 

hay tạo tác chỉ là một đứa trẻ

 

em, tôi đằng đẵng một cuộc tình, đằng đẵng những hình ảnh về sự sắp đặt lại trật tự cuộc sống, cái thoảng qua hay cái vĩnh hằng, tạo tác đôi khi vẫn còn bối rối, hay người chỉ là một đứa trẻ, tôi nói người là đứa trẻ khi hiểu người như một tôn vinh sự trong sáng hồn nhiên, người là tia nắng sớm buổi ban mai, khi nói đấy là buổi ban mai thì người cứ việc là những tia nắng sớm đậu lại trên đôi mắt háo hức của lũ côn trùng và chim chóc, người cứ việc đậu lại trên những héo hắt của đám hoa dại đang tàn, người cứ việc hồn nhiên là tia nắng buổi sớm mai bởi vì người là đứa trẻ đang ban phát tặng vật cho đời, người cứ việc là đứa trẻ hồn nhiên chẳng việc chi phải chú ý đến tôi, vật thể đang từng ngày tan rã theo qui luật tan rã của các vật thể, tôi vẫn từng ngày thu xếp lại những mảnh hồn thất lạc trong những biến động của thời gian, từng ngày tôi vẫn củng cố tôi để có thể chết và sống theo cách của tôi và em có nhìn thấy tôi hay không, tôi vẫn hay thơ thẩn giữa những khoảng trống của năm tháng

 

hay tạo tác chỉ là thứ vật thể trá hình

 

người là sự trá hình lớn nhất trong những trá hình, người hiện diện trong ý thức tôi như một giấc mơ

 

tôi thức dậy cùng tiếng gà gáy sáng đám sao ngủ muộn trên bầu trời trên đầu còn nhìn tôi với vẻ luyến tiếc và ánh mặt trời khỏa lên mọi thứ những giọt sương bắt đầu tan trên các mái nhà người đàn ông bán bánh mì bằng xe đẩy đang di chuyển trên đường phố buổi trưa buổi chiều cũng vẫn những thứ đó những tiếng xe cộ những tiếng chân người…

em, tôi đã nhìn thấy một ngày nơi thành phố tôi yêu và cho đến khi hết thảy những thứ đó đã trôi qua tôi vẫn còn nhìn thấy chúng một cách rõ ràng trong ý thức tôi

 

hay tạo tác là thứ vật thể trá hình trong cả bên trong lẫn bên ngoài ý thức con người

 

hay tạo tác là nỗi do dự chết người

 

em, tôi ngồi im nơi mặt đất nhìn mây bay, những đám mây phóng đãng, thứ vật thể thoáng cái ở nơi này thoáng cái ở nơi kia, nhưng dường đang phân vân do dự như thể đang bị cột chặt vào một nỗi niềm nào đó, một thứ khái niệm đặc, khép kín, khiến cho việc bay không như mong muốn, có rất nhiều tiếng chó sủa trong làng, có thể đang có nhiều người lạ vào làng, hay làng đang xảy chuyện chi nên trong làng có nhiều người đi lại, đằng nào thì cũng là sự dịch chuyển, tiếng chó không phải là nguyên nhân của dịch chuyển, tôi phát hiện ra nỗi do dự tiềm ẩn trong những tiếng sủa, lũ chó, vật thể bị tác động bởi sự dịch chuyển muốn bày tỏ những gì đó, sủa là một cách bày tỏ chưa hết những gì muốn bày tỏ, tôi muốn nói thật nhiều về tiếng sủa của chó, nhưng lại thấy do dự trong nghĩ ngợi, bởi tiếng sủa của chó cũng chỉ là một tín hiệu của tồn tại, nhưng đằng nào thì ở làng tôi vẫn có nhiều tiếng chó sủa, cả ngày lẫn đêm, điều đó chứng tỏ con người là những vật thể phải luôn được dịch chuyển, tôi trích một qui luật chuyển động được phổ quát hóa vào trường hợp làng tôi luôn có nhiều sự dịch chuyển, là hết thảy con người sẽ không còn chốn nương thân nơi mặt đất nếu có ai đó cướp mất đất dưới chân mình, em, tôi ngồi im nơi mặt đất nhìn người ta đi lại, dường có ai đó đang quảy đàn cầm đi về phía tôi, ai, người của những tháng năm cây bằng lăng trên dãy núi trước làng không trổ hoa, tháng sáu, bằng lăng không trổ hoa, ai đó nói với tôi về những bất thường trong các mối tương quan trong trời đất, lũ chim có thể bay đến một vùng đất trời nào đó mang về những mảnh xương khô của ai đó để phổ thành những khúc hát mang hình ảnh về sự khập khiễng của cách ra hoa lá trên rừng và về sự phản bội dòng giống của đám thú hiếu chiến, đêm, nước trên các con suối có vẻ còn do dự khi cất tiếng hát khúc hát của chim, tháng sáu, bằng lăng trên rừng không trổ hoa, ai đó nói với tôi về các mức độ của điêu tàn, đấy là một khái niệm tàn nhẫn, ai lại đi định nghĩa điêu tàn, thứ vật thể phải khó khăn lắm khi nhắc tới, nhưng hết thảy những cuốn từ điển của con người đều có mục từ định nghĩa điêu tàn, hay là thứ vật thể tàn nhẫn ấy vẫn tồn tại trong các sự vật, nơi gương mặt lộng lẫy của một nền văn minh đang sáng giá lại tiềm ẩn những yếu tố tàn lụi, em, tôi ngồi im nơi mặt đất nhìn người ta đi lại, những gương mặt con người như những kiến trúc hình thành từ nỗi do dự chết người của tạo tác, có vẻ thiếu vắng, có vẻ bất an, có vẻ khao khát, có vẻ như đang muốn vùng vẫy, người ta đang chờ, thứ yếu tố mang tính thời gian vừa như ân huệ, vừa như sự trừng phạt, cuộc chơi có vẻ chưa có dấu hiệu gì  là kết thúc, tiếng ca vang từ những cuộc cờ, những tay chơi đẳng cấp, những đam mê thác đổ, những cạm bẫy và những con mắt soi mói, em, tôi ngồi im nơi mặt đất nhìn thấy làng quê tôi như đang trong cơn say, chếnh choáng gập mình trong thứ âm vang màu đen tàn nhẫn

 

có phải là có những khoảnh chết trong công cuộc tạo tác của người?

 

hay tạo tác cũng chỉ là một hổ lốn khái niệm về sự vật

người là thực thể mang trong mình nỗi bất an và đang gieo rắc những khái niệm bất an

một chiều vàng ố ánh hoàng hôn tôi nghe con người nơi mặt đất kêu lên

tồn tại là một cuộc đối thoại không bao giờ dứt giữa cái nhìn và cái được nhìn

một bảng giao hưởng buồn tôi đi

và những khái niệm cũ dần dà chết trong đất dưới chân

 

tạo tác người là nỗi bất an trong chính công cuộc tạo tác của mình

tôi trích ra từ người những mảnh phù vân trong công cuộc tạo tác của người: những khái niệm về chuyển động tạo ra những gương mặt, những hình hài, rừng, biển, núi đồi, đồng ruộng, những cát cứ của con người nơi mặt đất, những tập hợp người làm ra cây trái, mùa màng, làm ra cơm áo, tất cả những thứ ấy là cách thức hiện diện của người trong công cuộc gầy dựng cuộc sống nơi mặt đất

nhưng người chính là nỗi bất an khi tạo dựng ra những thứ đó

 

vào một ngày nào đó trong chuỗi thời gian bất tận của người bỗng thốt lên những khái niệm mới như những nhu cầu của sống nơi mặt đất, tôi trích ra từ người nỗi bất an về sự phân bố cơm áo, phân bố sự đi lại, phân bố niềm hạnh phúc, người có vẻ đang vô cùng bối rối, có những khoảnh chết trong công cuộc tạo tác của người, những khoảnh chết như nỗi bất an đọng lại thành những khái niệm

và tôi cũng đã chết cùng người, những cuộc chết ngầm, khi tôi trèo lên một vùng trời đất theo sự phân bố của người, lẽ ra tôi nhìn thấy vẻ đẹp của trăng sao, vẻ đẹp của bầu trời đầy trăng sao cư trú bên dưới là những tập hợp người đang mang trong mình những khái niệm mới về sự tự do, nhưng tôi đã ngã xuống ngay từ bước chân đầu tiên khi bước vào vùng trời đất theo sự phân bố của người, tôi đã chết theo nỗi bất an của người

 

nhưng những con người đang mang trong mình những khao khát về các cách thức của sống đã trèo lên một vùng trời đất khác bất chấp sự phân bố của người để thét lên những đòi hỏi thiêng liêng của con người, những đòi hỏi đã được người cô đọng thành những khái niệm vẫn cứ được đọc to lên, bao nhiêu lần vẫn cứ được con người đọc to lên nơi mặt đất

tôi biết người đang nằm im trong nỗi bất an để nghĩ ngợi về mình và trong cuộc hành trình đi tìm cái có thể, lần đầu tiên tôi đã nhìn thấy em lộ vẻ bất an

 

và đây, những tương quan bi thảm

 

tôi và nàng những sinh vật bé nhỏ cả về sức nghĩ lẫn sức vóc phải dò dẫm từng bước, đi, động thái có thể để tự khẳng định hay tự loại bỏ mình ra khỏi cuộc chơi của tồn tại, giữa cuộc phong ba bão táp tôi để cho hình ảnh tôi hòa vào hình ảnh nàng thành ngẫu tượng tình yêu, chúng tôi chiêm ngắm ngẫu tượng của chúng tôi như sự sở hữu hạnh phúc riêng tư, vào những ngày không nắng tôi chiêm ngắm nàng trong thứ sắc màu có vẻ như đang loãng ra, nàng đẹp, và tôi ngắm nàng trong tâm trạng vừa gạt bỏ hết thảy những phiền tạp của cuộc sống, tôi thích nét phong trần của nàng, thứ sắc màu có vẻ như đang đọng lại ấy cứ làm tôi cảm thấy xôn xao, vào những đêm không gió tôi chiêm ngắm nàng trong sự tĩnh tại của đất trời, trong chốc lát ấy tôi cứ đứng nhìn nàng, nàng đẹp một cách kỳ lạ, và tôi cảm thấy yêu nàng ghê gớm, tôi vỗ vào tĩnh tại, và cứ để mặc tôi trôi dạt vào cảm xúc yêu thương, tôi cứ dạt vào ngẫu tượng tình yêu của tôi, có ai lại đi ca ngợi tình yêu của chúng tôi, nhưng người ta đã quên mất, nó, tình yêu của chúng tôi quả thực là sự thể riêng tư, nhưng những âm vang của nó lại là sự thể đáng yêu, những lời khi yêu chẳng phải thứ tinh lực của ngôn ngữ đã đọng lại giữa thời khắc hiếm hoi, sự thiển cận của cuộc sống lại ném vào chúng tôi những lời tàn nhẫn, máu chảy thành những ngôn ngữ đau thương, vào những đêm không gió tôi không còn dám chiêm ngắm nàng, nằm nghe mặt đất lạnh ngắt, thì ra thứ quan điểm cũ kỹ lâu đời của cuộc sống đang muốn triệt phá hết thảy những cuộc tình, tôi nằm nghe những lời kêu cứu vang lên khắp nơi

và tôi yêu nàng để thế giới bình yên

(Những tổ hợp của chữ, 2016)

 

nàng  

                                  trước hết là làm cho em vui  

tôi nằm dài trên những con sóng, và chờ, hay là em đang muốn làm một cuộc bùng nổ vỡ toang hết thảy những ảm đạm trong khám phá hữu thể nhận thức, trắng đêm tiền sử, hiểu biết của loài ốc suối hay ngọn lá nhìn thấy được cách thức chuyển động của gió cũng ngang bằng với việc phát hiện mầm cây, hay là em đang bị cưỡng bức quay trở lại nơi bắt đầu cuộc hành trình, tôi nằm dài trên sóng, và nghĩ ngợi về nàng, và bắt đầu thấy chán ngấy cái thế giới luôn giấu trong nó những sự thể cũ kỹ, rách nát, rặt mùi dạy bảo, chính trị dạy bảo, văn chương triết học dạy bảo, dày cộm những thi viện, sử viện, triết viện, không, cứ gọi đó là những chỗ chứa những nghĩ ngợi của con người, trùng điệp những lý thuyết, lập thuyết, và học thuyết [hay thuyết học, cũng thế] trùng điệp những tuyên ngôn, tuyên bố, tuyên truyền, trùng điệp những hiệp nghị, hiệp ước, trùng điệp những nghị sự, nghị quyết, trí não đương đại như thể không còn chỗ để vui vẻ hay giận hờn [hay nghìn năm sau cơn gió dữ vẫn còn thổi làm rách nát tàu chuối sau hè] tôi nằm dài trên ngọn sóng và nhìn thấy nàng chấp chới giữa những khoảnh khắc đang nghiêng về phía tàn lụi, làm sao em lại ra nông nỗi này, tôi gào lên, nhưng dường như mọi việc là đang rất bình thường với nàng, đừng sợ, em vẫn là sứ giả của những cuộc đảo lộn trong nhận thức thế giới, nàng nói, cứ sợ mình nghe nhầm, tôi bảo nàng hãy nhắc lại những điều vừa nói, là em luôn dịch chuyển giữa bụi bặm và đang có nhiệm vụ mang lại cho con người thời có sử viết những ảo ảnh lộng lẫy huy hoàng, tôi nghe giọng nàng có vẻ gì rất lạ [hay đang xảy ra một cuộc cưỡng bức man rợ] nhưng còn thời chưa có sử viết thì sao, tôi cố thét to hơn tiếng sóng, nó là bão táp và em chỉ là một trong những mảnh nhỏ của bão táp, tôi nghe giọng nói nàng xa dần, rồi mất hút giữa những gào thét của sóng biển, có phải là đại hồng thủy không nhỉ, những cơn sóng dồi tôi lên cao, rất cao, cứ tưởng sẽ văng khỏi biển, nhưng không phải, một cuộc lưu đày giữa trùng dương, khi thấy mình bỗng tụt xuống chốn thăm thẳm của nước, tôi liền nghĩ đến việc không còn được gặp nàng, sẽ vĩnh viễn không còn được gặp nàng, nhưng đấy chỉ là sự đùa cợt của tạo tác, có ai đấy lại thét vào trí nhớ tôi, ai lại đến với mình những lúc thế này nhỉ, tôi lờ mờ nhìn thấy một gương mặt, không phải, một hình hài, đang bước giữa cuộc tuần hoàn, đừng sợ, chỉ là những đoạn khúc của thời gian, dường như là một hình thể ngôn ngữ đang nói trong tâm trí tôi, những cơn sóng lớn vẫn đang quật tôi lên cao, rồi xuống thấp, một cuộc lưu đày giữa đương đại, hay là những núi băng ở hai cực mặt đất đang tan, đại hồng thủy của thời có sử viết, tôi nghĩ, và buồn bã nhìn thấy một ngọn núi thân quen trong trí nhớ mình [núi nào vậy nhỉ] chiếc thuyền gỗ mắc trên đỉnh núi đang mục rã thành những trang viết chằng chịt những chữ hình nêm trên những phiến đất nung nằm lăn lóc bên dưới đất đá, những bình luận của người đời sau có kèm trích dẫn lời cổ thư… ngày mười bảy tháng ấy vào ngày ấy tất cả các mạch nước của vực thẳm vĩ đại bật tung các cổng trời mở toang [cổ thư nào vậy nhỉ] em hãy chờ tôi ở đó, tôi chợt gào lên khi nhìn thấy một trận đại hồng thủy cũ hơn, nhưng cuối cùng thì tôi đã không chết, sóng giạt tôi vào hòn đảo, thứ tôi nhận ra đầu tiên trên hòn đảo là mùi tóc nàng, hương tóc, tôi biết rồi, trong cuộc tiến hóa khắc nghiệt, em chỉ là hương thơm còn lại giữa bùn đất.

 

giã tháng ba 2017

 

her  

                     first and foremost it is to humor you  

i sprawl out on the waves and wait, or you want to create a burst shattering all dreariness in the exploration of conscious being, white primordial night, the wisdom of river snails or of leaves that can watch the wind’s method of movement is equal to discovering a nascent bud or you are forced to return to where your journey began, i sprawl out on the waves and think of her, and start to feel tired with the world always hiding within itself trite and tattered things, reeking of didacticism, bookish politics, bookish philosophy, bookish books, thick with canonical poetry, canonical history, canonical philosophy, no, let’s call them containers of our human thought, replete with theories, theorising, theoretical theory [or theory of the theoretics, the same], replete with claims, acclamations, inculcations, replete with consensus, compromises, replete with agendas and resolutions, the contemporary mind as one without any free space to frolic or sulk [or after thousands of years the cruel wind still tears at the banana leaves on the far side of the veranda] i sprawl out on the wave and see her flickering between moments that tip toward withering, how could you get like this i cry, but everything seems normal for her, don’t be afraid, i’m still the messenger of upheavals to world perception, she says, afraid that i’ve misheard i tell her to repeat what she just said, i always move among dust with the task of bringing glorious illusions to humans who live in the time of written history, i hear something off in her voice [or some gruesome harassment taking place] but what about prehistoric time, i try to shriek above the wave, it is a tornado and i am just one of its shredded bits, i hear her voice farther and farther away, perishing in the thick of the shrieking waves, could it be the great flood i wonder, waves surge and thrust me up high, high enough that i may very well be hurled out of the sea, yet no, an exile amidst the vast blue, as i feel my sudden dive into the watery abyss, i immediately think about never seeing her again, an eternity of never seeing her again, but this is just the creator’s joke, now someone shrieks into my memory, who would come to me at moments like this, i catch a glimpse of a face, no, a figure, stepping in a cycle, don’t be afraid, just mere fractions of time, it seems a body of language is speaking in my mind, massive waves keep slinging me up and down, an exile among the contemporary, or the glaciers at both poles are melting, the great flood of written history, i think, and woefully notice a familiar mountain peak in my memory [which mountain i wonder] a wooden boat docked at the mountaintop is decaying into pages interlaced with the cuneiform inscriptions on clay tablets that lie in pieces beneath the earth, posterity’s comments are accompanied by words from an ancient text… the seventeenth of the month on that day all the streams of the great abyss spring forth, all heaven doors open wide [which ancient text i wonder] please wait for me there, a cry bursts from me upon seeing the great flood of an earlier time, but in the end i did not die, the waves wash me ashore to an island, the first thing i recognize on the island is the scent of her hair, the scent of hair, i know now, in the harshness of evolution, you are but the fragrance that lingers in mud.

giã, march 2017 translation by Ngân

 

Kịch bản

 

“nó không thể diễn tả được và vượt ngoài tư duy… chỉ có thể biết được nó bằng cách biến thành nó”
– UPANISHADS (ÁO NGHĨA THƯ)

 

không ai biết cả, ngoại trừ một người, tôi, khi xảy ra câu chuyện chỉ có bọn họ và tôi, mùa thu, nặng trịch những cơn gió chuyển mùa như thể đang thổi về tự chốn trời đất hoang sơ, phải đánh đổ cho tiêu tan hết thảy những gì ta thấy còn chướng mắt, người chỉ huy cuộc thanh trừng nói, chẳng phải lén lút nói, cũng chẳng phải là tuyên bố công khai trước mọi người, những lời nói tựa thứ ma lực kỳ dị âm thầm len lỏi qua khắp ngõ ngách của thế kỷ làm bùng lên những nông nổi của hờn căm, cũng không thể nói là hờn căm vô lối, hay hờn căm không vô lối [hãy cứ để cho thời gian định giá…] cuộc thanh trừng có vẻ như niềm bí ẩn, có vẻ như chừng nào còn sự tồn tại của loài người thì còn nó [hãy cứ thử chờ sự chuyển động của thời gian…], đây là kịch bản của thời đại, đêm nghe tiếng chó sủa, người đàn ông nói với chính mình, không phải tôi muốn đẩy câu chuyện đến chỗ nghiêm trọng, nhưng rõ ràng mọi thứ diễn biến có vẻ bí ẩn như bắt đầu từ tiếng chó sủa [nói một cách ẩn dụ là tiếng chó sủa…] đây là kịch bản của thời đại, đêm nghe tiếng chó sủa, người phụ nữ nói với chính mình, và quì xuống giữa đêm trường, những lời nguyện cầu chỉ có gió đêm mới nghe thấy, những cơn gió chuyển mùa như thể đang làm cho tiếng sủa của chó lan ra khắp mặt đất, đây là kịch bản của thời đại, hễ còn xử sự tàn tệ nhau là còn thù hận, người đưa tin nói, đêm nghe tiếng chó sủa, người ta chẳng thể phân biệt được là sủa người đưa tin, hay sủa người chỉ huy cuộc thanh trừng, hay sủa những kẻ nông nổi đang bước vào cuộc thanh trừng của thế kỷ, làm sao biết hết được những gì diễn ra trong cuộc tiến hóa vạn kỷ của loài giống con người, chẳng phải có lúc tổ tiên con người đã ngủ yên đấy sao [đấy là lúc những nhà tiền sử học nhìn thấy sự đứt đoạn của chuỗi tiến hóa…] hay sự đứt đoạn là hậu quả của những cuộc thanh trừng trong quá khứ, sau những giấc miên trường giả định, có thể là những cuộc phân hóa có tích cách định mệnh, bỗng rẽ ra thành những chi, những họ, mang trong mình những cách nhìn thế giới khác nhau, vào một buổi hoàng hôn nắng nhạt nào đó, bỗng nhìn thấy những đám mây màu máu, chỗ này lập tức gọi đấy là dấu hiệu của niềm vui, nhưng chỗ kia lập tức u sầu cho là sắp xảy tai họa, những khác biệt nhau về giọng nói tiếng cười, những khác biệt nhau về cách ăn ngủ, cách làm tình, những khác biệt nhau về quan niệm sống chết, dần dần đẩy con người xa nhau ra [mặc cho những thiết lập văn hóa luôn đặt trên nền tảng yêu thương…] cho đến một hôm lòng thù hận bỗng lắng đọng thành ký ức loài giống, cho đến một hôm [của đương đại…] người ta bỗng hú gọi nhau làm cuộc hẹn hò thế kỷ, cuộc hẹn hò tìm diệt đồng loại, đây là kịch bản của thời đại, đêm nghe tiếng chó sủa, người đàn ông nói với chính mình, và nhìn thấy vị chỉ huy cuộc thanh trừng của thế kỷ đang gào lên [phải đánh đổ cho tiêu tan hết thảy những gì ta thấy còn chướng mắt…] nhìn thấy những kẻ hiếu sát đang lao vào cuộc chém giết và nhìn thấy hiện ra trước mặt mình một loài đại thụ, một họ cây to lớn vừa hiền từ vừa tàn nhẫn, cành nhánh rễ tỏa mọc khắp nơi, mặt đất lênh láng những thống khổ, những thống khổ gây bởi sự phát dục tự sinh và sự kháng dục không phải tự sinh, người phụ nữ nhìn thấy máu chảy tràn lan trên mặt đất thì kêu lên đây là kịch bản của thời đại, không ai biết chuyện này cả, ngoại trừ một người, là tôi, bởi khi xảy câu chuyện chỉ có tôi và bọn họ tôi đã đưa hết vào cơn ác mộng của tôi.

 

A Script

 

“That Invisible Absolute can be neither described nor thought … the only possibility of knowing That is by becoming
That”
– Part Six, XII, UPANISHADS  

 

no one knows everything except for one person, me, when a story occurs there is only a them and a me, autumn, turbulent winds of the turning season like gusts from primordial heavens and earth, must destruct to annihilation every last eyesore, the commander of the purge speaks, not in backroom whispers, not in public declarations, the spoken words bend like ghost magic silently threading its way through the alleys of a century, fanning the hotheaded outbursts of hate, and not being able to say if the hate is irrational or not irrational [keep letting time tell…] the purge has an air of mystery, has an air that it will persist as long as human existence persists [keep waiting for a movement of time…] , this is a script of an era, a dog barks in the night, a man talks with himself, it’s not that I want to push a story into a grave, but clearly every unfolding thing has an air of mystery like it begins with a dog barking [to say a metaphorical dog barking…] this is a script of an era, a dog barks in the night, a woman talks with herself, and kneels down in middle of a long night, prayers have only the night winds to hear them, such winds of a turning season bathe the surface of the earth with a dog’s barking sound, this is a script of an era, supposing continued abuse is continued hostility, the messenger speaks, a dog barks in the night, we can’t distinguish the messenger’s barking from the commander of the purge’s barking from the barking of the hotheaded ones walking into the purge of the century, how can we know everything that’s occurred across the eons of human evolution, not that human ancestors ever peacefully slept here [here is when prehistorians see a rupture in the evolutionary chain…] or a rupture is the consequence of past purges, after long meandering slumbers, maybe the deviations of accumulated fates, suddenly branching off, the thems, carrying within themselves different ways of seeing the world, in a certain gloaming sun, sudden blood colored clouds, here instantly called a sign of pleasure, there instantly an omen of disaster, different voices and laughter, different ways of eating and sleeping, ways of making love, different notions of life and death, gradually pulling people away from each other [despite cultural establishments eternally based on the foundation of love…] until the day a hostile heart suddenly condenses into all human memory, until the day when [contemporarily…] we suddenly howl out to each other to make a date of the century, a date to destroy fellow creatures, this is a script of an era, a dog barks in the night, a man talks with himself, and looks at how the commander of the purge of the century is screaming [annihilate every last eyesore…] looking at the bloodthirsty ones plunging into the massacre and looking at the present appearance of a giant tree, a big family tree gentle and merciless, its branches and roots disseminating everywhere, earth’s surface profuse with agonies, agonies caused by spontaneous growth and non spontaneous resistance, a woman watches blood bathe the earth’s surface until she screams this is a script of an era, no one knows the whole story, except for one person, which is me, because when a story occurs there is only a them and a me, I have carried them all into my nightmare.

translated by Kaitlin Rees

 

NHỮNG TIẾNG GỌI NGẦM

 

Thảng thốt những gương mặt
những dấu vết
những hoài bão
những tiếng gọi ngầm…

 

những khát vọng tích tụ, bão táp, hay thảng hoặc, một bầu trời trên đầu, một con đường nơi mặt đất, niềm khao khát trong mỗi cái nhìn, trong mỗi bước đi, tôi cứ thấy mình bị lung lạc bởi những ý tưởng về những cuộc hành trình tìm kiếm và khai phá của ý thức

 

có lúc tôi nằm trên đất theo cách ngửa mặt nhìn trời, những lúc như thế có thể tôi sẽ nhìn thấy bao nhiêu là cuộc đồng hành giữa tôi và những hiện hữu, như thể cuộc đồng hành giữa tôi và những người đang chết, tôi và những người đang chết lại là câu chuyện kể dai dẳng khác, trong câu chuyện kể này có thể tôi sẽ có quá nhiều lầm lẫn trong nhận thức, những kẻ đang chết từ những thế kỷ trước có vẻ như có cách hiện hữu chợt đến chợt đi, tôi mệt nhoài với thứ cách thức có vẻ mang tính thi ca hơn là sự hiện diện của sự vật, lãng đãng những mảnh trời xưa cũ, sự sống rã ra thành những ngọn sóng trườn đi trong những điệu thức trống rỗng, thành ra thi ca của tôi cũng là những sự thể trống rỗng, tôi chạy theo những kẻ đang chết để lắng nghe, có thể là những lời trần tình về những gì của ngày hôm nay hay những gì của ngày hôm qua, những mòn mỏi, những cạn kiệt, những u uẩn, mỗi một lời nghe được từ ánh nhìn giận dữ hay căm tức của bọn họ là một thế giới quan đổ nát, tôi mệt nhoài trong sắp đặt lại những mảnh vỡ của chúng, thường thì sẽ nhìn thấy một thứ thương đau có hình hài, mỗi một lần sắp đặt lại một thế giới quan đổ nát là tôi lại nhìn thấy một cách biểu hiện khác của thương đau, giống như những khái niệm sáng tỏ trong nhận thức, thương đau lan tỏa thành những hình ảnh sáng tỏ, hình ảnh về bầu trời bao giờ cũng từ chối sự trú ngụ của con người, hình ảnh về mặt đất với cuộc nhào nặn con người như một biến cố lớn nhất trong những biến cố, người ta vẫn cứ muốn có hình ảnh của con người theo một thứ kiểu thức nào đó, khi cho là do sự mặc khải của những thế lực huyền nhiệm, khi cho là do những đầu óc thông tuệ của con người, sự nhào nặn đồng hành với cuộc sống như một thứ số phận con người nhận được từ tay tạo tác, sự nhào nặn và sự giãy giụa để thoát khỏi nhào nặn trở thành thứ triết học bi thảm của con người, trong câu chuyện kể dai dẳng ấy có thể có lúc người ta sẽ nhìn thấy tôi chạy theo những kẻ đang chết, tôi đặt tôi trong hình thái phân rã để tôi nhìn tôi rõ hơn, những nỗi niềm vẫn dấu bên dưới sự điềm tĩnh thật ra chỉ là những lớp bụi thời gian lâu ngày trở thành sức che đậy, những khát vọng vẫn cứ là những sự thể lớn lao nhất trong nhận thức của tôi, chúng như thể những ngọn sóng ngầm luôn réo gọi, nhưng những khao khát của tôi luôn bị nén lại, luôn bị bớt đi, không phải tại tôi, mà tại những gì có vẻ hơi tàn nhẫn và điên rồ đang diễn ra bốn phía

 

cuối cùng tôi cũng nghe được trong muôn nghìn thi pháp của đất những lời nói về tôi và em. đã tắt những ngọn lửa những kẻ đi trước đã thắp trên những nẻo đường tìm kiếm. một tiếng gọi. thâm u tận cùng sự tiềm ẩn. những người đang chết cũng thao thức nhiều như những người đang sống. về những ngọn núi mọc lâu đời. về những dòng sông chảy ngang mặt đất. về những con người còn đang giữ được hơi thở. biển không còn giống thời băng tuyết mỗi ngày mỗi đầy. biển mỗi ngày mỗi đầy. lòng trắc ẩn của con người cũng mỗi này mỗi lưng. cuối cùng những ngọn lửa của những kẻ đi trước cũng làm sáng tỏ những ẩn dụ nơi ánh mắt đang sáng lên của lũ chim đi trú đông nơi tiếng rền của núi nơi nụ cười đã tắt của những người đã chết và nơi những sấm ngôn về độ dài của các triều đại và độ dài của những niềm hạnh phúc. cuối cùng tôi cũng hiểu ra tôi và em cũng chỉ là một cách ẩn dụ về những cách thức tồn tại. một ngày trong những ngày tháng ngoài sử lịch tôi nhìn thấy tôi đi lại giữa những khoảng cách đo bằng độ dài của niềm tư duy cũ nát. tôi đi lại và nhìn thấy những sự việc cứ diễn ra theo thứ cách thức như thể sự trá hình dai dẳng. coi ngó xứ sở là kẻ còn sót lại sau cuộc thanh trừng đẫm máu diễn ra nơi ngọn núi không phải là núi ô lim pơ. các vị thần đương đại vừa hút thuốc uống rượu vừa đọc diễn văn. những bài diễn văn dài lê thê. những thời khắc trước khi có cuộc đấu như thể đang đọng lại thành những hình thù lo lắng. đám ứng viên gương mặt đầy vẻ hèn hạ quì mọp dưới chân lễ đài ứa nước mắt vì cảm thấy hạnh phúc được tham gia cuộc đấu. tôi nghe trong gió như có bước chân ai đang đi về xứ sở tôi. tôi nghi là có ai đó muốn dòm thử vào xứ sở tôi. cái xứ sở cái gì cũng có vẻ kỳ cục. cuối cùng em cũng trở về để nói với tôi về sự vô liêm sỉ của những loài hoa không chịu tàn. một con tàu hai con tàu ba con tàu đang ra khơi. không nói lời nào biển cứ lặng lẽ vỗ vào bờ. ngày sắp tàn. tôi và em nhìn thấy ngày sắp tàn. những nghìn năm trước vào những lúc ngày sắp tàn những người đi tìm minh triết cho cuộc sống lặng lẽ bước vào ngọn núi trí tuệ. và những loài thú ăn đêm cũng hí hửng nghĩ về những cuộc săn đuổi khi đêm xuống. tôi và em nhìn thấy đêm. mặt trời bơ vơ

(Những tổ hợp của chữ, 2016)

 

CALLS FROM BELOW

 

Frightening faces
races
ambitions
calls from below

 

desires accumulate, a storm snaps, or occasionally, a celestial sphere is overhead, with a road for ground, longing in every gaze, in every step, I keep feeling myself swayed by ideas of the journeys into untouched consciousness

 

sometimes I lie on ground face up to watch sky, these times I can see how many pairings there are between me and what’s existing, like pairings between me and who’s dying, though the drawn out story of me and who’s dying is different and in it I make too many mistakes in perception, the dying ones from past centuries seem to exist in abrupt comings and goings, I’m exhausted by how they carry more poetic feeling than thingly presence, indistinct pieces of old sky, life dissolves into waves crawling within empty cadences, so my poetry is all empty contour, I run after the dying ones and listen, maybe words are what reveal the things of today and the things of yesterday, the tattered, the depleted, the innermost, every audible word from their angry and resentful gazes is a worldview in ruins, I’m exhausted by just barely rearranging the fragments, usually when seeing a thing in pain the thing has a body, every time of just barely rearranging the worldview in ruins I’ll see another expression of pain, like a concept illuminated by perception, pain infectiously turns into a shining image, an image of sky eternally refusing human residence, an image of earth with molded humans as the event of events, still wanting human images to follow some kind of formula, dictated by the revelation of mysterious powers, dictated by the wisdom of human brains, molds paired to life like single human fates sculpted by a creator’s hand, the molding and the thrashing to escape being molded become a tragic philosophy of humankind, in that drawn out story perhaps there are times someone watches me run after those dying ones, I set myself in a decaying shape to see me more clearly, the feelings are still hiding beneath a placid surface in actuality is time’s moth- eaten dust layered into a coat of armour, leftover longings are the most distinguished contours of my perception, as if the undercurrent is always calling, but my desires always restrained, always tempered, not because of me, but because things that seem cruel and foolish are occuring in every direction

 

in the end I hear among the untold poetics of earth some words spoken about you and me. extinguished are the fires that lit the paths of those who journeyed before. a sound calling. dark ending of the hidden. those dying are just as restless as those living. for the long life of mountains. for the streams flowing across earth. for the people still holding their breath. the sea no longer in its age of ice each day more full. the sea each day more full. human compassion each day less full. in the end the fires of those who journeyed before illuminate the metaphors of bright-eyed winter birds immigrating to where the mountain hums to where the laughter of the dead is extinguished and where prophecies tell how long a dynasty and how long a joy. in the end I understand that me and you are just one kind of metaphor for how to exist. one day among historyless dates I watch myself move back and forth between distances measured by lengths of dilapidated thought. I move back and forth watching things occur as if by prolonged disguise. tending to the homeland is the one who remains after the blood-wet purge occurs on a mountain that is not mount olympia. contemporary gods smoke tobacco and drink booze while reading their speeches. long dragging speeches. before a struggle stagnates into such figures of anxiety. desperate-faced candidates fall at the feet of ceremony their eyes tearing up with joy as part of the struggle. I listen inside wind that has legs like someone coming home. I doubt anyone would try come into my homeland. the homeland where everything seems strange. in the end you also come back to talk with me about the shamelessness of flowers that cannot bear their withering. a boat two boats three boats are leaving. not speaking one word at all the sea continues to silently break into shore. a day nearly withered. me and you watch the nearly withered day. thousands of years before in the nearly withered days people went in search of living wisdom by soundlessly walking the wise mountain and nocturnal animals fondled thoughts of the hunt as night fell. me and you watch the night. the desolate sun

(Combinations of words, 2016) translated by Kaitlin Rees

 

NGƯỜI ĐỌC

Dấu tích những khúc rong ca

 

Ngay từ những dòng đầu, tập thơ Những tổ khúc rời của Nguyễn Thanh Hiện đã gợi một không khí xáo động hiện sinh. ftột thế giới chòng chành, chông chênh, nơi những ý nghĩa tưởng như đã xác lập đang đi đến vô nghĩa trong khi những ý nghĩa mới còn chưa thành hình. Thơ, có lẽ, là thứ ngôn ngữ cần thiết dành cho những chiêm nghiệm riêng tư khi đối mặt với trạng thái hiện sinh xáo động như thế.

Cả tập thơ có thể xem như một cuộc du hành bất định của “tôi”, nhân vật trữ tình, khởi đầu từ ngôi làng quê hương, để rồi cứ thế phiêu bạt những xứ sở xa xôi khác – một cuộc du hành bằng tưởng tượng và của tưởng tượng. ftang bóng dáng những nghệ nhân hát rong xa xưa, “tôi” cùng ngôn ngữ ca ngâm về hành trình của mình. Từ những tổ khúc rời, một tấm bản đồ lạ lùng hiện lên qua ngôn từ – tấm bản đồ thế giới trong những khả thể của nó. Tập thơ của Nguyễn Thanh Hiện làm tôi liên tưởng đến tác phẩm Những thành phố vô hình của Italo Calvino. ftarco Pollo, nhân vật trong cuốn sách của Calvino, có khả năng nhìn thấy những thành phố lạ lùng và miêu tả chúng đầy mê hoặc, cái khả năng mà quyền lực, dù tột đỉnh như Hốt Tất Liệt, cũng không cách nào sở hữu, bởi những thành phố vô hình ấy chỉ có thể thấu thị bằng tưởng tượng thi ca. Những hình ảnh của thế giới khả thể mà “tôi” tái hiện cũng là thứ ta sẽ không bao giờ thấy chỉ với con mắt duy lý hay với tham vọng muốn thâu tóm, muốn thống trị. Ở đây, những biên giới địa lý, những khoảng cách thời đại kết nối và đồng hiện. Thế giới ấy mang vẻ đẹp và hơi thở ba-rốc, rậm rạp, u trầm. Thế giới ấy đầy những chi tiết tạo hình siêu thực. Thế giới ấy được nhìn từ con mắt của kẻ du hành, vừa ngưỡng vọng, đắm đuối vừa trầm tư, u uẩn, như thể y hiểu rằng, rồi mình sẽ phải bỏ chúng lại để đi tiếp một hành trình bất định. Trước mắt y, mọi thứ chợt bừng trong khoảnh khắc, như ánh nắng cuối cùng lóe lên chiều muộn.

 

Những tổ khúc rời đầy nhạc. Nhưng đó không phải là một thứ âm nhạc của những phép chơi ngữ âm mà là thứ âm nhạc của thơ văn xuôi, ngân lên từ sự trùng điệp câu chữ và sự dập dìu của nhịp điệu. ftột thứ nhịp điệu của nỗi say đắm, trên nền cảm nghiệm về hư vô. Vì thế, nó chất chứa, đam mê, nhưng không bồng bột, sôi trào kiểu thơ ca lãng mạn mà thâm trầm, lắng đọng trải nghiệm. Nguyễn Thanh Hiện như một thi sĩ ẩn mình. Không có mấy thông tin về ông ta có thể tìm thấy trên truyền thông. Ông chỉ hiện diện qua những bài thơ mà việc áp lên đó vài cái nhãn phong cách làm sẵn sẽ là khiên cưỡng. Nhưng tôi rất tin Nguyễn Thanh Hiện vun trồng được một vùng không gian thi ca của riêng mình. Không gian ấy vừa rộng rãi, khoáng đạt vừa kết lắng nhiều văn hóa. Ông nuôi dưỡng sự bí ẩn của không gian riêng tư ấy, ông bao bọc nó trong nỗi muộn sầu hiện sinh. Giữa thời mà ta có thể thấm thía hơn bao giờ điều ftilan Kundera từng cảnh báo về nguy cơ cái cá nhân bị công cộng hóa, Nguyễn Thanh Hiện bảo bọc sự riêng tư không chỉ cho bản thân mình, mà còn cho chính thơ ca.

Có lẽ, khi sự riêng tư bị thôn tính, thơ sẽ đến hồi cuối kết. Quả tình, thơ có thể chẳng phải là phương tiện cách mạng hay cứu rỗi nhân gian. Nhưng bất chấp bấy nhiêu hồ nghi, mỉa mai về tính chất có ích và vô ích của nó, những hiện hữu thơ vẫn là điều gì ý nghĩa, dù chỉ cho một vài cá nhân. Với Nguyễn Thanh Hiện, thơ có thể là nơi ông dồn tụ sức sống và mở rộng không gian riêng, là nơi ông sống thêm những cuộc đời khác nữa trong nhịp điệu câu chữ. Trong hình dung của tôi về một người thơ chưa từng gặp ngoài đời, Nguyễn Thanh Hiện như thể một người chơi với chữ, bình thản và đam mê, mặc quanh ông mọi thứ xoay vần. Con người chơi ấy chính là con người hoan lạc.

Hà Nội, tháng Ba, 2018

Hải Ngọc

One Reply to “những tổ khúc rời-tuyển tập trường ca”

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *