Tường trình từ những đám cháy

 

 

 

buổi sớm mai thấy mây bay trên đầu cứ muốn nói ra một lời gì đấy, về việc mình đang bước giữa một cõi rộng lớn, cái nhỏ nhoi đang nhìn
ngó giữa muôn trùng cây cỏ, chững lại một chút trong trí nhớ cứ thấy nhớ đến cái mình mơ ước,

 

 

nhưng đấy là một cô gái kiêu ngạo và đỏng đảnh,

 

 

chúng tôi là những hành khách trên chuyến tàu đang đi về phương nam, cuộc gặp ngẫu nhiên, và định mệnh, bỡi cuộc va chạm khốc liệt ấy, cứ nói cuộc gặp ấy, cuộc chuyện trò ấy, là cuộc va chạm khốc liệt đã để lại những dư âm như những thương tích, hay nói thế nào nhỉ nếu nói đấy không phải là định mệnh, bỡi cuộc gặp ấy không chỉ đơn thuần là cuộc chuyện trò về thế giới mà như thứ sự cố, một cuộc đánh động [bỗng nổi lên ngọn gió nghìn năm] đã để lại trong nhận thức tôi những âm vang đủ sức làm thay đổi toàn bộ những thiên kiến, những thành kiến, cuộc đời tôi nói cho cùng cũng chỉ là những biểu hiện của những thiên kiến, thành kiến, và tôi tin rằng cuộc va chạm này cũng sẽ làm thay đổi được nàng, người con gái kiêu ngạo và đỏng đảnh thật ra là rất cảm tính nhưng cứ cố làm ra vẻ lãnh đạm với cuộc sống, thế giới là những tai họa, nàng nói, là nàng đang rời bỏ thành phố của mình,

 

 

và kiểu kể chuyện của nàng như một thứ phép thử,    

 

rồi những câu chuyện như thể những vết thương chí mạng của lịch sử cứ tiếp tục lan truyền qua những vĩa phố có những quán cóc, buổi sớm tinh sương, hay chiều muộn, một tách trà kèm theo một cuộc chiến đẫm máu của đám sinh vật thời thái cổ, hay, cuộc rượt đuổi nhau của những con thú vừa mới tập đi tập chạy, nhưng không phải lúc nào cũng là những câu chuyện mang dáng dấp buổi cổ xưa, lần này là bọn họ đang đi về phía hành lang ấy, nơi có những người đang chờ đợi bọn họ suốt cả thế kỷ, những con bồ câu đói bị ai xua đuổi cũng kéo đến ngồi bên những người đang ngồi co ro nơi hành lang ngôi nhà có quá nhiều thứ biển hiệu giăng mắc tứ phía, cỏ, người đàn ông có ánh mắt tựa ngọn lửa bỗng hô hoán rằng cỏ đang bắt đầu mọc ở bên dưới mông đít bọn họ, chúng nó sắp chiếm hết chỗ ngồi của chúng tôi, người đàn ông có ánh mắt tựa ngọn lửa kêu to, lũ bồ câu đói chấp chới cánh, muốn bay, nhưng không bay nổi, sau tiếng kêu của người đàn ông có ánh mắt tựa ngọn lửa, hết thảy đám người đang ngồi co ro nơi hành lang đều rên rỉ, vẻ đau đớn, để thẩm tra lời nói của người đàn ông, bọn họ đã cho xe cẩu cẩu hết ra sân hết thảy những người đang chờ đợi bọn họ, lũ bồ câu đói hoảng hốt bay, và lả tả rơi xuống lại mặt đất, quả là cỏ, người mang biển tên nhà sinh vật học, một thành viên trong bọn họ, nói,  hết thảy bọn họ đều lộ vẻ hớn hở như thể vừa đạt được một thành quả to lớn nào đó trong sự nghiệp của mình, đi thôi, người có vẻ có quyền lực nhất trong bọn họ nói, rồi hết thảy kéo về phía cây cầu bắc ngang qua dòng sông nước chảy xiết, coi kìa, người mang biển tên nhà sinh vật học bỗng ngoái lại phía sau, và kêu, thì ra hết thảy đám người chờ đợi bọn họ suốt cả thế kỷ đã biến thành cỏ dại, từ hành lang trải ra sân ngôi nhà có quá nhiều biển hiệu cỏ dại đang lên xanh,

 

 

lúc đó con tàu đang đi vào vùng núi rừng phương nam,

                                                                                 

 

và như thể nàng không còn muốn tiếp tục câu chuyện về thành phố của mình khi đám hoa dại hiện ra ở bên ngoài cửa sổ con tàu đầy vẻ quyến rủ, mùa thu phương nam kỳ diệu thật ông nhỉ, nàng nói, tôi như đọc thấy một vài chút dấu vết, giận dữ hay buồn rầu, câu chuyện kể vừa rồi còn để lại trên gương mặt cô gái, phương nam là tất cả, tôi nói bằng cảm xúc rất thật để chia xẻ với nàng, bỡi phương nam với tôi là tòan bộ vẻ đẹp mặt đất gộp lại, những kho báu ẩn dấu trong từng hương gió, hay hương bùn, thứ tài nguyên của miền tâm tưởng, hay là chỉ mỗi mình tôi mới có cảm nghĩ ấy, tôi, kẻ đang từng ngày chăm chú vào gương mặt thế giới luôn canh cánh trong nghĩ ngợi rằng có những hiểm họa luôn tiềm ẩn đằng sau vẻ hào hoa của nó, tôi đi về phương nam lần này là để tìm kiếm thêm chất liệu cho cuốn sách đang viết, rồi bỗng gặp nàng, cô gái xa lạ, chỉ hỏi sơ qua ở đâu, đi đâu, sự xã giao tối thiểu khi ngồi kề nhau trên cùng một chuyến tàu, rồi lại sà vào nhau trò chuyện, không phải chuyện đời sống bình thường [bạn định đến nơi nào, hay, bạn định làm gì trong chuyến đi này] mà là chuyện lớn, chuyện số phận của con người, ngay từ phút đầu cuộc trò chuyện nàng đã đem ra kể cho tôi nghe chuyện thành phố nàng đang rời bỏ, thành phố nàng đã sinh ra và lớn lên ở đó, ngay từ phút đầu gặp nhau tôi đã nhận ra ở người con gái có vẻ kiêu ngạo ấy có thứ gì đấy như sự đồng điệu, cũng đang giăng mắc trong lòng niềm bức xúc trần thế, rừng mùa thu ở phương nam có chút gì đấy như sự trệ xuống, cây lá như đang giảm bớt sự cởi mở, từ cửa sổ con tàu nhìn ra những cánh rừng đang ngang qua tôi cứ có cảm tưởng như thể rừng cây đang cố lánh mặt tôi, nhìn ngắm thế này em cứ thấy vui, nàng cũng ngó ra cửa sổ con tàu như tôi, và kêu lên, những người trên toa tàu chợt dồn mắt về phía tôi và nàng, mặc kệ, nếu bọn họ nghĩ chúng tôi là tình nhân cũng chẳng sao, tôi nghĩ, và chợt hiểu ra rằng vì sao nàng lại không muốn tiếp tiếp tục câu chuyện về thành phố của mình, cái kiểu kể chuyện của nàng là một thứ phép thử, coi thử người ta có tỏ đồng tình với mình không, khi nhận ra điều đó tôi bắt đầu  gợi lại câu chuyện bỏ dở, thành phố của em cứ giống như góc nhân gian được trời ưu đãi, ở đó mọi thứ đều có thể trưng ra gương mặt thật của mình, tôi nói, và để cho cánh tay của mình chạm vào cánh tay của nàng cũng đang đặt trên bệ cửa sổ con tàu,  ông nói như một nhà hiền triết, nàng nói, và vội rút cánh tay khỏi bậu cửa sổ, nhưng làm sao lại có thể có những kẻ để cho những người chờ đợi mình hằng thế kỷ biến thành cỏ dại, tôi nói, và nhìn nàng, ông không tin điều đó ư, nàng nói, vẻ giận dữ, rồi tôi và nàng tranh luận về sự tồn tại của các sự vật, có những lúc tồn tại như trò chơi của số phận, nàng nói, tôi nói không phải, số phận chỉ là một bước trượt dài trong nhận thức nhân loại, những người trên toa tàu lại dồn mắt về phía tôi và nàng, chúng tôi bỗng tranh cãi nhau có vẻ quyết liệt, thật ra là tôi với nàng đang cố gỡ bỏ những giăng mắc trong lòng, dù gì tôi vẫn thấy thành phố của em như một nồi nước đang sôi, và người ta vẫn cố giả làm lầm lẫn giữa nước đang sôi và không đang sôi, tôi nói, và thử nhìn nàng, người con gái có vẻ kiêu ngạo ấy bỗng như xuống nước, thành phố của em có quá nhiều thứ ông không hình dung nổi, cô gái nói, nhìn tôi, vui vẻ như lúc mới gặp,

 

 

thở,

 

 

rồi chúng tôi cứ thử hình dung một ngày nào đó không còn phải tụng đọc những phù chú ấy nữa, bọn họ bảo đấy là những phụ chú  của văn bản chính thức về canh tân thành phố, nhưng chúng tôi cho rằng phụ chú hay phù chú thì cũng như nhau thôi, cứ giả dụ là không còn phải tụng đọc những phù chú ấy và cảm thấy sợ hãi, bỡi tụng đọc hay không tụng đọc là có liên quan một cách sinh tử đến việc hít thở hằng ngày của chúng tôi, đêm, chúng tôi thường lén ra sân nhìn bầu trời sao trên đầu, thời đại đã biến chúng tôi thành những nhà chiêm tinh nhìn sao và đoán vận mệnh của mình theo kiểu sợ hãi của những kẻ luôn cảm thấy có kẻ đang  nhìn ngó mình, cuộc sống giống như cuộc giàn trận, ngày đêm lắng nghe tiếng kèn thúc trận, tiến quân, hay lui quân [đó là cách xưa nay nói về trận mạc] nhưng bấy giờ chúng tôi chỉ nghe rặt tiếng hô xung trận, tất cả hãy cùng tiến lên, hay, vì tương lai của chúng ta, lời nào cũng là phụ chú của bản văn về canh tân xứ sở, bọn họ đã để cho chúng tôi tự trải qua gian lao và thử thách, các bạn là chủ nhân của cuộc sống này, ngày ngày, từ tòa lâu đài đó, bọn họ oang oang những lời đó, làm như thể bọn họ sợ chúng tôi quên mất chúng tôi là chủ  nhân của xứ sở [chốc nữa em sẽ kể cho ông  nghe về tòa lâu đài đó, cô gái nói vẻ tức giận] quả là sự thử thách quá lớn, chúng tôi phải tự sắp xếp thành đội ngũ, có khi đến hằng nghìn người, rồi kéo nhau qua những làng xóm đồng ruộng và núi non, tất cả hãy cùng tiến lên, hay, vì tương lai của chúng ta, ngày nào chúng tôi cũng hô vang những lời ấy, quả tình có quá nhiều lúc chúng tôi nghĩ là ngày ấy sẽ đến để hít thở thứ không khí trong lành hơn [ ông biết không đó là thứ huyễn mộng còn đau đớn hơn cả cái chết, cô gái nói, nhìn tôi với ánh mắt thiết tha] bỡi lúc bấy giờ bọn họ đang sử dụng quá nhiều dưỡng khí cho những lợi ích khác [đấy lại là một chuyện khác, rồi em sẽ kể ông nghe, cô gái nói] với lại lũ chim chóc và cây cối trong thành phố, nói chung là đám sinh vật trên mặt đất, vẫn tranh giành với chúng tôi từng chút hơi thở, rồi cũng đến ngày chúng tôi không còn bước nổi, bọn họ cho chúng tôi vào nằm ở những nhà nghỉ ngơi giăng mắc đủ các thứ biển hiệu, ăn, thở, và tụng đọc những phụ chú của bản văn về canh tân xứ sở cho đến khi chúng tôi có thể trở lại cuộc sống bình thường, vì tương lai của chúng ta, hay, tất cả hãy cùng tiến lên, chúng tôi lại kéo nhau qua những làng xóm đồng ruộng núi non và hô vang những lời ấy, non nước nghìn năm tổ tiên để lại đặc quánh những tự tình, buổi sớm mai thấy mây bay trên đầu cứ muốn nói ra một lời gì đấy, về việc mình đang bước giữa một cõi rộng lớn, cái nhỏ nhoi đang nhìn ngó giữa muôn trùng cây cỏ, chững lại một chút trong trí nhớ cứ thấy nhớ đến cái mình mơ ước, vì tương lai của chúng ta, ngày ngày ở thành phố ấy, chúng tôi thở và hô to những lời ấy, bấy giờ, điều chúng tôi biết chắc chắn nhất là phải hô to những lời ấy mới có đủ hơi thở để sống,

 

 

và đấy là cuộc lẫn lộn khái niệm,

 

                        

rồi lại có người quảy đàn cầm đi khỏi cuộc chơi, buổi sớm mai phủi áo đứng lên, bước ra khỏi cái thành phố từ ngày có đám người nhân danh những nhà khảo cứu về chim đến lập đồn bót thuần dưỡng chim trời, lũ chim ở các nơi không còn bay về đậu trên những hàng cây dọc theo các đường phố, vắng tiếng chim hót buổi ban mai buồng phổi của thành phố như bị thương tích, những nhà khảo cứu về chim quay sang lập nhà máy chế biến thức ăn cho gà, bọn họ đi khắp thành phố cổ vũ mọi người làm chuồng, nuôi gà, lập thương xá mua gà, bán gà, khi lũ chim trời đã được thuần hóa chúng trở thành những bầy đàn thân thiện không muốn rời xa con người, các nhà khảo cứu về chim nói về gà, có nghĩa cho rằng gà là chim, rồi mở trường dạy học, mở nhà tắm hơi, mở viện dưỡng lão, viện tế bần, viện tra cứu vi trùng, mở xưởng đúc chuông, xưởng chế tạo xe hơi, cổng vào các nơi đều có khắc hình ảnh của loài chim [bay] chim là tô tem của các nền văn hóa, các nhà khảo cứu về chim nói, cảnh phố phường, cuộc chơi ấy trở nên sầm uất, phiêu lưu, ngập ngụa, nhiều lúc không biết có phải mình đã già phải đến viện dưỡng lão hay là chàng trai trẻ đang đi đến xưởng chế tạo xe hơi để làm việc, người ta bắt đầu lẫn lộn giữa các khái niệm, ngài thị trưởng lúc nào cũng cười toe toét với những nhà khảo cứu về chim,
 

 

và bài luận đàn trời,
 

 

ông biết không ‘nát bấy tràng đình’ là những từ ông cụ thân sinh nhà khảo cứu phong hóa của thành phố đã nói ra trước khi trút hơi cuối cùng, lời trăn trối của người chết được truyền đi, và dội lại là những dị luận, tức những ý kiến trái chiều nhau, chúng phong phú và đủ các cung bậc dữ dội đến nỗi có thể làm nát cả cỏ cây, nhà khảo cứu phong hóa của thành phố, con trai cả của ông cụ đã mất, là tác giả của đàn trời cũng vừa mới từ nước ngoài trở về, đàn trời là chữ viết tắt của đàn tế trời, tôi sẽ đem hết sức mình cống hiến cho thành phố quê hương của tôi, vừa về tới nhà với tấm bằng tiến sĩ còn thơm mùi mực, nhà phong hóa của chúng tôi đã nói với dân thành phố chúng tôi những lời tâm huyết, nói, và khóc, ngài thị trưởng của chúng tôi bảo đấy là những giọt nước mắt của trí tuệ, chính là sự đánh giá ấy của ngài thị trưởng đã khiến cho dân thành phố chúng tôi ai cũng tìm đọc bài luận đàn trời của vị tiến sĩ vừa từ phương xa trở về hăm hở cống hiến trí tuệ cho quê hương mình, ồ, bài luận chỉ gói gọn một trang viết, nhưng có đến hằng trăm bài viết luận về bài luận đó, một lũ xu nịnh [nàng bỗng buột kêu, vẻ tức giận] ông biết không, cả bài luận đàn trời, cả những bài viết về bài luận ấy đều được đăng tải trên các báo viết, báo hình và báo nói của thành phố, ngài thị trưởng họp dân thành phố gỉang giải thêm về bài luận đàn trời, nói rất nhiều, nhưng chủ yếu, có vẻ, ông chỉ muốn nói gói gọn một câu rằng đó là trí tuệ của thời đại, sau đó, tôi và người con gái có vẻ kiêu ngạo ấy đã tranh luận về cái trí tuệ của thời đại đó, còn lúc đó, nàng bỗng bật cười thành tiếng, em đã đọc rất kỹ ông ạ, nàng thôi cười, và nói, một trăm tấn sắt thép, một trăm tấn xi măng xanh, đó là dự toán vật liệu cho việc xây đàn tế trời đã nói rất rõ trong bài luận đàn trời, bài luận cũng thể hiện rất rõ là kêu gọi lòng ái quốc của dân thành phố hãy chung tay góp sức để cho đàn tế trời hiện ra một cách uy nghi nơi thành phố chúng tôi, cả trăm bài viết của bạn bè và đồ đệ của nhà khảo cứu phong hóa là bàn về chung quanh mấy từ ‘hiện ra một cách uy nghi’ ông ạ [nàng có vẻ muốn cười to lên nữa, nhưng lại thôi] nói rút lại bài luận chủ yếu chỉ thiết tha về sự đóng góp vật liệu của dân thành phố, mà không nói đến điều đáng nói là vì sao thành phố phải xây đàn tế trời, tức, cái ý nghĩa triết học của một động thái văn hóa, cũng có nhắc đến chứ không phải không, trong lần đầu họp dân để phát động việc xây đàn tế trời, nhà khảo cứu về phong hóa nói hết thảy chúng ta đều biết trời là giống đực, gọi ông trời, chứ không ai gọi bà trời, đàn tế trời là chỗ cho chúng ta thể hiện sự hiểu biết của chúng ta về trời đất, ông nói, dường có vẻ còn lủng củng sao đó, chúng tôi nhìn thấy ngài thị trưởng nháy mắt ra hiệu cho nhà khảo cứu phong hóa dừng lại, rồi nói, phải, đàn tế trời là chốn để chúng ta nói lên niềm tin về trời của mình giữa thời đại bốn chấm không, nghe nói vậy, dân thành phố chúng tôi rất đỗi hoang mang, nhà khảo cứu phong hóa cũng có vẻ rất hoang mang [chính là chỗ niềm tin và thời đại 4,0 đã khiến cho tôi và nàng phải tranh luận nhau, rất quyết liệt, sau đó, còn lúc đó thì nàng bỗng có vẻ buồn, tiếp tục kể cho tôi nghe câu chuyện đàn trời nhưng có vẻ rất buồn] có sự khác biệt quá lớn giữa ngài thị trưởng và nhà khảo cứu phong hóa ông ạ, nhưng rồi cái đàn tế trời, kiến trúc tổng họp giữa văn minh châu Âu cổ đại và châu Mỹ đương đại, đã hiện ra một cách uy nghi ở chân ngọn núi phía tây thành phố, ông biết không, có một ngọn núi như thể buổi tạo tác tạo hóa đã đem đặt ở đó như một thách thức, ngọn núi bất ngờ đứng một mình, và quả thật, về sau, khi ngài thị trưởng lên nắm quyền chăn dân thành phố nói không với dân chúng ở đây, không cờ bạc, không hút xách, không đĩ điếm, thì lập tức ngọn núi ấy trở thành thứ giang sơn như bất khả xâm phạm của bầy đàn cờ bạc, đĩ điếm, hút xách, nói là núi đất, thực ra cây cối rất rậm rạp, núi lại còn nhiều hang động chưa khám phá hết, vào cái đêm, sáng hôm sau là hành lễ tế trời lần đầu tiên, bầy đàn hút xách đĩ điếm cờ bạc đã kéo đến hành sự ở ngay ngôi đền mà hương án là con voi đá vĩ đại gòm bốn chân, hai chân sau để trống, nhưng hai chân trước, thì một chân khắc hình ngài thị trưởng, chủ tế đàn trời, một chân khắc hình nhà khảo cứu phong hóa, trí tuệ của thời đại, sáng hôm sau những người lo công việc an ninh thành phố đã thu gom ở đàn tế trời những ống chích ma túy, những quần lót phụ nữ, những tàn thuốc đầu lọc có, xì gà có, lễ tế trời lần đầu tiên vẫn diễn ra, ngài thị trưởng đọc diễn văn, nhà khảo cứu phong hóa đọc lại bài luận đàn trời, nhưng sau đó dân thành phố chúng tôi không ai nhắc chuyện tế trời, mà lại cùng nhau bình luận về lời trăn trối của ông cụ thân sinh nhà khảo cứu phong hóa có vẻ rất ẩn mật: ‘nát bấy tràng đình’, 

 

 

rồi con tàu vào hầm núi,
 

 

nắng trưa mùa thu như đột ngột bị lấy mất khi con tàu chui vào hầm núi số 3 trên con đường bắc nam, tiếng còi tàu bao giờ cũng gây cho tôi thứ cảm giác ẩm ướt, và lần này, thì quá ẩm ướt so với những lần khác, cuộc đời tôi biết bao bận  vào phương nam, hay sông nước phương nam có sức lan tỏa kỳ diệu, nghe tiếng còi tàu trong những chuyến tàu vào phương nam bao giờ tôi cũng có cảm tưởng như đang ngang qua phù sa ẩm ướt, nhưng lần này chắc là do lý do khác,  tôi đã nhìn thấy người con gái có vẻ kiêu ngạo cô bạn gái cùng chuyến tàu với tôi đã khóc, nàng đã cố giấu tôi, khi kể đến chỗ dân thành phố của nàng cùng nhau bàn luận về lời trăn trối của ông cụ thân sinh nhà khảo cứu phong hóa [‘nát bấy tràng đình’] nàng đã khóc, đã vội quay sang phía khác kéo ống áo lau mắt, nhưng đôi mắt đỏ hoe của nàng đã không giấu được tôi, ‘nát bấy tràng đình’ là hình ảnh về tang thương đổ nát đã buột nói ra bỡi một người sắp trút hơi cuối cùng thì không còn là chuyện bình thường, thấy nàng khóc, tôi cũng rưng rưng muốn khóc, cái cảnh ‘nát bấy tràng đình’ ở thành phố quê hương người con gái tôi mới quen đã làm cho nàng khóc và làm cho tôi cảm thấy tiếng còi tàu ẩm ướt hơn mọi lần, trước khi chui vào hầm núi, con tàu cứ hụ lên từng tràng còi dài buồn bã,  rồi ánh sáng của ngày đã nhường cho thứ bóng tối màu trắng, một thứ đêm trắng nơi hầm núi cùng với thứ màu sáng vàng xám của những đèn trần toa tàu ập xuống chúng tôi, tôi thấy nàng ngồi lặng im, cúi mắt xuống đôi chân mình, bấy giờ tôi rất muốn gợi chuyện với nàng, nhưng rồi không dám, những người trên toa tàu bắt đầu ngã người ra ghế của mình và nhắm mắt trong thứ tiếng gõ đường ray đều đặn của con tàu đang được cái hầm núi gia cố thêm, tiếng gõ nghe như có vẻ kiên nhẫn hơn, chân thành hơn, thật ra đấy là sự cộng hưởng không thể không xảy ra, âm thanh của tiếng gõ và âm thanh của hầm núi, tôi thấy nàng cũng ngã người ra thành ghế của mình, và nhắm mắt, nhưng chỉ lát sau đã ngã nghiêng người về phía tôi, rồi đầu nàng gối lên vai tôi, tôi cảm thấy có thứ tình cảm rất lạ đang hình thành trong tôi, ban đầu cứ thấy như tôi đang chạm vào giá buốt, một thứ lạnh nhạt không tên, rồi cứ ấm dần lên nghe như đang chạm vào thứ mịn màng nhất của cuộc đời, rồi như có tiếng thì thầm trong trí nhớ, rồi như có tiếng nàng gọi tên tôi, không phải, tôi vội xua hết những thứ vừa hình thành trong nghĩ ngợi khi cô bạn gái cùng chuyến tàu với tôi cựa quậy đầu trên vai tôi, chưa, hình như là nàng đang trong một giấc mơ nào đó, tôi cứ mong đó là giấc mơ đẹp, và cứ thấy như cái hầm núi đang dài ra,

 

 

 

rồi thằng giặc nước,

 

 

lẽ ra lúc giật mình thức dậy [bỡi con tàu như vấp phải vật cản khi lướt qua khớp nối đường ray] nàng phải tỏ ra bối rối, phải tỏ ra e thẹn chứ , bỡi nàng đương nhiên cứ ngã đầu lên vai tôi mà ngủ, nhưng không phải thế, em sợ, nàng kêu, và đưa tay tìm bàn tay của tôi, cái cách bỗng dưng tỏ ra hốt hoảng của nàng làm tôi bối rối vô cùng, lỡ ra người con gái ấy xảy ra bạo bệnh gì thì tôi phải làm sao, tôi nghĩ, và thấy bối rối thêm, nhưng không phải, nàng đã nằm mơ, em vừa trải qua cơn ác mộng ông à, nàng nói, và vội buông bàn tay tôi ra, cho đến lúc đó nàng mới tỏ ra e thẹn [bỡi nàng đương nhiên nắm lấy tay tôi] thành phố đang ăn tết, chúng tôi đang vui với truyền thống nghìn năm của đất nước, nàng bắt đầu nói về giấc mơ của mình, con tàu vẫn còn đang trong hầm núi, vẫn cứ vang lên thứ tiếng gõ đều đặn, và buồn, vẫn cách thức ấy, ngài thị trưởng của chúng tôi vẫn cứ muốn hết thảy dân thành phố chúng tôi phải nhất nhất làm theo những lời ông, sáng mồng tết dân thành phố chúng tôi tập trung ở quảng trường thành phố để nghe thông điệp đầu năm của ngài thị trưởng, cờ xí rợp lễ đài, và những lời có cánh, rất xúc động là cái cách mỗi lần đứng trước dân của ngài thị trưởng [giọng đọc của ông cứ rung lên] ô hô nghìn năm dựng nước và giữ nước giữa muôn trùng gian khổ tiền nhân chúng ta vẫn ngang nhiên đứng giữa đất nước non sông để cho ngày nay ngày tết chúng ta kéo hết ra đây mà nhớ đến những người đã khuất, suốt mấy ngày tết dân thành phố chúng tôi như lúc nào cũng thấy thấp thoáng trong tâm trí hình bóng ông thị trưởng, thật ra, chúng tôi cũng chưa hiểu hết tình cảm dành cho đất nước của ông, mới mồng tết đã bị nộp phạt, lũ trẻ nít bất chấp lệnh cấm của ngài thị trưởng vẫn chạy ra đường đốt pháo inh trời, lên phường, những đứa đốt pháo phải lên phường nộp phạt, đám con trai choai choai mới sáng mồng một tết đã đua xe máy trên đường phố cũng phải lên phường nộp phạt, mấy người đi bộ trái luật cũng phải lên phường nộp phạt, đi bộ mà không chịu đi trên vĩa hè, lại nghênh ngang trên đường phố đầy xe cộ, dân thành phố chúng tôi cũng có nghĩ ngợi nhiều về cách giữ an ninh thành phố hơi quá nghiêm khắc của ngài thị trưởng, nhưng rồi giữa lúc chúng tôi đang vui vẻ ăn tết thì bọn cướp nước đã đến, khoảng xế chiều ngày mông một tết thì nghe súng nổ ở quảng trường thành phố, là nàng đang kể về giấc mơ của mình, mới đầu chỉ nghe súng nổ ở quảng trường thành phố, nhưng liền sau đó nghe súng nổ khắp thành phố, lửa cháy, và tiếng kêu khóc vang lên khắp nơi, chẳng phải có đánh nhau, ngày tết, các lực lượng giữ gìn an ninh thành phố đều đã được nghỉ ngơi, ăn tết, trong số những người còn sống sót và bị trói của chúng tôi có ngài thị trưởng, ông có vẻ hãi lắm, hãy trả lại xứ sở cho chúng tôi, một người trong số những người bị trói của chúng tôi hét vào mặt người cầm đầu đám lính cướp nước [đấy là một người đàn ông cao lớn, mập mạp, có khuôn mặt bành bạnh, và nụ cười rất xảo trá] trả lại xứ sở nào, tay cầm đầu hỏi, xứ sở này, người đồng đội bị trói của chúng tôi nói, ai nói xứ sở này là của các anh, là tao nói đấy, người đồng đội bị trói của chúng tôi lại hét vào mặt tay cầm đầu, chúng tôi chợt thấy ngài thị trưởng của chúng tôi nháy mắt ra hiệu cho người đồng đội bị trói của chúng tôi hãy thôi nói, nhưng người ấy đã bước tới, nhổ một bãi nước bọt vào mặt tay cầm đầu, hắn lấy tay chùi bãi nước bọt trên mặt mình rồi tiến đến chỗ đám phụ nữ đang bị trói của chúng tôi, hãy đưa hết những người này về hậu cung cho ta, hắn ra lệnh cho đám binh lính của hắn và mở nụ cười thật đểu, là nàng đang kể về cơn ác mộng của mình, em giật mình thức dậy vào lúc thằng cướp nước ấy chỉ tay vào đám phụ nữ đang bị trói của chúng em, người con gái nói, và như thể nỗi sợ hãi còn nguyên trên gương mặt nàng, tôi cứ có cảm tưởng mình là người trong cuộc, chứ không phải nàng, hãy từ giã những ngày nắng chiếu qua đầu, người không còn thể bước giữa tiếng chim vui, những nét điêu linh đẫm lệ cứ thoảng lên trong trí nhớ tôi, không thể không nghĩ ngợi khi có người sợ hãi, thuở ấy có phải người cũng gắng gượng đứng lên giữa những ác mộng, thế giới vẫn cứ như những nắm đất hồi sinh đấy rồi tàn lụi đấy bỡi không bao giờ hết bạo tàn,

 

 

với tôi thì nàng là đồng điệu,

 

 

như thể sau cơn ác mộng nàng vẫn còn tức giận, ông ấy đã bán đứng thành phố chúng tôi cho quân cướp nước, cô gái nói về ông thị trưởng của mình, nhưng đấy chỉ là giấc mơ em ạ, tôi nói, con tàu đã ra khỏi hầm núi, tôi xem đồng hồ tay, như thế là chúng tôi đã trải qua cái bóng đêm giữa ngày suốt gần hai tiếng đồng hồ, mọi người trên toa tàu đều vươn vai, thở, làm như thể hết thảy đều trải qua ác mộng như người con gái cùng chuyến tàu với tôi, nàng vẫn còn có vẻ nghĩ ngợi nhiều về cơn ác mộng của mình, buồn, từ lúc gặp nàng cho đến lúc ấy tôi chưa thấy nàng bưồn như thế, cô gái ấy là ai vậy nhỉ, cho đến lúc ấy tôi cũng chỉ biết nàng đang rời khỏi cái thành phố nàng đem ra kể với tôi, và đang đi về phương nam như tôi, cho đến lúc đó tôi chỉ biết chừng đó về nàng, nhưng em đi như thế này gia đình em có ý kiến gì không, tôi buột hỏi một câu hỏi gần như lạc lỏng, thứ tình cảm gì đã thôi thúc tôi nói ra lời coi như rất lạc lõng trong cuộc chuyện trò tôi và nàng đang trải qua, tôi không biết, cuộc chuyện trò luôn có tính khách quan giữa hai chúng tôi, nàng kể cho tôi nghe về thành phố nàng sinh ra và lớn lên ở đó, và tôi cũng có nói lên cảm nghĩ này nọ nhưng cũng chỉ là những cảm nghĩ khách quan chưa có lời nào liên quan đến chuyện riêng tư của nàng, tôi biết là người con gái tôi vừa mới quen biết ấy cũng đang rất ngạc nhiên khi đột nhiên tôi hỏi đến gia đình nàng, nàng chỉ im, để cho mấy ngón tay của hai bàn tay  cựa quậy trên hai vế của mình, và nhìn tôi, tôi cứ đọc thấy trong cái nhìn ấy là toàn bộ những bí ẩn của cuộc đời nàng, những câu chuyện nàng kể tôi nghe chỉ là những dấu chỉ từ đó có thể lần dò tới những bí ẩn [tôi cứ nghĩ là rất bí ẩn] của cuộc đời nàng, nàng, tôi tưởng tượng, như vừa mới thoát ra từ một miền non nước phù du, áo khinh cừu còn dính mùi biển lận của những kẻ biển lận, tôi nói là áo khinh cừu để cho không thường tình nhi nữ, chỉ thiếu đi con chiến mã cho em vẫn dịu dàng giữa những cơn lốc ngu xuẩn, bọn họ gian lận và ngu xuẩn cả trong việc đặt ra một nền tảng bình thường cho công việc bình thường là khai hóa dân trí, ồ, sao tự dưng tôi lại tưởng tượng ra nàng là nạn nhân của những cuộc gian lận và ngu xuẩn, nhưng nếu không phải thế thì điều gì cắt nghĩa cho việc vừa gặp tôi nàng liền trút ra những nghĩ ngợi như đang bốc cháy [một người đang có quá nhiều nỗi niềm không thể giữ mãi trong lòng rồi bỗng gặp được một người chịu nghe mình trò chuyện] nàng có cách trò chuyện với người khác, quyến rủ, và đủ sức làm bùng nổ trong nghĩ ngợi người khác, với tôi, bấy giờ, không phải là tôi với một người con gái, mà với một kẻ đồng điệu, ngay từ những phút đầu tiên trò chuyện với nàng tôi đã nhận ra ở người con gái ấy đang có những gì tôi đang có, với tôi, bấy giờ nàng là đồng điệu của tôi trong cách nhìn thế giới, về sau tôi cứ thấy ân hận [có nên ân hận không nhỉ] ngay cả việc tối thiểu tôi cũng không làm được là hỏi tên nàng và tôi cũng không nói ra cho nàng biết tên mình, giờ đây, tất cả chỉ còn là những dấu vết không tên trong ký ức,

 

 

 

lại nói về niềm tin và thời đại 4.0,

 

 

nhưng trong những phút giây mới từ bóng tối hầm tàu chui ra ánh sáng, như thể nàng chỉ tức giận một người: ngài thị trưởng thành phố của nàng, có thể là sự  bất lực và hèn hạ của một người đứng đầu xứ sở, câu chuyện trong mơ của nàng, vẫn  ám ảnh nàng, nhưng không phải, cái gì lại là niềm tin trời đất trong thời đại 4.0, nàng bỗng kêu lên và nhìn tôi với vẻ tức giận làm như thể tôi là nguyên nhân nỗi tức giận của nàng, tôi đã nhớ ra, đấy là những lời người đứng đầu xứ sở nàng đã nói ra trong cuộc vận động xây đàn tế trời ở thành phố của nàng,  hay đấy là sự sáng tạo trong tư tưởng đương đại, sự kết hợp giữa niềm tin và lý trí, tôi nêu ra giả dụ về sự sáng tạo trong nghĩ ngợi của ngài thị trưởng của nàng, cô gái bỗng nhìn tôi với ánh mắt có vẻ rất khác lạ, ông muốn nói sự kết hợp trong tư tưởng châu Âu trung cổ, sự kết hợp giữa niềm tin tôn giáo và lý trí, đúng hơn là  cuộc hòa giải giữa thần học và triết học do tu sĩ dòng Đa Minh người Ý  Thomas Aquinas đề xướng, nàng nói, tôi có hơi giật mình khi cô gái nói đến vị tu sĩ có tên lấy từ vùng đất Aquino, nước Ý, người có ảnh hưởng rất lớn đối với tư tưởng châu Âu thời trung cổ, vậy thì nàng là ai, hóa ra người con gái ấy am hiểu cả triết học và thần học,  tôi nghĩ, và cứ cảm thấy có một niềm tự hào vô cớ,  chẳng lẽ tôi lại đi tự hào về  người con gái tôi chỉ vừa mới quen biết, tôi nghĩ ngợi, thử nhìn nàng, và cố giấu đi những tình cảm xấu hổ, cuộc hòa giải của Thomas Aquinas vẫn là một thứ huyễn mộng duy lý ông ạ, nàng nói, huyễn mộng bỡi niềm tin tôn giáo của ông cũng là duy lý, bỡi không phải ông tin, mà biết, có thiên đàng và địa ngục, tôi nói, nhưng ngài thị trưởng của chúng tôi thì không phải duy lý, cũng không phải có niềm tin tôn giáo, có phải là chủ nghĩa lạc quan không nhỉ, nàng nói, nhìn tôi như thể để chờ đợi sự đồng tình [thì tôi cũng chỉ nghe em kể về ông ấy mà, tôi kêu lên trong nghĩ ngợi] hình như là ngài thị trưởng của em có thể tưởng tượng ra cảnh ngôi vua ở trong bùn, trong những ngợi ca niềm vui trần thế có những bài hát về bùn [em đi, áo gấm lẳng lơ giữa ngọn gió mang mùi lầy lội, ông vua ngồi trên ngài vàng xây giữa lầy lội tưởng tượng ra những khúc huê tình cho đám mỹ nữ, giữa da thịt nàng là những giấc mơ, cắn lấy niềm vui môi mắt để hát về bùn, hát về rác, và hát về tất cả, bỗng, tôi có những ý nghĩ hơi bốc đồng một chút như để tiếp nối những ý nghĩ của nàng] như thể bọn họ muốn đi đến chỗ tận cùng của hoan lạc, ông à, thời đại khiến cho những kẻ thô bạo nhất cũng có thể nhảy nhót, ca hát, không biết là em hiểu ngài thị trưởng, và bọn họ, những đồng liêu của ông, có đúng không nhỉ, bỗng, nàng có vẻ lạ lắm, đăm chiêu, lạnh lùng, như thể đang lục lọi trong trí nhớ những điều gì đấy, nàng bắt đầu nói về ngài thị trưởng và về xứ sở nàng như thể đang đọc trong trí nhớ, mùa đông, thành phố chúng tôi nhiều nơi nước ngập tới gối, cứ mưa xuống là bắt đầu lội bì bỏm ở những con đường ngang qua những khu  ổ chuột, nàng nhớ hết cả những  cơn mưa, mùa đông nào cơn mưa nào làm ngập gần hết thành phố, học trò các trường học nghỉ học, lũ trẻ nít mang thau giặt ra làm thuyền chèo trên đường phố, nàng nhớ hết cả những những buổi diễn thuyết của ngài thị trưởng của nàng, lúc ở quảng trường thành phố, lúc ở công viên biển, thường, sau các cơn mưa lớn, nước ngập nhiều đường phố, thì  có diễn thuyết, em cũng không biết có phải ngài thị trưởng nóng lòng lo cho dân hay không, nàng nói, và lại nhìn tôi để chờ sự đồng tình [ cho đến lúc này thì tôi cũng có thể hình dung ra một chút về ngài thị trưởng của nàng] đây là thời bốn chấm không [tức 4.0] chúng ta có thể chung tay làm cho thành phố cũ kỹ của chúng ta trở nên hiện đại, hãy tin rằng, một ngày không xa, chúng ta sẽ có một thành phố thông minh, cứ mỗi lần họp dân thì ngài thị trưởng của chúng tôi lại nhắc đến cái thành phố thông minh ấy, cứ mỗi lần chúng tôi lội bì bõm trên những con đường phố ngập trong mưa mùa đông thì thứ niềm tin bốn chấm không ấy lại dấy lên ở trong lòng,

 

 

 

rồi con tàu đi vào cái hẻm núi dài dằng dặc,

 

 

tôi dòm chừng mùa thu, có phải người đang ủ xuống tôi một khúc hải hồ, tôi gọi là ủ, bỡi người như một thứ hơi men, tích tụ của khí thiêng hoàn vũ, một cõi đi về, những bước chân lưu lạc, rồi một hôm, hay nhiều hôm nhỉ, bỗng dừng lại giữa chốn không tiếng không lời, chỉ là cái khúc nhỏ, thời đoạn của cuộc nghìn năm [thì chẳng phải người đang ủ xuống tôi một khúc hải hồ đó sao] mùa thu, người đang dấy lên những nét chạm khắc, hay còn hơn cả chạm khắc, tâm trạng của người là nét vĩnh hằng, ảm đạm, hay chỉ là cách gọi khác của sự thiếu cân bằng trong cảm xúc, trong tận cùng của thế sự, người như một đột xuất tài ba, ghi khắc, và nhớ nhung, bỗng thấy lá úa trên cây, khi bỗng nhìn thấy trên bầu trới trên đầu có những đám mây xám buồn, hơi lang thang, hay cũng lắm khi đến niên lịch ấy, khi nhìn thấy tờ lịch trên tường đến niên lịch ấy thì kêu lên: mùa thu [là cách nói tắt của ‘mùa thu đã đến rồi’] trong tận cùng của tư duy, người như thể cái bỗng chốc trong cuộc chuyển dịch vô tận, chỉ có chúng tôi và đồng loại chúng tôi hay đồng điệu của chúng tôi mới có thể diễn dịch cái bỗng chốc ấy ra thành thứ vật thể được ký hiệu bằng những từ ngắn, mà chứa đựng được hết thảy những cốt cách của người: mùa thu, bỗng tôi cứ muốn làm thứ công việc chẳng dễ chút nào là nói về mùa thu khi con tàu đi vào hẻm núi, trời đất như đang chật lại, toa tàu tôi đang ngồi như cũng đang chật lại, bỗng hết thảy những người trên toa tàu đều im lặng, người con gái vừa tả cho tôi nghe bao nhiêu tâm trạng cũng im lặng, tôi thấy nàng đang im lặng cúi xuống những ngón chân của mình, mùa thu như đang lướt qua thật nhanh ở bên ngoài cửa sổ con tàu, đó là rừng thu phương nam đó, mùa thu đang ẩn dấu trong rừng phương nam, rừng mùa thu phương nam vào buổi xế trưa có vẻ hơi kín đáo một chút, hay là tốc độ con tàu đã làm cho tôi không thể nhìn thấy hết diện mạo của chúng, mùa thu của phương nam tĩnh lặng dính chặt vào những cây lá rồi lướt qua con tàu như để mách bảo, rằng, bạn có muốn trải qua những vẻ bí ẩn phương nam thì cứ ngồi im đó, tôi ngồi im nơi toa tàu nhìn ra những khoảnh khắc đang nối nhau một cách tự nguyện ở bên ngoài cửa sổ con tàu, mùa thu như đang thay đổi bộ dạng theo từng nghĩ ngợi của tôi, rừng cây ở hai bên hẻm núi lúc như đang ngã rạp về phía sau bỡi không thể chịu đựng được vẻ u tịch như một khúc thức bất chợt của thời gian, lúc lại đứng lên với niềm vui òa vỡ, cành lá như tươi tốt hơn, vui vì như  đã nhận ra chân lý của chuyển dịch, không phải đâu, tất cả chỉ là do tốc độ của con tàu, tôi cứ muốn nói với mùa thu,

 

 

 

rồi câu chuyện cứ dài ra,
 

 

chúng tôi coi mảnh đất, nơi mình ở,  cũng quí như da thịt mình, ông nghĩ coi, lúc mới sinh ra chúng tôi đã nằm khóc oe oe ở trên đó, từ lúc mới biết đi chúng tôi đã đi lại ở trên đó, nói là đi lại ở trong nhà, nhưng cũng là đi lại ở trên đó, ở phía đông thành phố chúng tôi có dãy núi đá, em đã kể ông nghe rồi phải không là ở phía tây thành phố của em có ngọn núi đất, gọi ghềnh đá thì đúng hơn là núi đá, em lại quên nói cho ông biết thành phố của em nằm ở bên biển, dãy núi đá ấy đã tạo ra những ghềnh đá sầm uất nằm dọc dài trên biển phía đông thành phố, dãy núi đá đó cũng giống ngọn núi đất phía tây thành phố như thể buổi khai thiên lập địa có kẻ nào đó đã lén gánh đất đá đem đổ ở đó, rồi cây cối mọc lên, rồi chim chóc gồng gánh nhau tới, không biết phải bắt đầu với ông ở chỗ nào nhỉ, nàng nói, tôi cứ thấy như sông núi đang trải ra ở bốn bề, chim chóc đang bay, rừng cây đang mọc, cái cách kể chuyện của nàng đã làm tôi nhận ra rằng thời gian và không gian là những thứ không thể đem ra nói bằng lời, chứ gì nữa, nàng nói, buổi sớm mai cứ thấy chim én lượn lờ trên bầu trời thành phố, ghềnh đá phía đông thành phố là nhà của chim én, không phải, quê hương, chứ không phải là nhà, truyền thuyết kể rằng, buổi ấy, nước biển tràn lên, một chặp, những ghềnh thác hiện ra, những người mở cõi nhảy múa  hát ca một chặp thì kéo hết về chốn cũ, để lại ở chốn đó một loài sinh vật có cánh khi sinh con làm nhà cho con ở thì nhả ra những thứ quí như tơ trời, khi tập cho con bay lượn thì làm những cử động như vũ điệu của trời, đừng hỏi gì nữa, truyền thuyết nói vậy, cái cách gõ nhịp đều đặn của con tàu cứ làm tôi có cảm tưởng câu chuyện nàng kể dài vô tận, tàu đi, và những âm thanh mơ hồ như thể đang nghe thấy những câu chuyện nhìn xưa, cái cách kể chuyện của nàng cứ như một thứ phép thử, coi thử người nghe có đồng tình với mình không, chứ gì nữa, nàng nói, nhìn tôi như để chờ sự đồng tình, ai lại đi hỏi vì sao loài chim ấy có tên chim én, nhưng có một lối cắt nghĩa theo cách bảo hoàng, rằng, buổi ấy, hằng năm, thành phố chúng tôi phải cống nộp triều đình thứ tơ trời ấy, tổ chim yến bấy giờ chỉ dành cho yến tiệc của vua, loài chim trời có tên chim yến từ đó, cái cách cắt nghĩa của các nhà bảo hoàng mang trong mình thứ thế giới quan trung quân ái quốc, không chỉ có con người, mà buổi ấy cho đến các loài vật cũng phải thờ vua, một loài chim trung với vua, bây giờ thì không còn có vua, cứ tin là thế, nhưng con người vẫn quen gọi loài chim ấy là chim yến, bây giờ thì không phải cho vua, mà cho dân, toàn dân, tất cả là cho dân, ngày nay, ở chỗ nào trên mặt đất này người ta cũng nói vậy, cho nên bọn họ mới bắt lũ chim yến phục vụ cho toàn dân bằng việc lập ra công ty xí nghiệp khai thác chim trời, từ ngày có cái công ty xí nghiệp  khai thác chim trời ấy, em thấy như cách bay lượn của lũ chim yến có gì rất khác, buồn, và như không còn nhìn thấy trong cách bay lượn của chúng thứ vũ khúc của trời cứ làm cho kẻ nhìn ngắm rối lên những niềm vui, hay là đã đến lúc lũ chim cảm thấy loài người là một tai họa, đấy chẳng phải là giác tính động vật là gì, em đã nhìn thấy cái cách âu yếm hay giận dữ  nhau của chúng mỗi khi nhìn lũ chúng lượn lờ trên bầu trời thành phố, một cơn gió lạ cũng đủ làm xáo trộn cuộc lặng lẽ của một giống loài không chỉ để bay lượn mà còn như một thứ khúc thức bí ẩn của thời gian, cứ thấy như ở loài chim trời ấy có cuộc biệt đãi nào đó của tạo tác, không biết thứ tơ trời ấy [tổ chim yến] có quí giá đến mức ấy không, huyền thoại ấy cứ lung lạc nhân gian, đến nỗi, từ người cai quản cho đến nhân viên văn phòng và công nhân khai thác của công ty xí nghiệp khai thác chim trời ấy đều mắc vòng lao lý, cơn biến động trần thế bỗng tạt qua cuộc sống lặng lẽ của một loài chim lặng lẽ [cái ghềnh đá phía đông thành phố, nơi chôn nhau cắt rốn của lũ chim yến, bỗng vắng bóng những con người vốn đang tuân theo cái ý tưởng huyễn hoặc là lo cho dân]  khái niệm vì dân cho dân cũng dễ làm cho người ta lầm lẫn, không phải công ty xí nghiệp khai thác chim trời đem tặng không cho dân tổ chim yến, mà bán với giá chỉ có vua mới ăn nổi, cái giá của tổ chim yến lớn quá khiến cho từ người cai quản đến công nhân khai thác chim trời không còn giữ nổi cái giá của con người, bọn họ đã lấy cắp thức ăn của vua, và vào tù [cách kể chuyện của nàng bỗng trở nên chậm rãi, u uẩn, như thể một người đang buồn bã nói về những gì không vui của quê hương mình] em khóc ư, tôi buột kêu giữa những ánh mắt tò mò của những người trên toa tàu, thật ra, tôi chỉ thấy nàng hơi đỏ mắt, cũng chẳng biết là buồn hay là giận, chỉ kêu lên thế cho cuộc chuyện trò thêm rôm rả, người con gái tôi vừa mới quen nhìn tôi với vẻ dò xét, không có gì đâu,  nàng nói, và lấy ngón tay chặm lên khóe mắt của mình,

ông biết không, mỗi lần có chuyện lo buồn em lại đến gặp ông cụ ấy, nàng nói, 92 tuổi, quắc thước, nhà trí thức lớn của thành phố, nàng nói, đăm chiêu, như thể đang cố nhớ hết thảy những hình ảnh về con người có vẻ nàng cố ý đem ra nói với tôi, ông cụ ấy, đấy là những từ chúng tôi dùng mỗi khi nói về ông, thay vì gọi tên ông, một thứ đại từ vừa có tính chất  kính trọng, vừa có tính chất tra vấn, một nhân cách lớn, đôi khi không thể hiểu hết, đâm  ra nghi vấn, đấy là một ngày mùa đông, mưa tầm tã, mùa đông ở thành phố của em có thứ gì đấy giống như đang có  cuộc trùng phùng, gặp lại, buồn, mà chì chiết, như thể lại gặp lại cái nghìn năm xưa cũ [cái cách nàng kể chuyện cứ làm tôi cảm thấy như mình cũng đang ở giữa mùa đông, đang trở lại cái chì chiết nhớ nhung xưa cũ] ông cụ đang ngồi uống trà và nghe mưa rơi ông à, em đến thăm ông cụ giữa lúc thành phố đang nóng lên với lời phát biểu của bà phó thị trưởng, cháu ngồi đi, ta cũng đang mong có người trò chuyện, ông cụ nói, cũng sắp từ giã cuộc đời, song ông cụ vẫn  cứ giữ vẻ khinh bạc như ngày nào, như thể mọi chuyện của cuộc đời này là những cảnh trí để cho ông nhìn ngắm và nói ra những lời khinh bạc, chính là ta đã thử bước chân vào chốn đó, năm năm ở cái bãi tập đó, ta gọi bãi tập bỡi lẽ ở đó mọi thứ đều mới toanh đối với những kẻ muốn bước vào đó, tỉ dụ, khi nói, phải tập cách nói ra một nửa, nói là chỉ nói ra một nửa, cái nửa thật là cái để lại trong lòng,  nửa nói ra là phải chế biến cho phù hợp với cái ngữ cảnh lúc ấy, nói gọn lại, những gì nói ra là thuộc cái không thật, nói gọn lại là ở chốn đó, ở cái bãi tập đó, cái bãi tập người ta thường gọi với tên gọi đầy âm vang, chính trường, mọi thứ đều giả dối, năm năm ở miền hung hiểm ấy, ta luyện tập gần chết vẫn không làm sao làm được việc chừa lại cái thật và nói ra cái không thật, đồ phản bội, bọn họ bảo ta là kẻ phản bội, và kê dao vào cổ ta, hét, ông có muốn chết không, ta nói ta không muốn chết, mà muốn sống thật lâu để nhìn ngắm bọn họ, và, quả tình, là ta đã sống quá lâu, cái buổi sáng mùa đông ấy ông cụ ấy bỗng nói ra điều ông chưa bao giờ nói với tôi, là cái tập dối trá ở chốn chính trường, bấy giờ, em, sau ông cụ đến hai thế hệ, nhưng xem ra ông cụ vẫn xem em như người đồng điệu, nàng nói, còn chuyện thành phố nóng lên với lời phát biểu của bà phó thị trưởng thì sao, tôi nói, và như cũng đang nóng lên với cách kể chuyện  quá nhiều ngóc ngách của nàng, chứ gì nữa, cả thành phố đang nóng lên, ông cụ ấy cũng đang nóng lên, ông cụ mong tôi đến là để nói về chuyện ấy, người phụ nữ ấy, cái bà thị trưởng ấy là một ví dụ về cách nói ra một nửa, cháu có thấy vậy không, ông cụ ấy đã cho nổ ngay phát súng đầu tiên ngay sau khi tôi uống xong chén trà, cơn mưa lớn bất chợt đổ xuống, và gió lớn, nàng nói, nhưng chuyện đó có dính dáng chi với chuyện bà phó thị trưởng, tôi nói, có, thành phố vẫn đang nóng lên, và em thì giả lạnh, ngồi run lập cập, là để tránh câu trả lời ông cụ, không thể múa may chữ nghĩa trước mặt ông cụ, cháu có sao không, ông cụ hỏi, em nói không sao, thế là phần bình luận về bà phó thị trưởng đã thuộc về ông cụ, chúng tôi cả đời cống hiến cho quê hương đất nước, nhưng các vị đã làm được gì cho xứ sở này mà đòi hỏi này nọ, trong một buổi tiếp dân, bà phó thị trưởng đã trả lời dân thành phố như thế khi dân thành phố của em hỏi chừng nào thì thành phố hết ngập nước, ông biết ông cụ ấy đã nói gì không, đồ điếm, đấy là một con điếm cao cấp ở chính trường, để chống lại bãi chính trường hung hiểm, tôi bỗng nảy ra kế sách là đi về phía ấy, tôi, nàng và ông cụ ấy, tất cả đều đi về phía ấy, mùa xuân, những người đang đi tìm lương thảo cho ánh mặt trời đang chờ chúng tôi ở đó, bọn họ đang thiêu hủy những thuyết lý cũ, lửa đang cháy, những văn bản đất nung, những văn bản trên thẻ tre, những văn bản giấy gió thời cổ đại, những văn bản bằng bột cây thời đương đại, với đủ các thứ kiểu chữ viết đủ các thứ kiểu tư duy, tất cả đang cháy thành tro, chúng là hồn nhiên và quí giá biết bao, nhưng đến tay con người thì gây bao nhiêu tang thương, đổ nát, những người đang đi tìm lương thảo cho ánh mặt trời nói, buông tiếng thở dài, tôi thấy ông cụ có vẻ trầm ngâm, bây giờ thì làm sao đây, ông cụ nói, giọng buồn vời vợi, và có chút gì như nuối tiếc, thì chúng tôi đang chờ các vị đó, những người đang đi tìm lương thảo cho ánh mặt trời nhìn chúng tôi, nói, như thể một yêu cầu cấp bách, có cơn gió từ phía biển thổi lại [những người đang đi tìm lương thảo cho ánh mặt trời  đã chọn khúc bờ biển hoang vắng ấy để đợi chúng tôi] tro tàn của các nền văn minh của con người tung tóe trong gió biển, những đám hoa của tàn rữa, chứ gì nữa, tôi bắt chước ngôn ngữ của người con gái tôi mới quen, thì đây là đám hoa của tàn rữa chứ gì nữa, thì bác cứ nói ra một lời chúng cháu nghe thử sao, cho đến lúc đó người con gái tôi mới quen mới lên tiếng thúc giục ông cụ nói ra quan điểm của ông trước cảnh bao nhiêu thuyết lý cũ đã thành tro bụi, mùa xuân ở cái khúc bờ biển hoang vắng ấy như thể đã bị tước mất tên gọi, chỉ thấy những đất, cát, nước, và trời mây, thậm chí chẳng thấy có loài chim nào bay trên biển, cũng phải thôi, làm gì có mùa xuân giữa cái cảnh con người đang phủ nhận toàn bộ những thành tựu của mình trong quá khứ, tôi nghĩ ngợi, hay là các vị, những người nhiều chữ, hãy thảo ra những thuyết lý mới cho hợp với loài người hơn, một người trong những người đang đi tìm lương thảo cho ánh mặt trời nói, như vậy là sẽ trở lại cái cảnh tang thương cũ, bỡi bất cứ thuyết lý nào tới tay con người cũng trở nên phức tạp, có nhiều  người trong những người đang đi tìm lương thảo cho ánh mặt trời nói, tôi thấy ông cụ lại trầm ngâm, bấy giờ chúng tôi là đang rơi vào ngõ cụt, quả tình chúng tôi đang sống trong một thế giới không có tư tưởng, có phải người đã ngã xuống trong nỗi bất an, người, vào buổi bình minh ấy, đã nói ra những lời tâm huyết, đường đi của trăng sao ở trên trời, và đường đi của con người nơi mặt đất, triết lý về tự nhiên của người đã mở ra những lâu đài tráng lệ của trí khôn trên khắp mặt đất, tiếng vó ngựa buổi bình minh [của người] khua động khắp miền cây cỏ, nhưng ông cụ đã không cho phép tôi nuối tiếc, cứ vậy đi, cứ để trắng vậy đi, ông cụ nói, như quyết định cuối cùng, và, bỗng như nàng phát hiện ra điều hệ trọng, từ nay bác sẽ là vị thần đương đại của chúng cháu, hỡi thần zeus đương đại của chúng tôi hãy thốt lên tiếng nói minh triết, người con gái tôi vừa mới quen nói, đầy xúc động, rồi hết thảy chúng tôi, tôi với nàng và những người đang đi tìm lương thảo cho ánh mặt trời lấy cát biển xây ngọn ô lim pơ đương đại ở ngay chốn ấy, người hãy ngồi đây tỏa sáng cho mọi người, chúng tôi nhắc lại lời tôn vinh ông cụ, rồi chia nhau đi trấn giữ cả các ngả đường trên mặt đất cả các ngả lên trời, không cho bất cứ ai rao truyền bất cứ thứ thuyết lý gì, tôi và nàng được giao cho việc trấn giữ ở ngả đường vốn từng xuất hiện quá nhiều những tay biện thuyết, vào một ngày cuối xuân, tôi và nàng đang bàn thảo cách làm ra thành trì kiên cố trong cuộc chống giữ thì nghe vang lên đâu đó lời rao giảng, chỉ có bọn ta, là cường quốc văn minh, mới có thể mang lại tư do hạnh phúc cho các người, giọng nói ấy, chúng tôi đã nhớ ra, bọn man rợ trong lần toan cướp xứ sở chúng tôi, đã nói ra những lời đó, đồ chó, trong lúc tôi hét lên thế thì nghe nàng hỏi ông nghĩ gì ghê vây, tôi nghe nàng hỏi và nghe tiếng con tàu nghiến đường ray thì biết là mình đang rơi vào huyễn mộng, tôi nói là tôi và người con gái ấy đang đi về phía ấy, nàng hỏi người con gái nào, tôi nói là em đấy, tôi nói, và không dấu được niềm vui, nàng như cũng không dấu được niềm vui, em biết, là chúng ta đang đi về phía huyễn mộng, nàng nói, và bắt đầu kể cho tôi nghe một thứ huyễn mộng khác, cái ao trời nơi thành phố của nàng, chúng tôi không thể tưởng ra thứ thuyết lý nào lại xúi giục bọn họ làm trò ngu xuẩn ấy, trời đất ơi, là lấp bớt cái ao trời, ông có biết ao trời là gì không, chỉ là bọn chúng tôi muốn mô tả sự việc theo thứ ngôn ngữ ấy cho bớt tức giận, ao trời là biển cả bao quanh thành phố của em đó, thành phố của em cứ giống như một cái mỏm chó, thứ mỏm chó thật dài đang chỏ ra biển mà sủa, nói theo kiểu văn bản chính thống thì đấy là bán đảo ông ạ, thành phố của em là cái bán đảo đang vươn ra biển từ cái mỏm chó cho tới chỗ đầu thành phố cũng dài đến bốn năm cây số, và vào một ngày nắng ấm, chúng tôi thường bắt đầu câu chuyện ấy như thế, bằng cách cho rằng nó bắt đầu vào một ngày nắng ấm, còn vì sao phải bắt đầu như thế thì chúng tôi không giải thích được, có điều cứ bắt đầu theo cách ấy thì thấy bớt tức giận, vào một ngày nắng ấm, một thằng cha mập mạp có gương mặt có vẻ thông thái vác cái máy ngắm to tổ bố đem đặt ngay chỗ phần chót của thành phố, tức ngay chỗ cái mỏm chó, rồi dán mắt vào ống kính máy ngắm, rồi quay ống kính đi khắp hướng, khi chỏ ra biển, khi chỏ về phía ghềnh đá, quê hương của lũ chim yến, phía đông của thành phố, tức phía đông cái mỏm chó, khi chỏ về phía đất liền của thành phố, rồi lại rời ông kính, đứng nhìn trời biển, nghĩ ngợi, rồi lại dán mắt trở lại ống kính, suốt cả mấy tháng trời, ngày nào, sáng ra, là dân thành phố của em lại nhìn thấy thằng cha mập mạp ấy vác cái máy ngắm to tổ bố ấy đem đặt  ở chỗ cái mỏm chó ấy, và bắt đầu ngắm nghía, một lời, đồn thành năm thành mười lời, thời đại con người luôn mong ngóng một cái gì đó thuộc về phía trước, thuộc về văn minh đương đại, ‘ thành phố chúng ta sắp bước lên thành phố thông minh rồi’, từ việc ngày nào cũng nhìn thấy thằng cha mập mạp ấy nhìn ngắm trời đất thì lời đồn thổi ấy là nghiêm túc và có tính chất khoa học nhất, ông biết không, mong ước ấy đã trở thành niềm tự hào vĩ đại  của thành phố của em, thành phố thông minh là thế nào nhỉ, cứ mỗi lần lén thầm hỏi mình như thế là cảm thấy rạo rực cả tâm can ông ạ,  nàng nói,  và lại dòm chừng thử tôi có phản ứng gì không [và tôi thì chỉ nhìn nàng với ánh mắt hơi diệu dàng một chút, tín hiệu rằng tôi đang rất thích nghe, chỉ thế, chứ không dám nói lời gì vì sợ làm gián đoạn cảm hứng của nàng, và, quả là nàng đang bước vào chỗ vô cùng hệ trọng] nhưng lời đồn thổi có tính chất khoa học ấy tắt ngấm từ những phút đầu tiên ông ạ, người ta không còn tin chuyện thành phố thông minh ông ạ, mà chỉ tin, rằng, ở trên người ta đang lừa  mình bằng cái thành phố thông minh ấy để mình vui vẻ đóng thuế, vui vẻ làm các nghĩa vụ công dân, tức, thay vì lời đồn thổi có tính cách khoa học là những đồn thổi như nắng rụng chiều hôm được nhân lên khắp thành phố, thằng cha có vẻ thông thái với cái máy ngắm to tổ bố ấy trở thành thứ nội dung  éo le của câu chuyện nghìn lẻ một đêm thời nay, ta đang ngắm lũ khủng long đấy các cháu ạ, hằng triệu triệu năm trước lũ khủng long to lớn  đã bị tiêu diệt bỡi bàn tay con người các cháu ạ,  tỉ dụ, người ta đồn thổi thế, người ta nói rằng thằng cha có vẻ thông thái ấy đã nói với lũ trẻ con khi bọn chúng bu quanh ông ta với cái máy ngắm của ông ta, một dân tộc còn giữ được quốc hồn quốc túy là biết nổi giận trước những việc làm bậy bạ của đám người trị nước ông ạ, dân thành phố của em đang nổi giận về cái mưu đồ lấn biển ngu xuẩn ông ạ, thằng cha có cái máy ngắm to tổ bố ấy là một trong đám người mưu đồ lấn biển, xưa, tiền nhân chúng ta cũng lấn biển, nhưng đấy là chuyện khác, rất khác, cứ thấy thấp thoáng nơi người một vầng trăng lạnh lẽo, ta vẫn cứ thấy không thể không yêu xứ sở mình, nàng nói, và tôi thì bắt đầu thấy thầm yêu nhớ trộm nàng, những lời ấy là của một người viết, không phải của bọn cả đời chỉ mưu toan làm sao cho thật nhiều người biết đến tên tuổi chúng, mà của một người viết đang rụng xuống một giấc mơ cố thổ, trong lúc chờ đợi nó là chuyện gì, tại sao lại có chuyện ông người có vẻ thông thái ấy ngày nào cũng vác cái máy ngắm đến chỗ cái mỏm chó ấy, chúng tôi cứ tiếp tục nghe bao lời đồn thổi về ông ta, là những áng văn bất hủ, phải nói vậy ông ạ, chiều xuống, nhà thám hiểm vịt trời buồn bã xếp chân chống máy ngắm lại, vác lên vai, rồi buồn bã bước đi giữa những đợt sóng biển đang tấp vào bờ, cái buổi chiều cuối xuân không bướm không hoa cứ như cô gái già bỗng bước vào cuộc đời một nhà thám hiểm cô độc đang trong tâm trạng u uất bỡi ngày nào cũng phải đem cái máy ngắm chết tiệt ấy ra để ngắm trong cảnh mỏi cổ chờ một tin tức mới từ chốn trên cao, đấy, một mẫu tin về nhà thám hiểm, có nghĩa là ông ta đang ngóng chờ một công văn hay chỉ thị gì đó của cấp trên, về sau thì mới biết cái ông người mập mạp ấy là nhà khảo cứu du hí, còn lúc bấy giờ, do chưa biết gì cả, nên  đám nhân gian đang tức tối nhiều chuyện ấy đã gọi ông ấy là nhà thám hiểm vịt trời dẫu ở thành phố biển của em chẳng có  mống vịt trời nào hết, không, em lại đọc sai rồi ông à, không phải nhà thám hiểm vịt trời, mà là nhà thám hiểm vịt trời của chúng ta, phải có mấy chữ ‘của chúng ta’ nữa, vậy đấy, có những mẫu  tin về nhà khảo cứu du hí ấy, nghe xong, chúng tôi không cầm được nước mắt, như cái giang sơn này đang đổ nát vậy ông à, không đổ nát làm sao được trong khi bao nhiêu thứ phải làm, không làm, lại đi lấn biển, nàng nói, giọng nói càng lúc càng buồn, rồi con tàu vẫn cứ gõ lên đường ray thứ nhịp điệu tẻ ngắt, đất nước tôi bao nhiêu đời vẫn làm nhỏ nhỏ lệ bao nhiêu con người vẫn coi quê hương xứ sở mình như xương thịt của mình, vẫn cái kiểu sóng vỗ chiều hôm ông ạ, nàng nói, bấy giờ đám nhân gian đang tức tối nhiều chuyện ấy lại đứng về phía nhà khảo cứu du hí để mô tả ông ấy trong một buổi chiều hôm, hơi cổ điển một chút ông à,  bỡi bọn họ gọi ông ấy là chàng, nàng nói, chàng kéo cổ áo lên cao, đứng lặng hồi lâu trước biển, chiều, lũ vịt trời như đang  vô cùng bối rối trước cảnh bối rối của nhân gian, không bay nữa, mà bỗng hết thảy kết thành một khối, cánh con này tiếp với cánh con kia, một thứ cảnh trí trần gian kỳ cục, lũ vịt trời nói chúng không bay nữa, mà đứng đó để hỏi, rằng tại sao lại để cho chàng cô độc, rằng ba phía biển một phía đất, tại sao lại để cho chàng ngày nào cũng ra đứng ở cái phần đất nhỏ nhoi đó để ngóng đợi cái gì, rằng cái gì là cái gì, rằng trần gian hiểm ác, có những kẻ đi gió về mây, lừa lọc, đám nhân gian đang tức tối nhiều chuyện ấy đã để cho nhà khảo cứu du hí đứng về phe của lũ vịt trời, khi tiếng nói của con người không còn coi ra gì thì con người lại đi mượn tiếng nói của loài vịt trời ông ạ, bọn họ tức vì cái cách chơi trò úp mở, không nói đó là chuyện gì, cứ cử một người có vẻ thông thái ngày nào cũng vác cái máy ngắm đến đó, nhưng cuối cùng mọi chuyện cũng đã rõ ông ạ, xe ben chở đất bắt đầu chở đất lấy ở ngọn núi đất phía tây thành phố đem đổ ở cái mỏm chó ấy, bắt đầu lấn biển ông ạ, ngài thị trưởng đọc thông điệp mùa đông, bọn họ bắt đầu lấn biển vào mùa đông ông ạ, đấy là công trình cáp treo tầm cỡ thế giới nối cái mỏm chó ấy với ghềnh đá ở phía đông cái mỏm chó, ‘các vị sẽ đi ở trên đó ngang qua một vùng trời mây và biển cả để rồi sau đó các vị sẽ được nghe những khúc hát ru của loài chim yến ở cái ghềnh đá triệu triệu năm tuổi ấy’ , em trích một đoạn trong thông điệp mùa đông của ngài thị trưởng đó, nàng nói, nhìn tôi với ánh mắt đầy ẩn ý [tôi biết là người con gái tôi vừa mới quen muốn mở ngoặc vuông với tôi rằng theo cách nhìn của ngài thị trưởng thì lũ chim yến ở thành phố của nàng cũng biết hát ru] lấn biển thật rồi ông à, phải nới cái mỏm chó ấy ra cho đất đủ rộng để xây hệ thống cáp treo, đem đất của ngọn núi phía tây thành phố nối vào cái mỏm chó ở phía đông thành phố, quả tình, đến lúc đó dân thành phố của em nể nang đám cơ giới ấy thật, xe đào đào đất ở ngọn núi phía tây thành phố, xe ben chở đất mới đào được chạy rung rinh thành phố, xe san đất trực ở cái mỏm chó để san đất ra phía biển, dân thành phố của em nể, và im lặng chờ thử kết cuộc, như bọn nịnh hót thì đua nhau viết bài ca ngợi công trình thế kỷ, báo nói báo hình báo viết của thành phố đầy rẫy những lời nịnh hót, nhưng đài khí tượng thủy văn  nói đấy là cơn mưa bão lớn nhất thế kỷ, sóng to gió lớn đã ập vào thành phố của em, chỉ sau một đêm sáng ra người ta không còn nhìn thấy cái phần đất mới nối vào cái mỏm chó ấy, tức, chẳng còn nhìn thấy cái doanh trại trên phần đất mới dành cho các khà khảo cứu hội họp và người bảo vể công trường ngủ về đêm, tức, không còn nhìn thấy cái xe san đất ngày ngày vẫn cặm cụi san đất mới đổ ra biển, ngài thị trưởng không đọc thông điệp xin lỗi dân thành phố, nhưng ai nấy đều biết cái công trình cáp treo đã kết thúc, ngày nay nều thử nhìn về phía tây thành phố sẽ trông thấy ngọn núi đó như bị ai gặm mất một phần cây cối để trơ ra thứ đất  đỏ au ông à,  và nếu có ai hỏi thử về cái công trình thế kỷ ấy thì bất kỳ người dân  thành phố nào cũng bảo rằng vụ ấy đã chấm dứt ngay cái đêm người bảo vệ công trường và cái xe san đất đã vĩnh viễn đi vào lòng biển cả,

 

 

 

và đã đến lúc con tàu ngang qua ruộng đồng,
 

 

 

thời gian như đang loãng ra, nàng nói lúc nàng rời khỏi thành phố của mình thì ở đó đang trải qua cơn sốc đất đai, đã cắm biển đề tên rồi ông à, biển đề ‘Khu đô thị mới’, tấm biển làm bằng xi măng cốt thép cũng gần chục mét vuông đặt ngay cạnh cái hồ nước nghìn năm mây bay của thành phố của em ông ạ, bọn họ không lấp được cái ao nước mặn, tức lấp biển đông, họ lại quay sang lấp cái ao nước ngọt của trời, hồ Bạc Đầu, cái biển nước ngọt mênh mông ấy ở phía tây thành phố của em, tức ngả vào thành phố của em, là một phép thử của trời ông à…’người đi, rựng khói chiều lam nhạt, con tôm con cá ăn đêm, cây cối ngã mình bóng nước, có đến bạc đầu cũng sắc phù trầm’ , thơ của nhà thơ lớn của thành phố của em đó, buổi sớm mai dạo quanh hồ nghe con cá quẫy mà làm được thơ, nhìn bằng trái tim mà làm, bỡi hai con mắt đều mù, nàng nói về nhà thơ mù của thành phố của nàng, trước khi rời thành phố em đã đến đó ông à, ‘Khu đô thị mới’, biển đề như thế có nghĩa biển nước ấy sẽ được lấp đi để thành cái chỗ ở của con người, có nghĩa, không còn là chỗ ở của  cá tôm…’mấy nghìn năm con cá quẫy giữa tĩnh mịch’, thơ của nhà thơ lớn của thành phố của em đó, sao lại ‘con cá quẫy giữa tĩnh mịch’ ông nhỉ, trước khi rời thành phố em đã đến đó ông ạ,  buổi chiều thu, nơi hồ nước mênh mông ấy, như thể vẫn cứ đang tồn tại thứ chi tiết của trời đất, cứ bước chân đến đó là liền nhận ra những thứ đó, có vẻ thấm đẫm, dai dẵng, trì kéo, cái vĩnh hằng ấy  chỉ có thể lặng thinh mà nhìn ngắm, buổi chiều thường là khoảng thời gian để người ta đổ đến đó, có cả những người đến đó để câu cá, có cả những người đến đó để chụp ảnh, có cả những người đến đó để ngồi kê giấy lên gối mà viết, ngày nay cái đám làm văn chương ở thành phố của em nhiều vô khối, có cả lũ nhỏ bán báo, và những bà chị bà mẹ bán ghẹ luộc, ốc luộc, trứng luộc, và cả những người chẳng làm gì cả, chỉ đến đó để đứng bên cái hồ nước mênh mông đó mà nghĩ ngợi, thì cứ xếp em vào loại người đó, ông ạ, trước khi rời bỏ quê hương người ta thường nghĩ ra được đến cả những điều lạ lùng nhất vẫn cứ tưởng không bao giờ nghĩ được, bấy giờ, với em, cái biển đề bằng xi măng cốt thép ấy như một kẻ phản bội, nhìn cái biển nước mênh mông ấy, rồi nhìn cái biển đề ấy, rồi cứ muốn hét to lên, hãy cút đi quân phản bội, bấy giờ em cứ hét lên trong nghĩ ngợi như thế ông ạ, coi như trong cái chiều thu buồn bã ấy em đã chính thức gây gổ với cái biển đề bằng xi măng cốt thép bỡi cứ thấy như thể nó cứ nhìn thẳng vào mặt em mà nói, cái hồ nước bây giờ là khu đô thị mới, biết chưa, trong nghĩ ngợi của em bấy giờ là cái giả thuyết đen tối ấy, có phải chính là mi đấy không, hỡi quân cướp nước, thì người ta đang đồn ầm lên rằng ngài thị trưởng đã bán cái hồ nước ấy cho đám người ngoại quốc mà ông, nàng nói, đồng ruộng ở hai bên cứ hắt vào con tàu thứ hương vị nghìn năm vấn vít chân trâu, nói rõ ra là hương lúa, hương bùn, và hương gió, thứ gió thổi lại từ phía biển tôi biết là không xa đồng ruộng ấy lắm, tôi gần như nằm lòng phương nam trải ở hai bên con đường tàu ấy [tôi cũng không còn nhớ là mình đã trải qua những cảnh trí ấy bao nhiêu lần] vào giờ phút em nghĩ đến cái giả thuyết đen tối và tức giận thì lại có người chia xẻ ông ạ, cuộc chuyện trò với người câu cá ấy như thể để cho nghĩ ngợi nó tự do bùng nổ ông ạ, em đã đi hỏi thử một người đánh cá đêm thử có nghĩ ngợi giống mình hay không [nàng nói người câu cá  là ngư dân của thành phố, một ông cụ tuổi cao nhưng còn khỏe lắm, biển động, không đi đánh cá đêm được, đi câu hồ kiếm thêm con  tôm con cá làm bữa] ngay cả con người ít oi ấy cũng thấy ra nó là như vậy ông ạ, nàng nói [và như thể chẳng cần sự chia xẻ của tôi] cái hồ nước là trời sinh ra cho đất đai có chỗ để thở, lấp nó đi, trời mưa xuống, nước tràn, đất đai chết ngạt, ngôn ngữ chắc thiệt của người đánh cá đêm khiến em cứ thấy như mình sắp chết ngạt đến nơi, nhưng bác có nghĩ là họ có làm thật không, có lấp nổi hồ Bạc Đầu của chúng ta không, em hỏi thử, người đánh cá đêm có vẻ như đã ngấm việc đời, nhà nước thì chuyện gì làm không nổi, cháu, chỉ có điều, cái khu đô thị đây là cho ai ở, dân thành phố chúng ta, những người chưa có nhà thì không đời nào mua nổi đất đai kiểu qui hoạch quá tốn kém như thế , hay là  trên họ đã bán cho người ngoại quốc rồi cháu à, ông cụ ấy đã nói với em như thế ông ạ, lúc em rời thành phố thì người ta đã cho rào  bốn chung quanh cái hồ nước ấy và xe chở đất đá đã chở đất đá đem đổ xuống cái hồ nước ấy, thấy ở bờ hồ có thêm biển đề: nhà đầu tư Space Group, là tập đoàn của trời chứ gì, lúc mới nhìn thấy nó em đã nghĩ đấy là của đám người ngoại quốc, em cứ có cảm tưởng như bọn họ, cái đám người ngoại quốc ấy, cứ muốn dẫm lên xứ sở người khác chơi, ông à, muốn có con tôm con cá cũng đến đó, muốn có thơ để làm cũng đến đó, muốn trò chuyện với người tình một chút cũng đến đó, tự dưng cái biển nước nghìn năm mây bay ở ngả vào thành phố ấy biến khỏi đám cư dân đời đời gắn bó với nó thì cuộc sống quả đến hồi quá tồi tệ, ông à,

 

 

 

nhưng đấy là thành phố hai triệu rưởi dân,

 

 

nàng nói với tôi thành phố của nàng có hai triệu rưởi dân, hai triệu rưỡi người đủ các thứ hạng, ông à [nàng nói là đủ các thứ hạng, chứ không nói đủ các sắc tộc, theo tôi, cái cách liệt kê như thế thấy như nó mang trong nó một cái gì như sự sầu muộn chứa chan, đủ các thứ hạng tức là đủ các hạng người, như thể hạng người bần cùng, hạng người phú quí, hay có hạng người hôm trước trên các mặt báo chí gọi là ngài tổng trưởng XYZ, nhưng hôm sau, cũng trên các mặt báo ấy, lại gọi là phạm nhân XYZ, tôi giả dụ thế để hiểu về cách liệt kê của nàng] hai triệu rưỡi dân nhưng phải nói là trình độ chính trị kinh tế xã hội còn rất kém, hay là quá kém ông nhỉ, em nói vậy là căn cứ vào việc làm của trên ông à, nó là thế này ông à, biết trình độ chính trị kinh tế xã hội của hai triệu rưỡi dân còn kém nên trên đã cử các nhà khoa học liên tục về gặp dân thành phố của em để diễn thuyết, nói chung, phần xác chẳng nói chi, nhưng phần hồn dân thành phố của em liên tục được nâng cao, thành phố của em ngày nay có cả nhà máy chế biến thức ăn cho gà [chuyện này thì hồi nãy nàng đã kể với tôi] có cả biển cả, bỡi thành phố là nằm bên biển mà ông, và có cả ruộng đồng nữa, tại sao lại được vậy, là do trên đã cho sáp nhập vào thành phố những miền quê chung quanh thành phố, nói gọn lại, ngày nay ở thành phố của em có thể nghe tiếng còi tàu thủy, nghe tiếng máy của nhà máy chế biến thức ăn cho gà, nghe tiếng gà gáy, tiếng chó sủa, có thể là nghe sủa vào cả ngày lẫn đêm ông ạ, về kiến thức về ruộng đồng thì đã có nhà khảo cứu nông học liên tục về thành phồ của em diễn thuyết về các mô hình canh tác trên thế giới, này nhé, bây giờ người ta không còn căn cứ vào con trâu  đâu nhé, mà căn cứ vào giống cây trồng, giống vật nuôi, trồng cây gì, nuôi con gì, nó có cái lý của nó, bây giờ là căn cứ vào tư duy, hoặc tư duy, hoặc là chết, chúng ta đang tư duy, và đang tự hào thành phố chúng ta có rừng vàng biển bạc, tất nhiên là do quá cảm xúc trước cuộc sống ngồn ngộn các thứ mà nhà khảo cứu nông học của chúng tôi đã thêm vào thứ thành phố không có như vậy, khi người ta quá yêu quê hương xứ sở, có lầm lẫn một chút cũng được thôi, ông à, đấy là nhà khảo cứu nông học các báo chí gọi là người có tâm có tài ông ạ…’non sông vạn lối đi mờ tỏ,  thấp thoáng trăng non vạn con đò’ đấy là khi đọc tham luận về cây lúa nhà khảo cứu nông học của chúng tôi đã chêm vào đấy, là vạn con đò hay là một con đò em không còn nhớ chính xác, nhưng một hay một vạn chẳng quan trọng, hay, thơ ông ấy làm hay là ông trích của ai, và trích có trúng không, cũng không quan trọng, điều đáng nói là một nhà khoa học đang mang trong mình tình cảm lãng mạn, những vườn cây trái hai bên con đường tàu như đang chêm vào tâm trí tôi chút hương vị thần tiên, chôm chôm, rồi sầu riêng, rồi nhãn, những vườn cây ăn quả đang trải qua cửa sổ con tàu một phương nam hào phóng, thú thật, bấy giờ, khi đang trò chuyện với nàng, nhưng khi nhìn thấy đám cây trái chín lựng vút qua cửa sổ con tàu là trong trí nhớ tôi cứ hiển hiện ra buổi ấy, buổi tôi còn lưu lạc phương nam, ăn đi cháu, bà cụ chủ vườn chôm chôm mời mọc, tôi thử nói như thế để bà cụ phương nam phản ứng thế nào, tôi nói là mình ở tận ngoài Mù Cang Chải vào phương nam chơi, và bà cụ lại có vẻ thích thú, hào sảng hơn trước, ăn cho nhiều vào, và lúc đi phải nhớ mang cho thật nhiều về ngoài đó nghe cháu, cái cách đối đãi như nước phù sa ngập bờ của bà cụ phương nam cứ làm tôi thấy muốn sống cho thật lâu trên mặt đất này, nhưng đấy ‘là cái mũi nhọn của thành phố’ ông ạ, nàng đã giới thiệu cái mũi nhọn của thành phố của nàng giữa lúc tôi đang đóng vai phương bắc trước một bà cụ phương nam, đấy là chuyên ngữ của một chuyên gia kinh tế nổi tiếng đấy ông ạ, nói chuyên gia cũng được, mà nói nhà khoa học cũng được, bỡi công cuộc khảo cứu của ông gòm có cả vải ở nhà máy dệt sợi,ví dụ thành phố của em đã có thứ ấy, gòm có cả lũ gà heo ở các miền quanh thành phố, và có cả cá đánh bắt được ngoài biển, nói chung, đấy là chuyên gia, một chuyên gia về những nền kinh tế trên mặt đất, hóa ra cái mũi nhọn của thành phố là phát triển du hí ông ạ [ hồi nãy nàng đã kể cho tôi nghe chuyện nhà khảo cứu du hí đã làm trôi mất ra biển một người bảo vệ công trường và một chiếc xe san đất, giờ lại nghe chuyện du hí nữa nên tôi rất bị kích thích] mở ngay thôi các bạn ạ, cứ để cho tư nhân họ đầu tư vào đấy, cứ để cho những hotel, những restaurant mọc lên như nấm ở đó, các bạn ạ, mất trọn một buổi sáng để cho nhà khoa học kinh tế nói về cái mũi nhọn của thành phố, ông ạ, em nghe, và cũng hơi thắc mắc trong lòng một chút, cái ghềnh đá phía đông thành phố của em là đất của chim yến, làm cái mũi nhọn của thành phố ở đấy là đuổi đi một loài chim quí, với lại cái ghềnh đá nó hẹp thế thì cũng khó cho việc mọc lên như nấm của những thứ ấy ông à,  nàng nói đến đó thì hơi buồn, tôi chẳng dám có lời chi, chỉ  im lặng ngồi nhìn nàng hơi buồn, nói chung là quá nhiều ông ạ, quá nhiều các nhà khoa học, quá nhiều các nhà khảo cứu, các chuyên gia, và quá nhiều những diễn thuyết, những tham luận ông à, nàng nói, và nhìn tôi, đám dân thành phố chúng tôi đi nghe diễn thuyết riết cũng thấy mỏi mệt, nghe, và cứ thấy buồn bực, ở trên đã đánh giá trình độ về các thứ của chúng tôi quá kém nên mới có chuyện diễn thuyết không ngừng như thế, với lại, có những thứ nghe mà chẳng hiểu gì cả, ví dụ như một thành phố thông minh là phải có cả nhà máy chế tạo ô tô và phải có cả trâu bò gà vịt hay sao, hay nghe và cứ thấy nó mơ hồ, trái khuấy làm sao ấy, nói chung đi nghe diễn thuyết riết, coi như dân thành phố hai triệu rưỡi nhưng đã chết mất hai triệu tư, không phải chết chôn mất xác, mà chết ở trong lòng ông ạ,

 

 

 

và ở cái ga tàu giữa đồng ruộng ấy,

 

 

nàng lại vui vẻ như lúc mới gặp nhau trên tàu, đây gọi là ga gì ông nhỉ, nàng hỏi tên cái ga tàu vì không thấy biển đề, từ từ em sẽ biết, tôi nói, không phải là ga đón khách đi tàu, chỉ là nơi để tránh tàu, có một đoàn tàu từ nam ra bắc sắp ngang qua đây, mỗi lần ngồi trên con tàu vào phương nam dừng lại nơi này là tôi lại thấy dấy lên thứ cảm xúc kỳ dị, như thể sắp được gặp lại những người thân từ những cái phần chót của phương nam nào đó trở lại, hay trở về nhỉ, tôi ngồi im trên con tàu đang ngừng nơi sân ga nhỏ nghe thấy hết thảy những gì đang diễn ra trong tôi, nỗi hồi họp kỳ dị, vì sao tôi hồi hộp, tôi không biết, nhưng cứ thấy như sắp sửa được nhìn thấy, hay không được nhìn thấy, hay không đời nào nhìn thấy, những điều gì đấy, những người từ những cái phần chót của phương nam đang trở về, cuộc đời tôi, những lần lưu lạc phương nam như thể những khúc thức đầy âm vang, một tiếng thở phù sa, hay chút lưu luyến không tên, một khóm bần khóm đước và con nước mặn, và lần này, con tàu vào nam cũng đỗ lại cái sân ga nhỏ này, cũng những tình cảm cũ dành cho xứ sở, chỉ  thêm người con gái cùng chung toa tàu với tôi, người đang rời bỏ quê hương mình, rời bỏ, hay từ bỏ, tôi không biết, chỉ biết là nàng đang đi về phương nam, có thông báo của đoàn tàu, thời gian tàu dừng là sáu mươi phút, đủ để cho tôi đưa nàng vào một chút phong vị phương nam, bây giờ thì đi đâu, nàng hỏi, tôi nói cứ đi rồi sẽ biết, hết thảy hành khách của chuyến tàu đều ra khỏi tàu kéo về phía hàng quán nằm ở bìa sân ga nhỏ, đây là ga ‘bánh xéo tôm nhảy’ em ạ, tôi nói khi tôi và nàng đã ngồi vào cái quán đổ bánh xèo, một trong những gian quán bán thức ăn nằm dọc theo bìa sân ga, phía chủ quán có bà mẹ chừng ngoài sáu mươi, ngồi đổ bánh xèo, và ba người con gái cũng trên dưới hăm lăm hăm bảy làm công việc tiếp khách, về phía khách là gòm có tôi với nàng và với rất nhiều người là khách của chuyến tàu, sao gọi ga ‘bánh xèo tôm nhảy’ ông nhỉ, nàng hỏi gần như thì thầm, có thể là nàng xấu hổ vì không rành chuyện của xứ sở quê hương nên không dám nói lớn, tôi định giải thích thì bà chủ hỏi: cô cậu ăn bao nhiêu bánh, tôi nói có thể là ăn hết thau bột bánh của dì đấy, tôi gọi bà chủ quán bằng dì, tôi gọi theo cách gọi phương nam mình đã quen, ba cô con gái của bà chủ nhìn tôi, cười, thách anh ăn hết đấy, đấy là những giọng nói của phù sa gió chướng, phương nam là phù sa gió chướng, bà cụ múc bột bánh đổ vào chiếc khuôn sắt đang bắc trên lò lửa đang hừng, lúc nghe tiếng bột bánh reo trong cái khuôn bằng sắt, tức đang bắt đầu chín, thì nghĩa của tên ga tàu ‘bánh xèo tôm nhảy’ đã hiện ra, nói rõ ra là bà cụ bắt những con tôm đồng đang nhảy trên sàn bỏ vào khuôn bột đang sôi, lũ tôm nhảy thêm một chặp nữa, rồi năm lặng lẽ  trong trong bột bánh đang chín, ồ, em hiểu, người con gái tôi mới quen bỗng ồ lên trước ánh mắt tò mò của những thực khách đang ngồi ăn trong quán, cái tên gọi ấy không có trong danh bạ đường tàu đâu, chỉ là thứ đã đi vào lịch sử linh hồn của những kẻ ra bắc vào nam luôn ngang qua cái ga tàu nhỏ nghe được mùi đồng ruộng này, tôi nói, và như thể nàng đang trong sự im lặng của một cuộc tự  vấn quyết liệt nào đó, có những thứ ta bỗng gặp trong đời rồi bỗng chốc khiến ta cảm thấy hân hoan như thể đang dấn bước vào cái thế giới vô cùng khác với thề giới cũ kỹ mòn chán này, tôi nghĩ, bấy giờ, trước mặt tôi và nàng là những ruộng đồng mênh mang tiếp giáp với sân ga nhỏ như thể một cuộc tiếp sức thầm lặng cho cuộc nhân sinh ít cằn cỗi hơn, rõ ràng là lũ chim phương nam đang âm thầm làm công việc tôi đang nghĩ, chúng, một đám chim phương nam tôi không hề biết tên đang từ phía biển bay lại, rồi sà xuống gần quán bánh xèo tôm nhảy, có mấy con lò cò nhảy đến đằng sau gian quán nhỏ để nhặt những mẫu bánh vụn, tôi cứ có cảm tưởng như thể là mình đang bước vào một cuộc nguyên thủy lừng danh nào đó, một cuộc hòa quyện có một không hai ông nhỉ, nàng nói, như thể muốn để cho tôi biết nàng đang nghĩ gì, chỉ là chuyện của nghìn năm, tôi nói, bây giờ thì em phải đi, ông à, thật bất ngờ, nàng nói, nhìn về phía ruộng đồng, và đứng lên lấy từ túi hành trang ra cuốn sổ dày bìa bằng da gỉa  đưa tôi, em tặng ông để làm kỷ niệm cho cuộc gặp này, nàng nói, tôi mở thử thì thấy trang đầu viết bằng chữ to: Thú Nhận Của Kẻ Sắp Rời Bỏ Quê Hương,  tôi hỏi em viết phải không, nàng nói là em viết đấy, rồi đi, tôi thấy rất buồn, trở lại toa tàu của mình tôi thấy rất buồn, và cứ thấy ân hận một cách vô lý là tại sao tôi đã không giữ nàng lại, hóa ra trên suốt chặng đường tàu còn lại là tôi đi tìm nàng, tôi đi tìm nàng trong cuốn sổ ghi chép bìa bằng da giả của nàng,

 

 

 

Thú Nhận Của Kẻ Sắp Rời Bỏ Quê Hương,

 

 

tôi không biết hết những điều bí mật trong cuộc đời cha tôi, nhưng mẹ tôi thì biết, bà biết, nhưng không bao giờ nói ra cho tôi biết, có nói chứ không phải là không, nhưng chỉ là cái đoạn đời cha tôi đã gặp mẹ tôi và đã yêu mẹ tôi như thế nào, hay sau đó, lúc mẹ mang thai tôi, cuộc tình ấy yên ấm đến mức nào, mẹ tôi thì lúc nào cũng nói là cuộc tình ấy, nói cuộc tình ấy chứ không nói cuộc hôn nhân ấy, có nghĩa mẹ tôi coi cuộc gặp cha tôi là luôn đẹp đẽ, y như thuở ban đầu, mẹ tôi nói khu vườn ấy, tức khu vườn cha con tôi đang ở, là cái thế giới trời ban riêng cho mẹ và cha tôi, nghe mẹ kể, và tôi cũng hình dung được, là vào những đêm yên tĩnh, cha tôi áp tai lên mẹ tôi để nghe ngóng thử tôi đang trong bụng mẹ có nói gì không, tất nhiên là sau đó, tôi hình dung, cha và mẹ tôi sẽ nói đến tương lai tốt đẹp cuộc sống sẽ dành cho tôi, tôi biết, bấy giờ, lúc tôi còn trong bụng mẹ, cha và mẹ tôi đã nhìn thấy tôi chạy nhảy nơi khu vườn nhiều cây ăn quả ông nội tôi để lại, khu vườn vốn thuộc về một miền quê buổi sớm mai thấy có đám con trai con gái mười bảy mười tám mang đụt, một thứ đồ đựng đan bằng tre, kéo xuống cái đầm nước mặn nước thủy triều đang xuống vào buổi sáng sớm ấy để nhặt sò, hến, lúa gạo lấy ở ruộng đồng, trái cây lấy ở những khu vườn um tùm cây lá, và thức ăn lấy ở cái đầm nước mặn ở phía đông đi chừng mười lăm phút là tới ấy, tôi sinh ra ở một nơi rặt miền quê ấy, về sau thì được sáp nhập vào thành phố là một cuộc đột xuất mang tính định mệnh, bỡi cái thành phố ấy [bấy giờ tôi đứa con gái rặt miền quê đã trở thành cư dân của nó] đã làm dấy lên trong tôi những nghĩ ngợi cũng đột xuất như chuyện sáp nhập ấy, đến lúc được sáp nhập vào thành phố thì cuộc đi lại của cha tôi [ông là viên chức của tòa thị chính thành phố ấy] không phải là từ miền quê vào thành phố mà đi lại trong thành phố, con đường từ nhà tôi đến tòa thị chính với cha tôi là một đoạn khúc không thời gian mang tính sử thi, đấy là tôi nói theo cách nhìn khái quát, tôi, đứa con gái 27 tuổi lúc sắp rời bỏ quê hương cũng có thể nói về cuộc hành trình của cha tôi theo những gì tôi nhìn thấy được và hiểu theo cách của tôi và theo những gì nghe được từ mẹ tôi, lúc mẹ tôi còn sống bà đã kể cho tôi nghe khá nhiều về cha tôi, nhưng đấy là những thứ mẹ không kể tôi cũng đã nhìn thấy, cuộc hành trình của cha tôi, nói theo nghĩa rộng nhất của từ này, là bao gòm 1) ngôi nhà cổ nơi khu vườn ở miền ngoại ô thành phố ấy, nói là của ông bà cao để lại thì đúng hơn là nói do ông nội tôi để lại, bỡi đời ông cố tôi chỉ có năm cây chanh, nhưng sang đời ông nội tôi, ngoài năm cây chanh, còn thêm năm cây xoài và năm cây mít, tôi giả dụ vậy, khu vườn nó tồn tại theo cách có sự tham dự của bàn tay hào phóng của con người, một cuộc đồng hành theo nghĩa triết học hiện hữu, 2) người phụ nữ ấy, người phụ nữ luôn yêu cha tôi theo cách không lý giải được, về sau, tôi biết trong lòng cha tôi không còn có tình yêu của mẹ tôi, bỡi những thứ khác của cuộc đời đã choán hết chỗ trong ông, nhưng mẹ tôi vẫn coi cuộc gặp ấy luôn mới mẻ, 3) tòa thị chính ấy, cái tòa hành chánh của thành phố là được sửa sang lại theo kiểu nước Mỹ đương đại từ một công trình kiến trúc cổ kính theo kiểu Hy La, cho nên khi bước vào đó ta liền có thứ cảm giác như đang bị khuấy phá bỡi một thế lực vô hình nào đó, cha tôi, một kỷ sư địa chất coi như gắn bó suốt đời với chốn đó, 4) thành phố ấy, nơi có thể nghe sóng biển vỗ cả ngày lẫn đêm, nơi có những sự tích như những bài học làm người, với cha tôi nó giống như một mảnh đất mầu mỡ mà niềm đam mê quyết liệt của ông là làm sao làm được ông chủ canh tác mảnh đất ấy, 5) đoạn đường từ nhà tôi đến tòa thị chính ấy, có những bạn bè của cha tôi cư ngụ ở trên đoạn đường ấy, những ông A ông B ông C ông D…vừa là những bạn bè cùng làm việc ở tòa thị chính với cha tôi vừa là những đàn em ruột rà của cha tôi, tức những người sống chết có nhau, có những lúc cha tôi vắng nhà đến năm mươi hôm là do ông đến ở với những bạn bè ấy, tôi không muốn nói tên những người ấy, bỡi không muốn chạm vào linh hồn của một số người trong những bạn bè của cha tôi đã mất, và cũng không muốn làm phiền lòng những người bạn của cha tôi vẫn còn sống và làm việc ở tòa thị chính ấy, mẹ tôi biết sở dĩ cha tôi không còn giữ được tình yêu với bà bỡi ông phải dồn hết tâm trí cho một chuyến đi mạo hiểm, một cuộc bay thử qua mặt đất, không phải, là một cuộc bay thật, một cuộc bay của những người không có cánh, mẹ tôi biết, nhưng không đời nào đi nói với tôi về chuyện ấy, có những cuộc họp hành bí mật cho cuộc bay ấy giữa cha tôi và những đồng đội của ông, những cuộc họp khiến cho mẹ tôi và tôi luôn sống trong nỗi lo âu và sợ hãi, tôi đang nói về một thứ thế giới ngầm [đấy],
 

 

 

và bắt đầu là những tranh luận,

nhưng là  kết thúc trong êm đẹp, cũng như cha tôi, mẹ tôi là kỷ sư địa chất, nhưng bà nhìn đất đai không giống với cha tôi, đất đai vốn không sai không đúng, một cuộc hồn nhiên ghê gớm, anh à, mẹ tôi nói, cuộc tranh luận tôi vô tình nghe được, có thể đấy là lúc niềm đam mê về một điều gì đó của cha tôi đã để lộ ra, không phải là thứ đam mê cuồng nhiệt sau này, và mẹ tôi đã nhìn thấy được, chẳng hạn đêm ấy cha tôi không ngủ mà nằm gác tay lên trán trong tư thế của một người đang lo lắng nghĩ ngợi, cha tôi đang lo lắng hay nghĩ ngợi điều gì, câu hỏi bất chợt như thể có ai đó bỗng thét lên trong tâm trí mẹ tôi khiến bà hốt hoảng, với mẹ tôi, một chút như thế cũng là đang mở ra cuộc hiểm nguy cho hai người, và bà bắt đầu canh giữ cha tôi, tất nhiên là mẹ tôi chỉ dám canh giữ bằng thứ tình cảm yêu thương của buổi ban đầu, xin nhắc lại, bao giờ mẹ tôi cũng sống với cha tôi trong niềm yêu thương của buổi ban đầu, có tranh luận gì đó với cha tôi cũng chỉ là để gìn giữ tình yêu trong sáng và mãnh liệt, phải dùng đến một từ hơi cổ điển một chút, thờ phụng, mới có thể tả được sự tôn trọng của mẹ tôi đối với tình yêu ấy, cuộc tranh luận về đất đai là diễn ra vào một đêm tháng ba, làng quê tôi vào tháng ba cứ nghe như có tiếng thở than vọng lại từ cái đầm nước mặn ở phía đông, thật ra đấy chỉ là thứ căn bệnh thâm căn cố đế, căn bệnh liên tưởng của người làng tôi, nghe thấy điều đã nghe thấy quá nhiều lần trong truyền thuyết về cái đầm nước mặn, tháng ba khi gió nồm thổi ngọt người đàn bà lại ra ngồi nơi bờ đầm để ngóng chờ người đàn ông đuối nước đã chết từ muôn năm trước, tôi đang chuẩn bị bài vở cho buổi dạy hôm sau thì nghe như có tiếng thở than vọng lại từ cái đầm nước mặn cũng gắn bó như cánh đồng làng gắn bó với người làng tôi, thì ra chẳng phải tiếng thở than của người đàn bà muôn năm trước, mà là tiếng chuyện trò của cha mẹ tôi, nói là tranh luận thật ra đấy chỉ là cuộc chuyện trò có hơi gay gắt một chút, sao lại đi tranh luận về chuyện đất đai nhỉ, về sau tôi mới hiểu ra, mẹ tôi bắt đầu níu giữ cha tôi khi mẹ nhận ra một chút tín hiệu nào đó về cuộc tẩu thoát khỏi cuộc gắn kết tình yêu của cha tôi bằng cuộc tranh luận mang tính ẩn dụ, tranh luận về tính chất của đất đai, cha mẹ tôi, đôi uyên ương trí thức đã từng làm dấy lên một tình yêu giông bão, mẹ tôi đã kể cho tôi nghe nhiều lắm về cuộc tình dấy lên giữa đất đai ấy, và giờ thì hai người lại nói về  đất đai, trong những năm tháng hiểm nguy em vẫn cảm thấy đất đai nuôi dưỡng tình yêu của chúng ta, mẹ tôi nói, những năm tháng hiểm nguy nào nhỉ, hay chỉ là một cách nói về mối hiểm nguy nào đó đối với cuộc gắn kết của hai người mà mẹ vừa nhận ra, hơn ba chục năm gắn bó với cha tôi, mẹ tôi vẫn còn nguyên cách nói năng của người thiếu nữ trong buổi đầu yêu đương, về sau tôi mới hiểu ra, bấy giờ, câu chuyện giữa cha mẹ tôi cũng là thứ cổ tích đương đại, đất đai nuôi dưỡng con người, và luôn cần có một người chủ giỏi canh tác, em à, cha tôi nói, nhưng khi con người bắt đất đai tuân theo những ham muốn ích kỷ của mình thì đất đai không còn là đất đai, tôi nghe mẹ tôi nói, nhưng có một người đang muốn băng qua bão tuyết, em à, tôi nghe cha tôi nói, âm điệu của lời nói cho thấy cha tôi là rất thật, nhưng tôi cứ có cảm tưởng cuộc chuyện trò, hay cuộc tranh luận chẳng đâu vào đâu cả, mẹ tôi ca ngợi đất đai, và cha tôi thì kết thúc rằng có một người đang muốn băng qua bão tuyết, mãi về sau tôi mới hiểu ra, thật ra đấy là cuộc tranh luận hàm xúc sự bất đồng trong cách nhìn thế giới, một người đang rất muốn làm một điều gì đó thật to tát, một người cho đó chỉ là thứ đam mê cuồng nhiệt mà thôi,
 

 

 

thật ra từ đầu chỉ có mỗi nền tảng tình yêu,

 

 

biết là biết thế, song tôi vẫn cứ có linh cảm về điều không lành, tự dưng cha mẹ tôi đem chuyện đất đai ra tranh luận là sao, để xem thử mình có thể trở lại trạng thái bình an như xưa nay hay không tôi đã phải làm một cuộc tổng kết về cuộc tình của cha mẹ tôi bằng cách nhớ lại tòan bộ những gì mẹ đã kể cho tôi nghe về mối tình cuồng nhiệt ấy, cha tôi thì ít khi lắm, về việc ông kể cho tôi nghe những kỷ niệm của ông, chẳng cổ điển chút nào, không phải là theo cái thứ tự em chờ anh ở gốc đa đầu làng ấy đâu, hay, sang năm anh sẽ cưới em, không đời nào, người ta có thể hoảng hốt khi nghe kể rằng, vào một ngày cũng bình thường như bao nhiêu ngày khác ở ngôi trường đại học ở thành phố người vẫn đi lại đông đúc ấy, đúng vào hôm khai học khóa học mới ấy, người sinh viên nam thì đến từ một xứ sở phương nam và người sinh viên nữ thì đến từ một xứ sở phương bắc, sau một buổi ngồi bên nhau nơi giảng đường để nghe giảng bài, cũng có hỏi nhau về quê quán, về hoài bão, có nhìn nhau, cũng hơi nhiều, nhìn nhau, và hỏi thăm về nhau, tan học, họ tuyên bố là yêu nhau, và ôm nhau hôn dưới gốc phượng sân trường trước sự kinh ngạc của đám sinh viên cùng khóa, khỏi phải tra cứu sách vở tâm lý học, hay tâm phân học gì đó, bỡi đó chỉ là sự bắt đầu cho một cuộc tình dai dẳng và ngoại lệ, từ đó là sóng vỗ đầu hôm, là con cá quẫy buổi sớm mai, từ đó là chỉ nhìn nhau, nhìn nhau là đề yêu nhau, chữ nghĩa của những năm học ở ngôi trường đại học ấy là đặt trên nền tảng tình yêu, không hôn nhau lần nào nữa cho đến ngày cưới, tốt nghiệp, ra trường, là cưới ngay, việc ấy tất nhiên là đặt trên nền tảng tình yêu, lúc bấy giờ cha mẹ tôi cũng bằng tuổi tôi bây giờ, tức ở tuổi 27, cưới xong, mẹ tôi quyết định cất bằng đại học, ở nhà làm việc nội trợ, chỉ để mỗi mình cha tôi làm việc nhà nước, quyết định ấy cũng là đặt trên nền tảng tình yêu, chín tháng sau ngày cưới bọn họ đẻ tôi, chuyện này là cũng đặt trên nền tảng tình yêu, nói tóm, khởi đầu cuộc hành trình của cha mẹ tôi là đặt trên nền tảng tình yêu, chỉ có mỗi nền tảng tình yêu, tôi tổng kết xong cuộc tình của cha mẹ tôi, và chẳng thấy có khe hở nào, hay chút sơ hở nào, hay lý do nào khiến cho cha tôi làm cuộc tẩu thoát khỏi cuộc gắn bó nghìn năm, tôi đã thấy mình bình tâm trở lại,
 

 

 

và đây là những nền tảng mới,

 

 

nhưng cuộc đời này đâu phải chỉ có mỗi nền tảng tình yêu, nó còn vô khối những nền tảng khác, có thứ nền tảng đặt trên những thuyết lý khô khan, có thứ nền tảng đặt trên quyền lực hay bạo lực hay sự giàu sang, có những thứ nền tảng đặt trên cả sự dơ bẩn là áp bức, chiếm đoạt hay lừa dối, tôi lại phải nghĩ ngợi nữa, ví như những thứ đang diễn ra ở cái xã miền quê lúc chỗ nhà tôi ở chưa sáp nhập vào thành phố tôi là cư dân của nó, giờ tôi là cư dân của thành phố nhưng vẫn tiếp tục đi dạy ở ngôi trường trung học nằm trong cái xã miền quê ấy, ông chủ tịch xã của xã ấy giờ đi xe con đến trụ sở xã để làm việc đấy, vậy thì việc ấy là đặt trên nền tảng nào, tôi không biết, bây giờ mà còn nói chuyện người giàu áp bức người nghèo là cũ rồi, bây giờ là thời sự giàu có được vinh danh, chẳng phải những cuộc tuyên dương sự giàu có vô cùng hoành tráng đã diễn ra khắp nơi đó sao, tuyên dương con người làm ra của cải, và tuyên dương cả những của cải được làm ra, hoan hô của cải, hoan hô các bậc đại gia XYZ, cho nên việc một ông chủ tịch xã một xã miền quê đi xe con là điều đáng mừng, chỉ có điều cái anh dân chúng, tức là nhân dân đó, thời bây giờ nếu không có chữ nào cũng đọc được tin tức thế giới, đọc bằng cái lỗ tai nghe từ những người ở chung quanh, còn có thể đọc được trên mạng I tẹt nét [internet] nữa đấy, thời mà một người đọc được tin tức trên internet thì cả hàng vạn người đều biết, riêng chuyện ông chủ tịch xã miền quê ấy không cần đọc trên internet cũng biết, vì ngày nào ông cũng đi xe con ngang qua đám dân làng đang cày cấy trên đồng làng, chỉ có điều mọi người đều không biết là  làm sao ông chủ tịch xã có tiền mua xe con, tôi đang nói đến một thứ nền tảng mới, nó là một hệ thống ý thức mới, một  ý thức hệ  mới: vinh danh sự giàu có, bạn có thể lập tập đoàn kinh tế, lập group, và mua đứt một hòn đảo nào đó, hay mua đứt một miền đất nào đó, và được vinh danh, ‘võng anh đi trước võng nàng theo sau’, tôi chợt nhớ một hình ảnh xưa cũ, hóa ra tự thời còn vua quan người ta cũng đã biết thứ khái niệm vinh danh, xin nhắc lại, một thứ nền tảng mới là vinh danh sự giàu có, cuộc vinh danh đó nó hấp dẫn từ đầu đến chân những ai có tâm huyết với nó, ai, những ai là có thể nghĩ đến nó, một ông chủ tịch xã một xã miền quê đi làm việc bằng xe con là một cuộc thu hút vĩ đại, niềm mơ ước cứ thế nâng dần lên, mơ ước là chủ tịch xã xong, ít hôm sau, mơ ước là chủ tịch huyện, về sau thì tôi đã hiểu ra chính mẹ tôi đã bày ra cuộc tranh luận về đất đai để nói gần nói xa với cha tôi về những bước gập ghình khúc khủyu của cuộc đời mới, ai mà biết ai bị thu hút bỡi cái cuộc thu hút vĩ đại ấy, thật là chán ngấy nếu tôi còn cắm đầu vào những thuyết lý xã hội thế này, nhưng không phải, chỉ là tôi đang cảm hứng [rất cảm hứng] về vụ một ông chủ tịch xã một miền quê heo hút hằng ngày đi làm việc bằng xe con, không phải, bây giờ thì chẳng có miền quê heo hút nữa đâu, bây giờ thì miền quê nào cũng đáng sống các bạn ạ, cái heo hút nó không còn làm thành đơn vị làng xóm như xưa, chỉ buồn bã nằm rải rác ở đâu đó giữa náo nhiệt đương đại, đôi khi nó cũng to lớn như một ngôi làng heo hút xưa kia, một xóm ổ chuột, hay một xóm gầm cầu… nhưng không ai nói nó là heo hút hết, tất nhiên những kẻ quyền quí hay những bậc đại gia thì rất ngại những chốn như thế, cũng có cử người đến những nơi đó giúp đỡ thứ nọ thứ kia để được tiếng là từ thiện từ tâm, song bọn họ là rất nản cái đám trẻ em rách nát dơ dáy ngày ngày đi lượm rác ở những bãi rác thải đầy ruồi nhặng ấy, có một cuộc đồng hành vô cùng tư do, cuộc đồng hành giữa những em bé đi lượm rác và những tập đoàn kinh tế, những group, chủ nhân của nền sản xuất công nghiệp hằng ngày thải ra một lượng rác vĩ đại cho đám trẻ chuyên lượm rác thải có rác để lượm, tôi đang nói về những nền tảng mới [đấy],

 

 

 

lại nghe thấy những cuộc trò chuyện với đất,
 

 

 

thời đại bùng nổ thông tin nó khiến cho con người ta vừa hân hoan đấy liền chuyển sang sầu muộn, tôi lại đi dạy ở ngôi trường nằm trong xã miền quê trước kia tôi là cư dân của nó hằng nghe không biết bao nhiêu chuyện ở đó [từ đám bạn đồng nghiệp đang dạy ở đó, hay  đám học trò con nhà khá giả đứa nào cũng thủ sẵn một chiếc điện thoại thông minh] rồi còn đám bạn bè cũ của tôi đang ở trên khắp đất nước, hắng ngày bao nhiêu chuyện đến từ những cuộc gọi của bọn chúng, bao nhiêu nguồn cung cấp thông tin như thế nên cuộc đời tôi là đang tràn ngập tin tức, chuyện vừa mới nghe lúc nãy, chuyện nghe hôm qua, chuyện nghe tháng trước, năm trước…ký ức tôi bây giờ là tin tức, ngay cả con đường từ nhà đến trường học và từ trường học trở về nhà cũng là một thứ tin tức, luôn mới lạ, và thấy đau lòng, sáng hôm trước tôi nghĩ về nó như thế, nhưng sáng hôm sau tự thân tôi lại nghĩ khác đi, con đường và những gì xảy ra hai bên con đường nó làm cho tôi không thể không dao động trong nghĩ ngợi, đất quê tôi là một thứ linh hồn linh láng những tiếng gọi thẳm sâu, con đường ngang qua những khúc sử bão táp như thể không thể không ngang qua, quá khứ bão táp như vẫn còn lưu dấu trong mùi đồng ruộng buổi sớm mai, những vật lộn giữa con người với con người trong cuộc đối thoại với đất đai, không phải chỉ có đổ mồ hôi, mà còn phải đổ  máu, mồ hôi, và máu, bỡi đất đai có nói gì đâu, trong cuộc đối thoại với chúng con người là luôn cãi vã nhau, giết chóc nhau, cuộc bất hòa lớn nhất trong cuộc chuyện trò với đất đai trong lịch sử tiến hóa của người, mi có chịu để  chúng ta biến mi, đất lúa, thành đất công nghiệp hay không, bọn chủ cũ của đất hỏi, cái mộng làm chủ đất đai, rồi đất đai có nói gì đâu, bọn chủ cũ của đất cứ lệnh đám nông phu trực tiếp canh tác đất đai đi vay tiền ngân hàng mua giống, mua phân bón, mua thuốc trừ sâu, rồi cây mía cực chẳng đã cũng đã lớn lên trên đất lúa, mùa lên, các nhà máy chế biến đường đều đóng cửa, lý do nghỉ sản xuất: đường ngoài nước nhập vào quá nhiều, giá rẻ hơn đường nội địa, nông phu đốt mía, không có tiền trả ngân hàng, nhiều người tự sát, hay bỏ xứ trốn đi, máu lại đổ nữa trong cuộc trò chuyện với đất đai, buổi sớm mai đi trên con đường ngang qua đồng làng, nghe đất thở, không thể không nhớ đến cái quá khứ con người cứ bất hòa nhau trong cuộc đối thoại với đất đai, giữa tiếng máy cày đang vang lên trên cánh đồng làng, tôi đã nhìn thấy ở phía xa kia, phía cuối đồng làng, ai đấy đang cầm cày theo đôi bò trên ruộng, cái cày gỗ và cái cày máy chạy bằng động cơ nổ là những cách thức cố thủ của con người trong cuộc trò chuyện với đất, ca ngợi cái này hay cái kia đều rơi vào sự sai lầm trong nhận thức có tính triết học hiện hữu, buổi sớm mai đi trên con đường ngang qua cánh đồng làng, nghe mùi đất,  không thể không nhớ đến cái quá khứ ngu muội của chúng ta, sự ngu muội như vẫn còn lẩn quất đâu đó, ở trong cách xử sự của đám chủ  mới của đất chăng, bọn họ đang cướp đất cày của nông phu trong mưu toan đã được lý thuyết hóa thành chữ nghĩa, những phiên bản, những văn bản như thứ ma trận huyết lệ tàn nhẫn nhất trong cuộc tồn sinh của con người, bọn chủ mới của đất coi đó là vẻ đẹp của non sông xứ sở, nhưng những nông phu lại cảm thấy sợ hãi khi thấy không còn đất để cày, 

 

 

chỗ bắt đầu của cuộc sầu muộn,

 

nhưng cuộc sầu muộn trong cuộc đời cha tôi là còn lớn hơn [rất nhiều] cuộc sầu muộn của những người cày đã bị người ta cướp bớt ruộng cày, tham vọng là thứ có đôi cánh quá mạnh nó cứ cắp con người bay theo những phía những nơi mà nó muốn bay, hay quyết bay, hay chẳng chịu dừng  bay, chính là những bè bạn đồng liêu của cha tôi đã làm cho thứ tham vọng vốn có trong mỗi con người ở trong cha tôi mau chóng trở thành thứ chủ nghĩa trước sau gì tôi cũng giữ nguyên ý nghĩ như vậy, nó là thứ chủ nghĩa cận đương đại, hay sát đương đại, tức nó ôm lấy đương đại, hay không bao giờ rời bỏ đương đại, nói tóm, nó chỉ là thứ chủ nghĩa bây giờ và ở đây, cái đương là ở bên ngoài làm rung chuyển cái đương là ở trong cha tôi , thế giới làm rung chuyển bản thể phát sinh vô khối hiện tồn, lao xao những cơn sóng vỗ, buổi sớm mai cơn sóng vỗ vào ngôi nhà vừa mới được dựng lên trong cơn mơ trong trắng, buổi chiều hôm người phải lặng lẽ rời khỏi nơi chốn lẽ ra phải ở lại mãi mãi, bản thể như thể đang tiêu vong bỡi cuộc sóng dội ba đào, người đi, cuộc lang thang dài từ thiên niên kỷ này sang thiên niên kỷ khác, một dãi ngân hà rơi lệ, nước mắt và nước mắt, nghìn trùng, ai lang thang dưới những cơn mưa thế kỷ, đi, và [rất] nhớ nhung, có lúc lại gọi là cuộc hiện sinh, lại gọi là cuộc sinh tồn không làm sao hiểu nổi, hoài nghi, và cứ chen lấn vào chốn hư vô, các thứ chủ nghĩa có vẻ rất kiêu căng ngạo mạn  ra đời, thực ra, đấy chỉ là bế tắc trong nhìn ngắm mình, chỉ là cơn bối rối của thời gian, cứ tưởng triết học là cái gì ghê gớm ở đâu tận phía trời xa, hóa ra, chỉ là những nghĩ ngợi hơi có chút đặc biệt đặc thù trong nghĩ ngợi của con người trần thế, khi bối rối nhìn ngắm mình, bối rối nhìn ngắm cái tôi chủ thể của mình thì lại làm cho thế giới trở nên rối ren, đen tối, cái khách thể ngàn sao rớt hột luôn làm rối tung rối mù cái tôi chủ thể có vẻ uy nghiêm nhưng thật ra là chằng uy nghiêm chút nào, rối tung rối mù đến nỗi không còn nhận ra nắng quái chiều hôm, đến nỗi không còn nhận ra mình là ai, tôi bỗng: thấy mình lạ đi, cuộc lạ hóa chủ thể nó là cuộc rung chuyển lớn nhất, cuộc rung chuyển kinh thiên động địa của nhân loại lầm than, đừng nói gì cả, cứ để cho tôi viết về cha tôi như những thú nhận của kẻ sắp rời bỏ quê hương, những lời như thế đấy có thể sẽ làm khó chịu [rất khó chịu] đối với những ai thi thoảng còn ngoái lại nhìn từ giấc mơ màu hổ phách của mình, thứ giấc mơ chẳng phải triền miên cho lắm, mà còn giật mình thức giấc, may ra những gì tôi nghĩ ngợi vẫn còn như tiếng sáo [gỗ] mong manh bên đám tằm tơ đang bỏ kén [không phải là tôi hoài cổ đâu khi nói về sáo gỗ và tằm tơ]  nhưng sẽ là vô ích với những tâm hồn đen đặc niềm đam mê trần thế, một giấc mơ: tôi thấy mình đốt rác, lửa cháy lan làm thiêu rụi cả thành phố, một giấc mơ không bình thường, giấc mơ cứ làm tôi nghĩ ngợi thật nhiều về cha tôi,

 

 

và vở kịch ấy,

 

 

thật ra, từ lâu tôi đã biết đấy là một kẻ nịnh hót, tác giả của vở kịch ấy, nhà viết kịch Bách, chú Bách, tôi gọi là chú Bách, dù ông lớn tuổi hơn cha mẹ tôi, hãy để cho ta luôn trẻ trung để có đủ sức cống hiến cho đất nước, ông nói, và đã không cho tôi gọi ông bằng bác, chú Bách, nhà viết kịch của thành phố của tôi, viết kịch là việc làm của một chuyên gia văn hóa tư tưởng trong công cuộc xây dựng và phát triển thành phố, có nghĩa ông là thuộc nhóm các nhà nghiên cứu và chuyên gia về đầu tư và phát triển đô thị, có nghĩa ông là cấp dưới của cha tôi, theo mẹ tôi, từ một nguồn tin còn trong vòng bí mật, mẹ tôi có nhiều bạn bè đang làm việc ở tòa thị chính thường biết đến những nguồn tin còn trong vòng bí  mật như thế, đây là nguồn tin bí mật về cha tôi, mẹ tôi dặn chỉ nghe và tuyệt đối không được cho cha tôi biết, rằng trong bảng phong thần ấy, tức danh sách những người sẽ là trụ cột trong quản lý nhà nước của thành phố trong tương lai, bảng phong thần gồm có nhiều người, nhưng theo nguồn tin còn trong bí mật đó thì cha tôi là có chỗ đứng sáng giá nhất, chỗ đứng sáng giá nào, ngay cả những bạn bè cung cấp thông tin ấy cho mẹ tôi cũng không biết, nhưng bọn họ biết nhà viết kịch Bách thì biết rất rõ về chỗ đứng của cha tôi trong tương lai, và ông đang sửa soạn viết một vở kịch để ca ngợi cha tôi đấy, tôi nghe, và cứ thấy hụt hẩng trong lòng dù cho đấy chỉ là những thông tin không chính xác, nếu ông Bách đang viết kịch thì đấy là vở kịch thứ năm của ông đấy, những vở kịch đã viết đều đã được trình diễn ở nhà hát thành phố, vở tôi đang viết là đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tạo của tôi đấy chú Tư, ông không gọi cha tôi bằng tên, mà gọi bằng thứ, cũng giống các đàn em của cha tôi, các vị tử tước ấy, cũng gọi cha tôi bằng thứ, anh Tư, hay anh Tư của em, không phải là tử tước, hay bá tước, kiểu quí tộc châu Âu trung cổ đâu nhé, các chương sau tôi sẽ nói rõ hơn về các vị tử tước đàn em của cha tôi, còn bây giờ là đang nói về vở kịch ấy, nó là đỉnh cao trong sự nghiệp của tôi đấy chú Tư, ông Bách lại lập lại, là vở quan trọng, vô cùng quan trọng, cho nên, viết xong một màn là tôi phải tham khảo ý kiến chú Tư và của cháu đây, ông nhìn tôi, và nói, tôi làm khoa học thì có biết gì về chuyện văn chương đâu để anh tham khảo, cha tôi nói, với trình độ và tâm huyết trong nhìn nhận con người và xã hội của chú Tư thì chú quá xứng đáng để tôi tham khảo ý kiến, trước khi bắt tay viết vở kịch ấy, ông Bách đã đến gặp cha con tôi để trò chuyện như thể một cách tạo cảm hứng, tôi nói tôi còn quá trẻ để cho ông tham khảo ý kiến, chú Bách nên tìm những người có nhiều trải nghiệm hơn cháu, tôi nói, tham khảo một cô giáo dạy văn là để cho kịch bản được tiếp cận một nhà nhân văn đấy, ông nói, và nhìn tôi cười vui vẻ, chỉ với cái chất nịnh hót của ông thì làm sao ông lại biết rõ về bảng phong thần ấy chứ, tôi cứ thấy thắc mắc trong lòng, và nghe lời mẹ,  tôi hoàn toàn kín miệng với cha tôi về nguồn tin quỉ quái ấy, rồi ông Bách cũng đã viết xong màn đầu của vở kịch ấy, ông mang bản thảo ấy đến giao cho cha con tôi, tôi nói giao, chứ không nói đưa, bỡi khi đưa bản thảo ấy cho cha con tôi, ông Bách đã nói ra một câu đầy tính cách mạng, thế là, tôi thì viết, chú Tư với cháu đây thì đọc, chúng ta đang cùng chung tay xây dựng thành phố của chúng giàu đẹp hơn, đồ đểu, tôi đã nghĩ vậy khi nghe ông ấy đã gộp cha con tôi vào cái tinh thần yêu nước chết tiệt của ông, cha tôi đọc xong thì đưa bản thảo ấy cho tôi, và chẳng thấy ông nói gì, tôi đã đụng ngay chất giả dối ngay trong bối cảnh thời gian không gian của kịch:  ‘xứ sở giàu đẹp đến cả cách bay lượn của lũ bướm, hoa thì no đầy sắc nước hương trời, buổi sớm mai mùa xuân, từ phía góc trời xa của xứ sở có đám mây nhỏ có vẻ còn do dự trong việc dịch chuyển, không, đám mây đã tan đi cho bầu trời xứ sở được tinh khiết, xứ sở, mùa xuân, như đang có tiếng nói oai hùng của tiền nhân vọng lại, ôi, tiếng trống kinh kỳ, tiếng trống điểm canh’…tôi nhận ra ngay ý đồ tác giả, là câu chuyện kịch bắt đầu vào một ngày mùa xuân ở một xứ sở thành bình, cả hoa, chim, bướm, và bầu trời, đều đẹp, rồi bỗng có giọng nói tiền nhân vọng lại, rồi bỗng có tiếng trống điểm canh, chú Bách ơi là chú Bách ơi, chẳng lẽ chú để cho cái màn đầu của kịch kéo dài cả một ngày đêm như  thề hay sao, tôi nói to lên trong nghĩ ngợi như thế, nhưng liền đó đã thấy hai nhân vật kịch xuất hiện, tôi lướt mau qua bản thảo, và quả tình là chỉ có hai nhân vật kịch, NGÀI CHÍNH KHÁCH (bước ra sân khấu, và nói với lũ chim trời) ôi, đẹp, đất nước của mấy nghìn năm văn hiến, và mấy nghìn năm của nước mắt và nụ cười, nước mắt rơi trên đất, lần lữa thành hoa tổ quốc, nụ cười rơi trên đất, lần lữa thành những trang sử, vang trong bốn bể, vang trong trời xanh, hỡi lũ chim trời, lũ chúng bay có nghe xứ sở đang gọi chúng bay hay không, tôi biết rồi, chú Bách ơi là chú Bách ơi, chú sâu sắc lắm, để cho ngài chính khách biết cả chuyện xứ sở đang réo gọi lũ chim trời, tôi nói to lên trong nghĩ ngợi như vậy đó, và bây giờ là đến nhân vật thứ hai của màn đầu vở kịch, CHUYÊN GIA VỀ TƯ TƯỞNG (bước ra sân khấu, đứng nhìn trời một chặp, rồi vái chào ngài chính khách, rồi ngồi xuống chiếc ghế đối diện với ngài chính khách, một gian phòng sang trọng, cuộc đàm đạo salon) thưa ngài chính khách, số là đường phố kẹt xe, nên em đến hơi trễ khiến cho ngài phải chờ, nhưng thưa ngài, trong  quá trình tiến hóa của loài người chúng ta thì chờ đợi bao giờ cũng mang tính triết học về thời gian, nhưng em xin thề với ngài, dù trời đất có sập xuống, trăng sao có làm nghẽn lối đi trong thành phố thân yêu của chúng ta thì em cũng không đời nào sai hẹn với ngài nữa, tôi đọc hết màn kịch và cười lên thật to cho bớt tức giận, mẹ tôi nghe tiếng cười thì chạy sang chỗ tôi, con vừa đọc xong bản thảo kịch của ông Bách, chưa thấy có dấu hiệu gì ông ấy nịnh hót cha của con, chỉ có mỗi ông ấy là đang nịnh hót quê hương xứ sở, tôi nói trước khi mẹ tôi hỏi tôi, mẹ cũng mong là chẳng có chuyện như đồn đại, mẹ tôi nói, vẻ rất buồn,

 

 

 

lại những tin tức không vui,

 

 

làm sao tôi vui được khi bỗng có tin chẳng lành về những người quê hương tôi, con người ta, lúc bình thường, có thể không ưng ý nhau, thậm chí còn nguyền rủa nhau hãy chết đi cho khuất mắt, nhưng khi nghe những người ta không thích gặp hoạn nạn thì lại cảm thấy bùi ngùi, còn đau khổ nữa là khác, dẫu gì cũng là những người quê hương, lần này, cái tin tức chẳng lành ấy là nói về những người đang làm việc trong chính quyền xã  lúc chỗ nhà tôi chưa sáp nhập vào thành phố tôi là cư dân của nó, tức xã miền quê ngôi trường tôi đang dạy là tọa lạc trên đất của nó, toàn bộ những người đang làm việc ở đó là đang bị thanh tra, buổi sáng, tôi từ nhà đến trường, vừa dựng xe máy vào nhà để xe, cô giáo nhiều tuổi nhất trong đám thầy giáo chúng tôi đã nói cho tôi biết tin động trời ấy, thường, nếu có thanh tra, tôi thường nghe vậy, là thanh tra một vài người, đằng này là thanh tra toàn bộ những người đang làm việc ở đó, nhưng cô có chắc là như vậy hay không, tôi hỏi, tuy là đồng nghiệp, nhưng chúng tôi coi như là tình cô cháu, cô giáo sắp về hưu khóa xe xong thì cắp tay tôi cùng tiến về phía phòng họp thầy giáo của trường, tôi nghe rất nôn nóng trong lòng, song, cô giáo sắp về hưu ấy như tình cảm bị bão hòa sao đó vẫn cắp tay tôi thản nhiên bước đi làm như thể chẳng có chuyện gì xảy ra, ở phòng họp thầy giáo của trường, mọi người đang bàn tán về cái tin tức chẳng lành ấy, kỳ này thì ngài chủ tịch xã chết chắc, người thầy giáo nhiều tuổi sắp về hưu nói và đưa cả mười ngón tay  lên mân mê đám râu cằm của ông mặc dù bấy giờ tôi nhìn thấy râu cằm của ông đã được cạo nhẵn, toàn văn  cuộc trò chuyện ở phòng họp thầy giao ấy có thể tóm lại thế này: có một giáo viên nhà ở xã miền quê ấy, buối sáng đến trường, ngang qua trụ sở xã thấy có xe con đậu ở sân trụ sở, và trong phòng họp của xã có rất nhiều người, nên đã hỏi thừ ông bảo vệ đang lơ ngơ đứng ở cổng trụ sở xã thì được ông ấy thông báo một cách ngắn gọn rằng bữa nay có thanh tra về thanh tra xã ta, nguồn tin từ người bảo vệ là vậy, và chúng tôi tưởng tượng thêm ra rằng đây là cuộc thanh tra về tham những, rồi cô giáo sắp về hưu thêm vào cái ý kiến có vẻ đầy cảm hứng của bà, rằng trên đang về thanh tra toàn bộ những người đang làm việc trong chính quyền xã, kỳ này thì ông ấy chết chắc, người thầy giáo nhiều tuổi sắp về hưu lại nhắc lại ý kiến của ông, rồi một cuộc ca trù đã diễn ra, tôi muốn ví như một cuộc ca trù, bỡi nội dung ấy là có thể đánh động người nghe, làm cho người nghe cứ thấy bàng hoàng, các thầy cô biết không, thầy giáo nhiều tuổi sắp về hưu bắt đầu  khúc cầm ca ấy, tôi, anh giáo già sắp về hưu là cư dân xã miền quê này nên cũng nghĩ ngợi y như hết thảy dân trong xã này, các thầy cô biết không, cái xã miền quê này về phía nam trời đã tặng cho dãi núi mênh mông là phần chót của cuộc hoành sơn hùng vĩ phát xuất từ dãy Trường Sơn đâm ngang xuống phía đông, những người nghèo quê tôi khi thiếu lúa ăn thì lên dãi núi ấy kiếm thêm gạo nấu, đẽo cái bắp cày, trạnh cày bằng cây cây gỗ ở đó , hay lấy mây lấy dây ở đó về bán kiếm thêm tiền mua gạo nấu, núi là cứu tinh của người nghèo qua bao nhiêu thế hệ người ở cái xã miền quê nghèo của tôi, rồi cho đến cái thời buổi hôm nay, tôi, anh giáo già sắp lìa bỏ cõi đời, nghĩ mãi, nhưng chẳng nghĩ ra, bọn họ là ai và làm cách làm sao mà đến được dãi núi rừng ấy để hạ rừng cây nguyên thủy xuống để bán gỗ quí rồi trồng lại rừng trồng và tiếp tục bán gỗ rừng trồng, ngày nay, trên dãi núi non ấy đầy những rừng bạch đàn, rừng thông, rừng keo tràm, dân trong xã thấy vậy hỏi nhau, anh có biết rừng thông ba lá ấy là của ai không, chị có biết những rừng bạch đàn kia là của ai không, chỉ có tiếng đáp của hư không, rồi các thầy cô biết không, những đợt khai thác gỗ qui mô ồ ạt diễn ra, rồi cũng chỉ là những lời xì xào vô căn cớ của dân, là khai thác gỗ của ông chủ tịch xã đấy, hay là khai thác gỗ của ông công an xã đấy, thậm chí, người ta còn nghĩ đến những ông chủ của những cuộc khai thác ấy là ở tận chốn xa, tận trên huyện, trên tỉnh, các thầy cô biết không, bán rừng là bán tài nguyên quốc gia chẳng khác chi bán giang sơn tổ quốc, lần này thì người thầy giáo sắp nghỉ hưu cũng đưa cả mười ngón tay lên chặm  mắt, ông đã để những giọt  nước măt tức giận chảy ra trước mọi người, đêm, câu hỏi của người thầy giáo sắp về hưu cứ ám ảnh tôi: làm sao mà họ lại hạ được rừng nguyên thủy xuống để bán gỗ quí rồi tiếp tục trồng rừng trồng trở lại và tiếp tục bán gỗ rừng trồng, những thứ ấy diễn ra trong một xứ sở có luật pháp dẫn đến cái tra vấn mang tính bản thể luận của người thầy giáo sắp về hưu, hóa ra, thứ nỗi buồn cố cựu của loài người là luôn tra vấn về mình, có vẻ,  không còn tự tra vấn là thôi con người, tôi cứ tưởng tượng ra cái thảm cảnh đau lòng ấy, người ta đã còng tay ông chủ tịch xã và những người có tội với quốc dân đồng bào và dẫn đi,  nghĩ ngợi mãi, rồi chợp mắt lúc nào không hay, trong mơ tôi lại thấy một cảnh tượng đau lòng nữa,  những người dân xã miền quê ấy đã ném đất đá vào ông chủ tịch xã và những người đang bị còng tay như ông ấy, sáng ra, đi xe máy đến trường tôi cứ có cảm tưởng chân tay mình đang yếu hẳn đi, rồi tôi lại gặp ông chủ tịch xã miền quê rất quen mặt ấy đang chạy xe con ngược về phía tôi, khi trông thấy tôi, ông nhấn còi xe inh ỏi, rồi quay sang người ngồi cạnh, toe toét cười, chắc cũng là người cùng làm việc với ông ở xã,

 

 

 

lại nói về ngôi nhà ở miền quê nghèo,

 

 

đấy là ngôi nhà cha con tôi đang sống, ở ngôi nhà ở miền quê nghèo bây giờ là luôn nghe thấy những tin tức nóng bỏng như thể những huyền thoại đương đại, huyền thoại bản thân nó là tập hợp những sáng tạo đầy trí tuệ của loài người, tôi luôn nghĩ vậy, ở ngôi nhà ở miền quê nghèo này tôi đã có một huyền thoại của tuổi thơ, bây giờ tôi gọi là huyền thoại, còn hồi đó chỉ là một ngôi nhà nhỏ tôi làm cho con mèo nhỏ của tôi, tôi đã phải làm một ngôi nhà nhỏ nằm trong ngôi nhà ở miền quê nghèo này cho con mèo của tôi, lạ lắm, không hiểu sao tuổi thơ tôi lại nghĩ ra được như vậy, là tôi phải làm thêm một ngôi nhà nhỏ nằm trong ngôi nhà lớn cho con mèo của tôi, mày phải có một chỗ ở đường hoàng nhé, tôi nói với con mèo làm bằng bông cỏ may của tôi, mới đầu chỉ là một lời nói có tính cao hứng như thế, rồi tất cả đã thành sự thật, không phải, rồi tất cả đã thành huyền thoại của tuổi thơ, huyền thoại bản thân nó là chứa đựng những ước mơ đẹp nhất và to lớn lớn nhất của nhân loại, tôi luôn nghĩ vậy, hãy chờ chị một chút nhé, tôi nói với con mèo làm bằng bông cỏ may của tôi, chỉ là từ một chút nghĩ ngợi nông nổi của tuổi thơ như thế mà thành ra câu chuyện giờ đây khi nhìn lại bằng nghĩ ngợi của một cô gái 27 tuổi đời nó đã thành ra một thứ huyền thoại của tuổi thơ, tôi còn nhớ, có lẽ vậy, khi tôi hứa với con mèo làm bằng bông cỏ may của tôi thì tôi đã được 9 tuổi, 9 tuổi mà tôi đã có được những ý tưởng về cách làm một ngôi nhà nhỏ, tất nhiên có được ý tưởng đó là nhờ vào ngôi nhà ở miền quê nghèo bấy giờ tôi đã sống rất vui vẻ với cha mẹ tôi, có nghĩa, ngày nào tôi cũng thấy yêu thích cuộc sống của mình bỡi tôi đã được sự che chở một cách kỳ diệu của ngôi nhà ở miền quê nghèo ấy,  9 tuổi tôi đã biết một ngôi nhà là phải có mái che, phải có vách, và những cửa ra vào, chị sẽ làm một ngôi nhà đường hoàng cho em nhé, tôi nói với con mèo nhỏ làm bằng bông cỏ may của tôi, hồi ấy chỉ là thứ ý nghĩ nông nổi của tuổi thơ, nhưng giờ đây với cách nhìn của một cô gái 27 tuổi đời tôi lại hiểu ra rằng mới 9 tuổi đời con người đã bắt đầu nghĩ về ngôi nhà như một cách định vị của mình nơi mặt đất, rồi tôi đã thực hiện được lời hứa của mình, tôi phải thực hiện lời hứa của tôi chứ, bỡi bấy giờ lũ cùng lứa tuổi tôi ở trong làng đứa nào cũng có những công trình qui mô hoành táng, đứa là có kho báu trên rừng, đứa thì có cả một bầy ngựa hoang, con mèo của tôi vốn được làm bằng bông cỏ may, nên giờ  ngôi nhà của nó cũng phải làm bằng cây cỏ may, có thể là trời đã sinh ra cây cỏ may thân thì cao, nhỏ, và cứng để cho tôi làm ngôi nhà nhỏ cho con mèo nhỏ của tôi, tôi nhớ, có lẽ vậy, là hồi đó tôi đã nghĩ vậy, tôi lấy thân cỏ may đương thành tấm, rồi đem ráp lại thành ngôi ngôi nhà có mái che, có vách, và có cửa ra vào, tôi đặt con mèo nhỏ của tôi vào ngôi nhà nhỏ: em hãy vui vẻ sống ở đó nhé, giờ đây nghĩ lại thấy con người quả là con vật có tư duy, mới 9 tuổi đã biết nghĩ đến niềm vui của con mèo, đấy là thứ tư duy về tương quan giữa các sự vật trong trời đất, tương quan lớn nhất con người đã thiết lập được, rồi nắng mùa hè đã làm héo hết những cây cỏ may và bông cỏ may tôi đã chọn làm vật thế thân cho con mèo nhỏ và ngôi nhà nhỏ của nó, những ký hiệu về các sự vật đã bị hỏng, tôi phải làm lại tất cả thôi, tôi nhớ bấy giờ là tôi quyết tâm thế, nhưng mùa hè năm ấy nắng dữ quá,  cây cỏ ở mọi nơi đều chết cả, không còn con mèo nhỏ và ngôi nhà nhỏ của nó tôi buồn đến ngày nào cũng ngồi khóc một mình, thấy tôi buồn, mẹ tôi an ủi, rồi mưa sẽ đổ xuống, cây cỏ may sẽ tươi tốt trở lại, con sẽ có mọi thứ, mặc mẹ an ủi, tôi vẫn buồn, cha tôi đã gọi tôi đến nghe ông giảng: rồi con sẽ làm một con mèo nhỏ khác bằng một thứ  hoa cỏ khác, và cứ để con mèo ở trong ngôi nhà lớn của chúng ta, mưa nắng không làm gì được ngôi nhà chúng ta đâu, tôi nhớ hồi ấy tôi thấy lời cha tôi là có lý, song vẫn cứ thấy nhớ cây cỏ may, giờ đây, mẹ tôi đã mất, chỉ còn cha con tôi sống trong ngôi nhà đã sản sinh ra huyền thoại tuổi thơ của tôi, tôi vẫn còn thấy nhớ cây cỏ may và lời khẳng định của cha tôi về ngôi nhà ở miền quê nghèo của tôi, nhưng bây giờ những tin tức nóng bỏng nghe được hằng ngày cứ như những đám cháy lan ra khắp chốn, tôi cứ sợ ngôi nhà miền quê nghèo của tôi không còn chịu đựng được trước những đám cháy ấy, nhưng sợ nhất là cuộc đời này làm thay đổi cha tôi, cứ sợ ông bắt tôi rời bỏ ngôi nhà đã sản sinh ra huyền thoại của tuổi tôi để đến một chốn phù hoa nào đó,

 

 

 

và lại có khách lạ đến nhà,
 

 

 

chính ông khách đi xe con đến nhà tôi hồi hôm qua đã khiến cô tôi mới sáng sớm đã chạy sang gặp mẹ tôi, hôm qua ai đi xe con đến nhà mình vậy em, cô tôi hỏi, dạ hôm qua thứ sáu bữa nay thứ bảy đó chị Hai, mẹ tôi lúng ta lúng túng, một buổi sáng cuối tuần, tôi không có giờ dạy ở trường, cha tôi thì đến tòa thị chính từ sớm, họ hàng nhà tôi giờ ở quê chỉ còn mỗi cô tôi và những người trong gia đình tôi, ông bà nội tôi sinh cô tôi xong, sinh tiếp một người nữa nhưng đã chết từ lúc mới lọt lòng mẹ, vì sợ, ông bà tôi không dám đẻ nữa, mãi hơn chục năm sau mới đẻ cha tôi, do ra đời cách nhau quá lâu như thế nên tôi luôn có cảm tưởng cô tôi không phải chị mà là mẹ của cha tôi, mà thật, có vẻ cô tôi luôn muốn chăm sóc cha tôi về mặt tinh thần ngay khi cha tôi đang sắp bước vào tuổi già, từ lúc tôi trưởng thành vẫn thấy cô tôi ở vậy, có nghĩa, chẳng chồng con, cho nên, có vẻ, cô tôi coi cái tổ ấm gia đình của bà là gia đình tôi, ở cái xóm nhà lưa thưa, mỗi nơi một ngôi nhà này, như thể là đang diễn ra một cuộc cư trú biệt lập, có lẽ lối cư trú này là một trong những thứ tồn tại lâu đời nhất ở vùng quê này, chẳng hạn mười tuổi mà là con gái thì muốn mang đụt xuống cái đầm nước mặn ở phía đông làng để lượm sò, hến, chẳng hạn, mười tuổi mà là con trai thì  trên môi phải phì phò điếu thuốc lá, nó chính là những cái khiến tôi thấy yêu  ghê gớm làng quê  mình, nhà cô tôi cách nhà tôi một miếng đất vườn khá rộng, nhưng mùa bắp vừa thu hoạch xong, nên từ bên đó ngó sang nhà tôi đã trông thấy có xe con ai đậu ở trước nhà, nghe nói ông bà nội tôi xây ngôi nhà đó cho cô tôi như của hồi môn để bà lấy chồng, ngôi nhà đã trở nên thứ nỗi buồn dai dẵng trong cuộc đời cô tôi, việc có người đi xe con đến nhà tôi, nhà của một viên chức nghèo là cha tôi ngày ngày đi làm việc bằng chiếc xe máy cũ kỹ, thì  đối với mẹ con tôi, và cả cô tôi, là một hiện tượng bất thường hàm nghĩa hoặc tốt đẹp, hoặc chẳng tốt đẹp chút nào, nhưng trong nghĩ ngợi của mẹ con tôi là nghiêng về phía chẳng tốt đẹp chút nào, chắc là cô tôi cũng nghĩ vậy, nên mới sáng sớm đã hồ hộc chạy sang nhà tôi như thế, có lẽ không muốn để cho cô tôi nhìn thấy nỗi bất an trong nghĩ ngợi của mình, mẹ tôi đã trả lời cô tôi với những lời lẽ của một kẻ đang sống trong cuộc đời êm ả: không có gì đâu chị Hai, chỉ là một người bạn cũ của bọn em từ xa đến thăm đó thôi, mẹ tôi đã giấu cô tôi đến 95 phần trăm câu chuyện, nhưng đó lại là cách thể hiện thứ tình yêu cháy bỏng suốt đời mẹ tôi vẫn dành cho cha tôi, buổi sáng cuối tuần, trong đầu tôi có bao nhiêu thứ hình ảnh, trước hết là hình ảnh của người cô ruột thịt  chẳng còn bao lâu nữa là rời bỏ trần gian đương lo lắng cho đứa em trai của mình cũng đương sắp bước vào tuổi già, vẫn cái kiểu lo không làm sao cõng nổi em mình, nếu thực sự có gì nguy hiểm xảy ra là cũng phải cõng em mình như thuở ấu thơ cũng không biết làm sao để cõng em mình chạy khỏi nước lũ đang tràn vào nhà, ở miền quê nghèo của tôi này, mùa đông có nghĩa là nước lũ vào nhà, không phải, ở cái quê nghèo của tôi này gọi nước lũ là nước lụt, cái kiểu gọi chỉ nghe thôi cũng đủ để nhìn thấy hình ảnh con nước đang tràn vào thôn xóm, mẹ tôi biết rõ là cô tôi đang lo lắng cho cha tôi, không phải chỉ lo mỗi việc bỗng dưng có kẻ đi xe con đến nhà tôi, mà bấy lâu, cô tôi có vẻ luôn muốn thay cho bà nội tôi để lo lắng đủ điều cho cha tôi, buổi sáng cuối tuần, hình ảnh của ngày hôm trước [ khiến mẹ tôi và cô tôi lo lắng] cứ từng thứ một hiện ra trong đầu tôi, tôi đang chép nó, trong nghĩ ngợi, nhưng lại chẳng hiểu hết chúng, như thể một thứ bút ký của người đi săn mà núi rừng thì thâm u, trùng điệp, chẳng thể lường trước được điều gì, ngay cả việc ông khách đi xe con đến nhà tôi là còn trẻ hơn cha tôi, trẻ hơn rất nhiều, nhưng cha tôi lại gọi ông ấy bằng anh và với thái độ rất kính nể là những thứ khó hiểu đầu tiên đã va vào nghĩ ngợi của mẹ con tôi ngay từ lúc ông khách ấy mới bước vào nhà,  tôi biết thiếu chút nữa mẹ tôi đã gọi ông ấy bằng chú em [như mẹ vẫn gọi đám tử tước đàn em của cha tôi]  nhưng  bà đã kịp sửa khi nghe cha tôi gọi ông ấy bằng anh, xin chào anh, mẹ tôi nói, và dĩ nhiên tôi cũng đủ thông minh để gọi ông ấy bằng bác, cháu chào bác ạ, tôi nói, và cảm thấy rất khó chịu trong nghĩ ngợi, khi lần đầu tiên tôi phải gọi bằng bác một người nhỏ tuổi hơn cha mình, nhưng chính là những nghịch lý kiểu ấy đã làm cho người ta sáng ra trong cách nhìn thế giới, gọi ông ấy bằng bác xong là tôi bắt đầu thấy sáng ra một vấn đề mà mãi về sau tôi vẫn thấy thích thú khi nghĩ đến từ  ấy: ‘vấn đề hôm nay’,  phải rồi, nó là vấn đề hôm nay, hôm qua tôi không có giờ dạy ở trường, nằm nhà, nên mới gặp người khách lạ đi xe con đến nhà tôi, cái sự cố mới sáng sớm, vào giờ tôi chưa đến trường và cha tôi chưa đến tòa thì chính, có khách đi xe con đến nhà cứ làm cho mẹ con tôi thấy lung túng một cách vô lý, phải giữ phép lịch sự với người khách làn đầu tiên đến nhà, mẹ con tôi đã phải tiếp ông ấy cùng với cha tôi, đây là anh Ba trên tỉnh nhân có chuyện về thành phố ghé thăm chúng ta em ạ và con gái của ta ạ, cha tôi giới thiệu ông khách với mẹ con tôi, và như thế là cũng là giới thiệu mẹ con tôi với ông khách, bấy giờ, mẹ con tôi cứ như những nhà thám hiểm nghiệp dư nóng lòng muốn biết mối quan hệ giữa cha tôi với ông khách là anh Ba trên tỉnh nó là thứ quan hệ gì, thế giới như đang trong thứ phép thử anh Tư à, ông khách cũng không gọi cha tôi bằng tên, mà gọi bằng thứ, và chúng ta thì đang lọt vào thứ phép thử đầy nguy hiểm ấy, ông khách nói tiếp, đằng sau câu nói ấy là một tràng dài thứ ngôn ngữ bác học, tôi thấy mẹ tôi đang  nghe rất chăm chú, còn tôi, cứ có cảm tưởng ông khách là chủ nhân của một công trình  hay một đề án gì đó, mà cha tôi có vẻ như là một trong những người đang thục hiện nó, mối quan hệ ấy không phải chỉ mới xảy ra ngày một ngày hai đâu, tôi nghĩ thế , khi thấy hai người đều  gọi nhau bằng thứ, quả tình cái cách mở đầu của ông khách lập tức mở ra thứ không thời gian rất lạ, và mẹ con tôi chỉ có thể ngồi lắng nghe, có nghĩa, chỉ nghe, và chẳng thể tham gia vào câu chuyện, tôi cứ có cảm tưởng ông khách muốn để cho mẹ con tôi biết mối quan hệ giữa ông và cha tôi là vô cùng thân thiết và vô cùng quan trọng, nhưng không muốn cho mẹ con tôi [tức  vợ con của người cộng sự với ông] biết nội dung của quan hệ ấy là gì, thưa anh, như cách nhìn của anh, đúng là thề giới đang diễn ra như một thứ phép thử vô cùng nguy hiểm, cha tôi chợt nói, tôi cứ thấy người mình lảo đảo, như sắp ngã, và tôi đoán mẹ tôi cũng vậy, tôi thấy gương mặt bà bỗng trở nên xanh xao, lần đầu tiên mẹ con tôi đã nghe thấy cách nói năng thật xa lạ của cha tôi, vô cùng xa lạ, người kỷ sư địa chất nghèo là cha tôi đang lột xác mất rồi sao, tôi nhìn sang phía mẹ tôi, và thấy như bà cũng đang rơi vào thứ tâm trạng vừa ngạc nhiên, vừa ngỡ ngàng, vừa tức giận, nếu không nói là hơi sợ hãi, cũng giống như tôi vậy, bấy giờ, cứ giống như cuộc khảo sát một hiện tượng xã hội vừa bất ngờ phát hiện được, và các nhà khảo sát là những tay hạng bét, một bà kỷ sư địa chất mà tấm bằng kỷ sư là đang gác trên đầu tủ dính đầy bụi để làm công việc nội trợ của một người vợ quá yêu chồng, là mẹ tôi, và một cô giáo dạy văn ở một ngôi trường ở một miền quê nghèo, là tôi, ở cái ngôi trường có giảng bài sai một chút hay sai thật nhiều thì đám học trò tiếng là đang học bậc trung học nhưng có vẻ như chẳng đời nào dám đứng lên chất vấn thầy dạy của chúng, hai đường thẳng song song chẳng bao giờ gặp nhau, nhưng nếu có một đường thứ ba không song song với bất cứ đường thẳng nào trong hai đường thẳng đó thì nhất định phải gặp chúng, đây là cuộc gặp có tính định mệnh anh Tư à, ông khách nói, ngôn ngữ của ông ấy quả đúng là của một nhà thông thái, thông thái thật sự, nhưng ông là ai, một nhà khoa học đang say mê khám phá tự nhiên, hay chỉ là một tay hoạt đầu chính trị đang mở ra  thứ mê hồn trận trong cuộc chiến quyền lực, bỗng, tôi cứ nói to lên trong nghĩ ngợi như vậy, ông khách nói, và cha tôi thì ngồi ngẫm nghĩ, rồi hơi mỉm cười một chút như thể để tỏ ra là tri kỷ với khách, tôi đang rơi vào nỗi hốt hoảng của một đứa con khi bỗng thấy cha mình như thể đang rời  bỏ ngôi nhà nơi ông chào đời ở đó, cha tôi đang dứt áo ra đi hay sao, cuộc gặp giữa cha tôi và người khách lạ cứ giống như một thứ trái phá, chưa nổ, cứ nằm đó giữa sự nghĩ ngợi của tôi và của mẹ tôi,

 

 

 

và lại chuyện vở kịch ấy,
 

 

 

NGÀI CHÍNH KHÁCH [bước ra sân khấu, ngước nhìn trời] ôi, đất trời bao la, ta biết ta là một chính khách của một triều đại huy hoàng, trên giấy tờ, đó là một triều đại huy hoàng, chỉ có thể đứng vững từ buổi sớm mai cho tới chiều hôm, và phụt sáng một cách tàn nhẫn, cũng có thể gọi là huy hoàng, ta là chính khách nên ta biết đó là một thứ khái niệm đánh lừa hết thảy bọn hám quyền lực, kệ chúng, ta biết ta là chính khách của một triều đại mà bọn hám quyền gọi là triều đại huy hoàng, bọn chúng có thể biết hết mọi việc làm của chúng là tàn nhẫn, là độc ác, là vô lương tri, bọn chúng có thể biết nhiều thứ ngoài chuyện quyền lực, biết nhiều lắm, bỡi bọn chúng là những con vật biết tư duy, tư duy thấp, hay cao, bọn chúng chưa lầm lẫn, hay đang lầm lẫn, hay đang rất lầm lẫn, nhưng nói chung là không thể không xếp bọn chúng vào hàng sinh vật có tư duy, trong hành động, có thể nói bọn chúng là một lũ ngu xuẩn, nhưng không thể không nói chúng là những sinh vật có tư duy, bọn chúng biết rất nhiều thứ, duy chỉ có một thứ chưa biết, hay không biết, hay không đời nào biết, ta là chính khách, nên chỉ mỗi mình ta biết điều đó, thực ra, ta đâu phải là chính khách, ta là cái gì còn cao hơn gấp nghìn lần triệu lần chính khách, bỡi ta là kẻ duy nhất biết điều đó, hoàn toàn bí mật, ta biết được điều đó vào một ngày mùa thu, nắng nhạt, và bầu trời thấp xuống, như thể có gì đó như đang kém hẳn đi ở phía bên ngoài ta,  từ giá sách của ta, ta nhìn thấy bước ra không biết bao nhiêu là con người của muôn năm cũ, tức, những kẻ đã chết từ hôm trước, hay tháng trước, năm trước, hay từ những thiên niên kỷ trước, có những người còn có đôi mắt nhìn thấy được ta, xin chào ngài chính khách, một đứa nịnh hót, ta biết đấy là đứa nịnh hót, bỡi đã chết mà còn gọi ta là chính khách, thật ra, ta đâu phải là chính khách, chỉ là những đứa nịnh hót ở triều đại có vẻ huy hoàng hoàng đó đã gọi ta như thế, cái buổi sáng mùa thu ấy, ta cũng cảm thấy buồn bã biết bao, bỡi ta cũng là một con người, hằng đàn người kéo ra từ giá sách của ta, cũng tự xưng là chính khách, những văn nhân mặc khách một thời, bỡi ta nhìn thấy người nào cũng mang trên lưng những túi văn nặng đầy, những thi ca chép trên đất nung có, chép trên thẻ tre có, đời chỉ là ngọn gió, vừa bước đi, bọn họ vừa thở than, rằng, đời chỉ như ngọn gió thoảng qua, ta nghe thấy rất buồn, nhưng không thể không bật cười thầm, bỡi ta biết điều bí mật ấy, hoàn toàn bí mật, cái buổi sáng mùa thu ta đã nhìn thấy bước ra từ giá sách của ta, là ta không lầm lẫn đấy chứ, một ông vua, bỡi ta nhìn thấy niên đại và  niên hiệu ở trên lưng ông ấy, đã hơn nghìn năm rồi ấy, ông vua khom lưng thổi những ngọn nến đang cháy, còn đám triều thần của vua thì đang cúi gập mình trước vua để hô vang lời chúc phúc: hoàng thượng muôn năm, đồ điên, là cái chốc lát lại đi mơ chuyện nghìn năm, cái buổi sáng mùa thu ấy như lời khải thị của một niềm bí mật, một con nai từ trong một cuốn sách nào đó trên giá sách của ta đứng nhìn bóng mình trên dòng suối, nước chảy, và bóng con nai rung rinh, con vật trời bỗng vung vẩy mình theo chiếc bóng của mình trên con nước, ta nghĩ có thể chốc nữa đây một con sói sẽ đến, và con nai sẽ nằm gọn trong bụng con sói, rồi con sói cũng soi mình trên nước, nhoẻn miệng người, cái đám sinh vật không biết tư duy ấy chẳng biết gì về tương lai của mình, ta nghĩ, và bỗng  thấy cứ cộm lên trong nghĩ ngợi, nói thế, chẳng lẽ đám đồng loại có tư duy của ta là biết rõ về tương lai của mình hay sao, ta nghĩ ngợi rất nhiều, và chợt nghe gió ở ngoài vườn thổi, là gió mùa thu đó, ta nghe như cây lá ngoài vườn reo lên, những lời của cây lá đó, chẳng lẽ đám  cây lá ngoài vườn của ta đang ca ngợi mùa thu hay sao, hết thảy cái đám sinh vật không có tư duy ấy là một lũ ngu xuẩn, nhưng ta là chính khách ta đã nhận ra điều bi mật ấy, cái buổi sáng mùa thu ấy như sự khải thị của một niềm bí mật dài lâu, ta là chính khách nên ta biết cả ta, cả cái đám đồng loại có tư duy như ta, và cả cái đám sinh vật không có tư duy như ta, tất cả là đang bị giữ lại, đang bị kiềm tỏa, đang bị khuôn vào một cái vòng tròn, đại loại thế, tất cả chúng ta là một thứ giới hạn, ta là chính khách nên ta biết cả ta cả đám đồng loại có tư duy như ta và cả đám sinh vật không có tư duy như ta, tất cả chỉ là không bằng một cái ngón tay, không bằng một cái móng tay, không bằng nửa hạt bụi… một màn độc thoại, màn thứ hai trong vở kịch ấy, buổi sáng chủ nhất ấy chính ông Bách, tác giả vở kịch ấy, đã đến nhà tôi để đọc cho cha con tôi nghe màn độc thoại ấy, từ đầu chí cuối chỉ mỗi nhân vật NGÀI CHÍNH KHÁCH nói, chú thấy thế nào chú Tư, đọc xong, ông Bách hỏi cha tôi, tôi thấy cha tôi có vẻ vô cùng lúng túng, thì cha tôi có bao giờ đọc văn chương đâu, nghe rất hay nhưng không thể hiểu hết, cha tôi nói, rất thật lòng, tôi đã viết về chú Tư đó, một cách bất ngờ, ông Bách nói, và cha tôi như có vẻ đang cố giấu đi nỗi hoảng hốt trước mọi người vì lời nói có phần quá sức tưởng tượng của ông, viết về cha tôi ư, một nhà văn có tài có thể làm bất cứ điều gì nhỉ, ngay cả cúi mình nịnh hót kẻ có quyền lực hơn mình để được vinh danh, tôi cứ nói to lên trong nghĩ ngợi như vậy, một tư tưởng của một nhân vật lớn như thế [khải thị của những điều bí mật] mà đem gán cho cha tôi quả là một cách nịnh hót thượng thặng, nhưng với tôi đó là xúc phạm ghê gớm, sự xúc phạm đồng nghĩa với tội ác,

 

 

 

rồi cuộc tranh luận có thể là cuối cùng,
 

 

 

sau cái chủ nhật ông Bách đến nhà tôi đọc kịch bản cho cha con tôi nghe thì giữa cha mẹ tôi đã xảy cuộc tranh luận có thể coi là cuộc tranh luận cuối cùng giữa hai người, cuộc tranh luận như thể là tín hiệu về điều mà tôi phải thu hết can đãm mới dám nói là nó có vẻ giống với sự đổ vỡ, tôi nói chỉ là có vẻ thôi, thật lòng, trong nghĩ ngợi của mình không bao giờ tôi lại để cho thứ hình ảnh khủng khiếp ấy lưu lại dài lâu, đấy là cái đêm tôi cứ có cảm tưởng là dài nhất trong cuộc đời tôi, nằm chờ thử bên phía phòng cha mẹ tôi có xảy điều gì không, tất nhiên là sau đó đã xảy cuộc tranh luận tôi vừa nhắc đến như tín hiệu của một thứ hình ảnh khủng khiếp là sự đổ vỡ, còn bây giờ là tôi đang nói về thứ thời khắc trước khi xảy ra cuộc tranh luận, thời tiền biến cố, trong thứ thời khắc chờ thử có biến cố gì xảy ra không đó, thì cái hình ảnh khủng khiếp là sự đổ vỡ cuộc tình của cha mẹ tôi nó cứ tái đi tái lại trong nghĩ ngợi của tôi, trong tình cảnh cấp bách thế, cấp bách vì hình ảnh khủng khiếp ấy không chịu buông tha tôi,  thì tôi phải nghĩ đến quá khứ của cha mẹ tôi như cách tốt nhất để mình thoát khỏi những ám ảnh khắc nghiệt, tôi đã nhìn thấy một ngày mùa hè hoa nhật thảo nở tưng bừng trong vườn nhà tôi, nhật thảo là tên mẹ tôi đặt cho loài hoa ấy ngay từ hôm mẹ từ phương bắc đặt chân lên ngôi nhà của ông bà nội tôi, hoa nhật thảo phải không anh, phải, đấy là cuộc đối thoại lãng mạng nhất trong cuộc tình của cha mẹ tôi, thật ra, ở quê tôi, thì hoa mẹ tôi gọi hoa nhật thảo ấy là hoa nở ngày [tức hoa chỉ nở vào ban ngày] mẹ tôi, trong niềm hạnh phúc có lẽ là quá lớn lao ấy,  đã bỗng nhìn thấy tên của một loài hoa, ông bà nội tôi đã chết sau đó, sau hai mùa hoa nhật thảo, như thế là tự buổi mới đặt chân lên phương nam mẹ tôi đã để lại cho người đời một thứ chuyện kể như cổ tích, ông ngoại tôi, nghe mẹ tôi kể thế, vốn là lính Tây, tức là lính do người Pháp thực dân tuyển mộ lúc chiếm đất nước tôi, ông ngoại tôi đã đi trấn giữ một số nước thuộc địa của Tây ở bên châu Phi, có nghĩa, ông  tôi đã làm một cuộc xê dịch kinh thiên động địa khắp năm châu bốn biển, mẹ tôi, coi như đã thừa hưởng chất lãng mạng xê dịch của ông tôi, nhưng khi xê dịch đến cái miền quê mùa hè có hoa nhật thảo nở thì giống như một bài thơ hay đậu xuống một người mê đọc nó là cha tôi, cha tôi nói ngôi nhà tôi đang ở là toàn bộ tính cách của ông bà nội tôi, xin nói lại, là toàn bộ tính cách của ông bà nội tôi, chính là người đàn ông trong làng đã bị ông nội tôi đánh bại trong cuộc tiến chiếm tình cảm của bà nội tôi là con một người giàu có trong làng  biết cả chữ nôm và chữ quốc ngữ ngay từ khi thứ văn tự linh thiêng của đất nước tôi mới hình thành là người đã dạy cho bà nội tôi thuộc thơ Thạch Sanh Lý Thông và thơ Chàng Nhái Kiển Tiên, rồi khi về với ông nội tôi, bà đã dạy lại cho ông, có nghĩa cả hai ông bà đều nằm lòng thơ Thạch Sanh Lý Thông và thơ Chàng Nhái Kiển Tiên [Cũng gần với xóm cây đa/Có người buôn rượu cách ba quãng đồng – thơ Thạch sanh Lý Thông, hay, Anh đây xưa vốn Đại Bàng/ Dài công tu luyện hơn ngàn năm nay –  thơ Chàng Nhái Kiển Tiên] không phải văn chương của  bọn Tàu cổ đâu nhé, những thứ thường gọi tứ thư ngũ kinh, ông bà nội tôi là nằm lòng thơ của người nước mình làm, hai người ngâm thơ Thạch Sanh Lý Thông và thơ Chàng Nhái Kiển Tiên trong lúc đi gánh đất đổ nền nhà, rồi đi chặt tre làm mầm trỉ vách nhà, rồi lợp nhà, rồi trét vách nhà, công cuộc ra riêng của ông bà nội tôi, tức gầy dựng một gia thất, một thứ chi tiết thiêng liêng trong cuộc văn hiến thiêng liêng của nước nhà, ông bà nội tôi ngâm thứ thơ người mình làm ra mà tạo ra được một chốn biên cương vững chải, tôi nói chốn biên cương là để nói về  một cái gì đó thuộc về ai đó và không một ai có quyền xâm phạm nó, nhà của ông bà nội tôi là nhà tranh vách đất, về sau, không có tranh để lợp, cha mẹ tôi đã thay mái tranh bằng mái ngói, và để cho vững chải hơn, cha mẹ tôi đã thay vách đất bằng vách gạch, chỉ giữ lại cái nền đất, và cái trần đất, nói tóm, thời ông bà nội tôi thì ngôi nhà tôi đang ở là toàn bằng đất, nền đất, vách đất, trần đất, ông bà nội tôi đẻ cha tôi là đẻ ở giữa đất, cha tôi là toàn bộ tính cách của ông bà nội tôi, cái lặng lẽ giữa đất, tôi lớn lên thấy có những tập thơ Thạch Sanh Lý Thông và thơ Chàng Nhái Kiển Tiên trên bàn thờ ông bà nội tôi, không phải ông bà nội tôi đã đọc được sách quốc ngữ đâu nhé, một tay bán cao đơn hoàn tán biết cái thời chữ quốc ngữ đang thịnh đã thêm vào gánh hàng rong cao đơn hoàn tán của mình  một số tập thơ, khi hỏi đấy là thơ Thạch Sanh Lý Thông và thơ Chàng Nhái Kiển Tiên, ông bà tôi đã mua cả cao đơn hoàn tán lẫn sách thơ,  tôi lớn lên ở cái miền quê thỉnh thoảng nước mặn ở cái đầm nước mặn phía đông đó lại tràn vào nước ngọt ở đồng làng, những cổ tích của đất quê cứ thấm dần vào trí khôn tôi như thể sữa mẹ tôi bú mẹ buổi ấu thơ, và với tôi, mãi mãi là như thế, tôi vẫn luôn nghĩ là như thế, cuộc tình của cha mẹ tôi cứ như một thứ cổ tích đang tồn tại trong cách thế như để làm cuộc tiếp nối, cuộc tình của cha mẹ tôi là thứ cổ tích đương đại tiếp nối thứ cổ tích ngàn năm mây bay của ông bà nội tôi, đó là một ngày mùa hè hoa nhật thảo nở tưng bừng ngoài vườn, bấy giờ tôi là cô gái đang học năm cuối bậc trung học, tức đã bắt đầu nhìn thấy những nét tinh tế và đầy bí ẩn trong những cảm xúc riêng tư, đã bắt đầu nghe thấy có những thứ tiếng gọi nào đó, chưa rõ, nhưng vẫn cứ nghe vang lên ở bốn chung quanh, đấy là ngày cuối tuần, tôi chỉ học mấy giờ đầu, và trở về nhà sớm, cha mẹ tôi thì đang ngồi với nhau chỗ bàn ăn nhìn ra khu vườn hoa nhật thảo đang nở, cha tôi đã quyết định nghỉ một buổi sáng ngày cuối tuần để ngồi lại với mẹ tôi, xin nói lại, đây là ngồi lại với nhau, không phải là tôi muốn cho sự việc trở nên lung linh đâu nhé, nó vốn là thế, một người chỉ xê dịch một lần như thế rồi đậu lại nơi một vùng đất như một thứ toàn cảnh của hạnh phúc, kể từ ngày theo cha tôi về phương nam cho đến lúc tôi biết mơ mộng, mẹ tôi vẫn cứ ở yên một chỗ, chỉ là liên lạc bằng thư từ, và về sau thì bằng điện thoại với bên ngoại tôi, cho đến lúc đó tôi vẫn chưa biết quê ngoại của mình, tôi chỉ có thể hình dung ông bà ngoại tôi qua hình dung của mẹ tôi, dường mẹ tôi rất sợ xê dịch, dù là xê dịch một chút thôi nhưng với bà là cũng làm hỏng đi cái vẻ hoàn tất của một cuộc tình, và cha tôi vẫn ngồi yên đó, giữa đất, như là để tỏ đồng tình với cách nhìn có vẻ như ngẫm nghĩ dài lâu của mẹ tôi, cái buổi sáng mùa hè hoa nhật thảo nở tưng bừng ấy, từ trường học trở về, lần đầu tiên trong đời tôi đã cảm nhận ra, bằng cả niềm xúc động mãnh liệt của mình, một bức tranh tĩnh vật, thật sự là một bức tranh tĩnh vật nằm ngoài mọi đánh giá của những nhà thẩm mỹ nghệ thuật, cái trầm luân thế sự đã cô đặt lại thành niềm lặng lẽ, là cha mẹ tôi đó, cha mẹ tôi đã ngồi lại với nhau đó, hoa nhật thảo quả tình là đẹp phải không anh, phải, tôi nghe cái bức tranh tỉnh vật ấy nói, và, dường như tôi đã nhìn thấy toàn bộ cuộc vạn lý trường tình ấy [những thứ ấy là tôi từng nghe từ mẹ tôi hay tôi đã từng thấy] bắt đầu là cuộc hò hẹn sấm sét dưới gốc phượng sân trường và trải dài ra trong ngôi nhà cổ ông bà nội tôi để lại ấy, nó là toàn bộ những vẻ đẹp lớn lao nhất, như thể là thứ niềm ước mơ vĩnh hằng vậy, vào cái đêm tôi cứ cảm thấy như dài nhất trong cuộc đời tôi ấy, cái đêm sau khi ông Bách đến nhà tôi đọc kịch bản ấy, tôi đang chìm đắm trong bức tranh tĩnh vật là cuộc ngồi lại với nhau của cha mẹ tôi ngày ấy thì bên phòng cha mẹ tôi đã nổ ra cuộc tranh luận, chỉ là cách diễn giải cho có chút cấp bách đấy thôi, chứ cuộc đối thoại của cha mẹ tôi cũng dịu dàng như ngày nào, hai người đang nói về chuyện đọc kịch bản của ông Bách, anh không thấy khó chịu sao khi ông ấy đã đem cái tư tưởng sầm uất của một nhân vật kịch gắn cho anh, mẹ tôi nói, không đâu, đấy chỉ là cách ăn nói hơi kịch một chút của  một nhà viết kịch thích ăn nói theo kiểu đó em à, cha tôi nói, nhưng chẳng lẽ anh chẳng thấy đấy là một cách nịnh hót của ông ấy hay sao, mẹ tôi nói, không đâu, tất cả chỉ là chuyện chung, ở đây chẳng có ai nịnh hót ai em ạ, cha tôi nói, tôi nghe rất kỹ cuộc đối thoại của hai người, vẫn những giọng nói êm đềm của ngày nào, nhưng tôi cứ thấy hoảng hốt ở trong lòng, đổ vỡ sắp diễn ra giữa  những dịu dàng ấm áp ấy, tôi nghĩ, nhưng lại vội vã xua khỏi đầu óc thứ ý nghĩ khủng khiếp ấy,      

 

 

 

rồi những ngày tháng ấy,
 

 

 

cha tôi bỗng đi biền biệt, ngày đầu tiên cha tôi đi làm việc ở tòa thị chính không về nhà, ông gọi mẹ tôi: hôm nay công việc nhiều quá anh phải làm việc cả ngày đêm , không về nhà được, em đừng chờ, mẹ tôi đoán rằng cha tôi đang xúc tiến một công trình nào đó, chẳng hạn đang ký kết với một nước nào về việc xây dựng một công trình nào đó nên ông  không có thời gian để về nhà, mẹ tôi nói cũng phải, vì cha tôi là người đang phụ trách mảng công việc coi như công  việc chủ đạo của thành phố: đầu tư và phát triển đô thị, nhưng rồi những ngày tiếp sau đó cha tôi cũng không về nhà, sáng ra là mẹ tôi lại nghe cha tôi gọi về: anh đây, anh đang ở tòa thị chính đây, và hôm nay anh cũng không thể về nhà, ngay cả các ngày chủ nhật cha tôi cũng gọi về, rằng công việc quá nhiều, phải làm luôn cả ngày chủ nhật, như thế là cha tôi đã đi biền biệt gần một tháng trời, ngày ngày mẹ tôi như một chiếc bóng, buổi trưa tôi đi dạy về lúc nào cũng thấy mẹ tôi ngồi chống cằm nhìn ra khu vườn nhà, bà đã nấu nướng xong xuôi, và ngồi chờ tôi, thì mẹ tôi chỉ còn ngồi chờ tôi mà thôi, vì sáng ra là mẹ đã nghe cha tôi gọi về bảo là  ông không về nhà,  trong cuộc tình của cha mẹ tôi [tôi cho là đẹp nhật trong những cuộc tình] nó là thứ nhịp điệu buồn, rất buồn, cuộc tình ấy, với tôi, như một thứ cung đàn, và nó là đang lỗi nhịp, nhưng trong cách nhìn về mối tương quan giữa cá nhân cha tôi và cái thế giới ông đang sống thì chẳng đơn giản vậy, cái thế giới ông đang sống là một thứ mặt đất ở đó con người khôn hơn các vị thần nhưng ngu hơn các loài súc vật, không ngu mà đi giết đồng loại mình hằng loạt sao, có nghĩa, bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra ở thế giới này, trong cách nhìn về mối tương quan ấy thì niềm hoài nghi đang bắt đầu đè nặng cuộc đời mẹ tôi, tôi biết là mẹ tôi đang nghi ngờ cha tôi về điều gì đó, niềm hòai nghi như thể sự cố quá lớn bỗng ập xuống bà, bỡi việc cha tôi bỗng bỏ nhà đi biền biệt như thế là sự cố chưa bao giờ xảy ra trong cuộc chung sống của hai người, có thể để tự an ủi mình, mẹ tôi đã đổ thừa hết cho cuộc sống, nhất định là cái thế giới đầy biến động này đã lôi kéo cha con vào mối hiểm nguy nào đó, mẹ tôi nói với tôi, và tôi đã tỏ đồng tình với bà, được rồi, em sẽ chờ anh thêm một chặp nữa, có thể là mẹ tôi đã tự nói với mình như vậy, một chặp nữa tức cái phía trước bỗng dưng mờ mịt, bỡi mẹ tôi bắt đầu nhìn thấy cuộc tình của mình không còn hoàn tất như trước, đêm, tôi cứ nằm lắng nghe thử những gì đang xảy ra bên phía phòng cha mẹ tôi mà bây giờ chỉ còn mỗi mẹ tôi, rồi chỉ nghe thấy sự lặng lẽ chết người [đêm là mẹ tôi tắt hết đèn đóm] bây giờ sự cô đơn của mẹ tôi là niềm lặng lẽ chết người ấy, đêm, tôi cứ tưởng tượng cảnh một người đang bước giữa cuộc tuần hoàn mưa nắng, thứ nhịp điệu đều đặn của sinh tồn, rồi bỗng một hôm nhìn thấy đất sụt núi sụt, thì không thể không nghi ngờ rằng có kẻ phá phách đang trốn giữa tạo hóa, nhưng mẹ tôi là đang nghi ngờ cha tôi về điều gì, hay là cha con đang có một người phụ nữ khác, tôi cũng chỉ giả vờ hỏi mẹ tôi thế, hỏi để coi thử mẹ tôi đang nghi ngờ cha tôi về điều gì, mẹ biết là cha con biết rất rõ trên đời này chẳng có người phụ nữ nào yêu cha con hơn mẹ, con gái của mẹ ạ, mẹ tôi nói, và đã không cầm được nước mắt, tôi biết là tôi đã chạm vào một cuộc tình từng quá hoàn hảo đối với  mẹ tôi, như thế là cha tôi đã bỏ nhà đi biền biệt hơn một tháng trời, cha tôi đang ở tòa thị chính, cứ cho là thế, bỡi ngày nào, sáng ra là cha tôi lại gọi về mẹ tôi: anh đây, anh đang ở tòa thị chính đây, ông đang ở tòa thị chính, hay đang ở phương trời nào, bấy giờ chỉ trời mới biết, rồi, từ những tư liệu bạn bè mẹ tôi đã cung cấp cho mẹ tôi, cái bảng phong thần quỉ quái ấy, hay cái lý do nhà viết kịch bản Bách đã viết vở kịch ấy, tất cả những tư liệu ấy đã thúc đẩy tôi tiến đến cái kết luận tại vì đâu cha tôi lại bỏ quá nhiều thời gian cho việc vắng nhà như vậy, thứ kết luận đối với tôi bấy giờ là một nỗi sợ hãi, tôi đã mường tượng ra  cảnh cha tôi đang hăm hở bước vào một cuộc chiến mà tự rất lâu tự buổi có người vừa ngồi lên ghế quan đã rống lên ôi sung sướng quá toàn bộ nhân loại đã cho rằng đó là cuộc chiến hèn hạ nhất, cuộc chiến quyền lực, tôi như không còn đủ sức để giảng bài cho lũ học trò, cứ thấy như mình bỗng mất đi sinh lực sau cái hôm mường tượng ra cảnh cha tôi trên lưng ngựa  cùng đồng đội đang tiến vào cuộc chiến hèn hạ đó, tôi nào dám nói với mẹ tôi rằng mình đã mường tượng ra cảnh khủng khiếp ấy, rồi tôi lại thấy khủng hoảng nữa khi nghĩ rằng mẹ tôi cũng đang nghĩ như tôi, nhưng có một thứ bất ngờ, quá bất ngờ, khiến tôi có cảm tưởng như vừa thoát chết sau lần ngã ngựa, đêm ấy, bên phòng cha mẹ tôi không phải là thứ bóng tối thường lệ, mà là đèn đuốc sáng choang suốt đêm, tôi muốn nói đến sự cố bất ngờ là mẹ tôi bắt đầu viết nhật ký, mẹ tôi chong đèn bắt đầu viết nhật ký vào cái đêm mùa thu toàn thể đất đai cây cỏ ngoài vườn nhà tôi như thể đang toát lên thứ hương vị như có gì đó thật xa xôi đang đến với mình, hồi tôi mới vào học trung học, có một lần mẹ tôi đang trong thứ hương vị tình yêu tuyệt vời của mình, bà đã thổ lộ với tôi rằng một lúc nào đó bà sẽ viết về đất đai, thứ mà mẹ đã thấy gắn bó với nó tự buổi ấu thơ, mẹ tôi nói tình yêu đất đai đã khiến bà chọn ngành học địa chất, tôi nói mẹ tôi bắt đầu viết nhật ký là viết về đất đai đó…’con đường vào làng tôi là con đường đất nhỏ hẹp chạy giữa hai bờ rào toàn cây cỏ dại, sao hồi ấy người làng tôi lại yêu quí các loài cây cỏ dại như thế tôi cũng chẳng biết, cứ để cho các loài cây cỏ dại phủ hai bên lối đi, tôi bước đi trên con đường làng mưa hay nắng cũng cứ nghe đất mát rượi dưới chân, và mỗi khi phải đến cho kịp hẹn với lũ con gài cùng lứa tôi ở trong làng là tôi phải chạy, mỗi khi chạy trên con đường làng tôi cứ thấy như đang chạy giữa hai bờ con sông nhỏ’, mẹ tôi viết về đất đai vậy đó, tôi cứ thấy ghen tị với mẹ tôi, vì tôi là cô giào dạy văn nhưng không đời nào viết được một câu như mẹ, mẹ đang viết hồi ức của đất đấy, mẹ tôi nói, thật ra viết như thế thì nói là những hồi ức về đất, nhưng mẹ lại nói  là hồi ức của đất, tôi cũng không biết tại sao mẹ tôi lại nói như vậy [đêm tôi cứ chong đèn lên, ngồi nghĩ ngợi về những con đường đất ở quê tôi, nghĩ thì thật là nhiều, bữa ấy tôi đã gặp ai trên đường, và nói những gì, nhớ hết cả, nhưng cứ ngồi mãi dưới đèn, không viết được chữ nào, chưa viết được chữ nào thì trời đã sáng, ban ngày cũng vậy, cứ ngồi nghĩ mãi, chưa viết được gì, trời đã tối, sao thời gian với tôi bấy giờ ngắn quá, cứ sợ không đủ để tôi viết về đất đai quê tôi, thời gian như đang chống lại tôi, như cứ ngắn lại, ngắn quá…] đấy, trong hồi ức của đất, có những đoạn mẹ tôi đã đặt trong ngoặc vuông như những chú thích, tôi đọc những chú thích như thế thì hiểu ra rằng, vốn là sinh linh bé nhỏ trong thời gian vô tận, mẹ tôi bỗng thấy thời gian như ngắn lại, thấy ngắn lại là thấy nhỏ đi chứ gì nữa, thấy nhỏ đi là thấy mình lớn hơn nó chứ gì nữa, tôi cứ thấy vừa vui, vừa sợ, có một thứ biến động nào đó, lớn lắm, trong nhận thức của mẹ tôi, khi có những hồi ức hân hoan về quá khứ của mình thì người ta sẽ thấy thời gian ngắn lại hay sao, tôi không biết, cha tôi đi biền biệt như thế là đã gần hai tháng trời, tôi đã thử hỏi mẹ tôi, từ sáng giờ cha con đã gọi về mẹ chưa, tôi hỏi để dò thử thứ nhận thức mới mẻ của mẹ, ông ấy mới xa nhà mấy hôm mà làm như đã lâu lắm, nhớ mẹ, và gọi về mẹ liên tục, mẹ tôi nói, tôi lại thấy sợ, rất sợ là khác, hay là mẹ tôi đang mắc một thứ bệnh gì đó thuộc lĩnh vực nhận thức, nhưng nào phải, mẹ tôi đang vui thực sự, ngày đêm mẹ tôi cặm cụi viết, và bà rất vui, cũng mới đây thôi, con gái của mẹ ạ, ông nội con nói một người tự phương bắc xa thế mà đến được phương nam là quá kỳ diệu, ông nội con đã nói về mẹ vậy đấy, mẹ tôi nói, mẹ tôi rất thích gọi nơi cha tôi sinh ra là phương nam, phương nam của mẹ tôi, ông tôi có nói thế với mẹ tôi hay không chẳng còn quan trọng, điều đáng nói là, thì ra bây giờ mẹ tôi bỗng thấy mọi chuyện của quá khứ là chỉ mới đây thôi, bà bỗng thấy cái quá khứ mấy chục năm trước của mình là mới xảy ra  thôi, tôi cứ cánh canh trong lòng một nỗi sợ, nhưng đấy là sự thực, là mẹ tôi đang rất khỏe mạnh, đang sống trong niềm vui, rất vui,  đấy là toàn bộ những gì tôi đã nghĩ ngợi và diễn giải về sự thay đổi đột ngột trong nhận thức của mẹ  tôi, không chắc là đúng, nhưng tôi đã rất xúc động và thành thật nghĩ  vậy, mẹ tôi đã làm một cuộc sánh vai với thời gian, tôi cứ nghĩ vậy,  nếu không phải thế thì điều gì đã làm cho bà rất vui, đã viết được những khúc hồi ức của đất đẹp như thế…’là tôi đang hào hứng với dòng sông và bờ của nó, dòng sông quê hương tôi vào buổi sáng mùa xuân như thể toàn bộ những ý nghĩ của thế giới đang đổ vào nó, bây giờ thì tôi nghĩ thế, còn lúc đó, với đứa con gái quê mười tuổi thì dòng sông và bờ của nó chỉ là một thứ kéo dài ra của giấc mơ trong đêm của tôi, ở trong đêm, tôi ngủ rất ngon, và mơ thấy mình lạc vào một xứ sở chỉ toàn nước với nước, và chỉ có mỗi con đường đất băng ngang qua xứ sở đó, thì dòng sông và bờ của nó đã chạy vào giấc mơ trong đêm của tôi chứ gì nữa, tôi là vậy, còn cái bóng của tôi trên dòng sông lại là chuyện khác, quả là một đứa con gái lẳng lơ, nó đâu chịu đứng nghiêm trang như tôi, mà cứ nhảy nhót ở trong nước, dòng sông  đang mang theo nó nào xác rơm rạ, xác cỏ, nào những mảnh lá gói bánh dầy bánh chưng, ai đó đã vừa đi trên bờ sông vừa ăn bánh dầy bánh chưng và ném xuống sông lá gói bánh, tôi thấy cái bóng của tôi trên dòng sông nhảy nhót liên tục, còn những thứ khác thì đang trôi đi, giờ đây nghĩ lại tôi thấy mình hồi ấy là một đứa thờ ơ, thờ ơ hay là tàn nhẫn nhỉ, sao lại không chịu  chia xẻ niềm vui với đứa con gái đang nhảy nhót dưới sông vốn là cái bóng của chính mình, rồi cứ làm như thể chẳng có quan hệ chi với nó, tôi lặng lẽ ngồi xuống bờ sông, lặng lẽ ngồi xuống thứ đất đai vốn là phù sa lắng đọng lâu thành bờ, tôi vẽ lên thứ phù sa lắng đọng ấy thứ hình vẽ mà tôi vừa nghĩ được trong đầu trong buổi sáng mùa xuân, bây giờ nghĩ lại có thể nói đấy là toàn bộ sinh lực trời đất đã chuyển vào sức tưởng tưởng của tôi, bây giờ thì cứ cho đấy là hình ảnh của một cuộc tình, nhưng hồi ấy tôi nghĩ là tôi phải vẽ một cái gì đấy để chứng tỏ cho đứa con gái lẳng lơ đang nhảy nhót dưới sông, tức cái bóng của tôi, biết rằng tôi là một đứa con gái đường hoàng và thông tuệ, bấy giờ tôi nói là thông tuệ, chứ hồi ấy  tôi nghĩ là làm sao cho đứa con gái lẳng lơ đang nhảy nhót dưới sông và tòan bộ đám con gái cùng lúa tôi trong làng biết rằng chỉ có tôi là mới có thể vẽ được như thế, tôi đã vẽ cảnh buổi sáng mùa xuân lũ bướm ngu ngốc cứ tưởng tôi là cái bông hoa to tướng hay một cành hoa to tướng chúng cứ từng bầy bay chấp chới trên đầu tôi, trong khi tôi đang ngồi trên sự lắng đọng phù sa để nhìn những đám mây mỏng đang dịch chuyển trên bầu trời trên đầu mà bấy giờ bằng trí tưởng tượng ngu xuẩn của mình tôi đã thành thật nghĩ đó là những lâu đài của nàng tiên trong câu chuyện kể của mẹ tôi’, thưc ra thì hồi ấy tôi cũng chỉ mới nghĩ ngợi ở trong đầu là tôi đã vẽ ra được thứ cảnh trí ấy’

 

 

 

rồi đám tử tước ấy,
 

 

 

cha tôi đã về, và kéo theo đám tử tước đàn em của ông, một ngày chủ nhật thật náo nhiệt đã làm cho tôi gần như quên hết những hoài nghi về cha tôi, thì cha tôi vẫn còn nguyên vẹn kia mà, vẫn là cha tôi thuở nào, vẫn cái chất đất đai rất thật trong ánh mắt, trong cách cư xử nói năng, xin nhắc lại, ông bà nội tôi đẻ cha tôi là đẻ giữa ngôi nhà bốn bề bằng đất, nền đất, vách đất, trần đất, em đang viết hồi ức của đất đấy anh, mẹ tôi khoe với cha tôi ngay khi ông vừa về đến nhà, ban đầu tôi cứ nghĩ mẹ tôi đang cố nén những tình cảm tức giận về việc cha tôi bỏ nhà đi biền biệt để giữ cho cuộc tình của hai người vẫn đẹp như xưa, nhưng không phải, quả tình những cảm hứng trong sáng tạo đã làm cho mẹ tôi hoàn toàn khác trước, thật sự là bà chẳng còn nhớ chuyện cha tôi đã bỏ nhà đi như thế, còn cha tôi, tôi đoán là ông đang nghĩ rằng mẹ tôi đang cố giữ cho tình cảm hai người êm đẹp, một ngày chủ nhật thật náo nhiệt, đám tử tước đàn em của cha tôi, tất cả đều đi xe máy, khi đưa cha tôi đến nhà rồi thì chỉ để lại đây hai người, còn bao nhiêu lại tiếp tục lên đường tham gia cuộc chiến đấu khác [tức những cuộc rượu ngày chủ nhật đấy] hôm nào bọn em sẽ đến nữa, anh Tư, đám người sắp tiếp tục lên đường, nói, chúc các cậu chiến đấu tốt nhé, cha tôi nói, rồi quay sang tôi, con gái của cha hãy đi mua cho cha két bia và thức nhắm, tôi chạy đi quán bán đồ nhậu ở xóm dưới, dường bom đang nổ, cuộc chiến săp kết thúc, và kẻ chiến thắng sắp ngồi lên ngai vàng, tôi vừa đi vừa nghĩ thế, nỗi hoài nghi về cha tôi lại trở lại trong nghĩ ngợi của tôi, bấy giờ thì cách phối cảnh là như thế này, mẹ tôi vẫn say mê viết hồi ức của đất ở phòng cha mẹ tôi, ở phòng khách  là hai vị khách tức hai  vị tử tước đàn em của cha tôi, một chủ nhà chính thức là cha tôi, và một chủ nhà dự khuyết là tôi, chủ nhà dự khuyết là người phụ trách tiếp tế rượu bia cho cuộc nhậu, giờ đây, khi nhắc chuyện cũ, tôi không muốn nêu tên đám tử tước đàn em cha tôi vì không muốn chạm vào linh hồn những người đã khuất, và không muốn làm phiền lòng những người đang sống và đang làm việc cùng cha tôi, hai vị khách ngồi uống với cha tôi thì một người là tiến sĩ khoa học, chuyên gia về giống cây trồng và vật nuôi, công trình sư trưởng công trình phát triển nông thôn mới của thành phố, và một người là giáo sư tiến sĩ cơ thể học, chuyên gia về phát triển nhân sự, trưởng tổ chức nhân phẩm con người  [khi nghe cha tôi nói đến  nông thôn mới của thành phố tôi thật sự lấy làm hết sức ngạc nhiên: thành phố mà sao có nông thôn mới] đám đàn em của cha tôi anh nào cũng mang trong mình một lô học hàm học vị và chức tước như vậy nên tôi phải gọi tắt là tử tước cho dễ nhớ [không phải tử tước, hay bá tước thời châu Âu trung cổ đâu nhé] tay chuyên gia về giống cây trồng đổ mấy giọt bia lên tấm phản ngựa, rồi đặt một ngón tay trỏ của bàn tay phải của mình lên đó và chờ cho rượu bia ngấm đủ cả ba lóng tay của ngón tay thì đem in lên ống tay áo của tay tiến sĩ cơ thể học, rượu bia ngấm vào vải làm nổi lên hình thù một con sâu, cái kiểu cách khởi đầu cho một cuộc tranh luận để vui chơi của các nhà quí tộc thời nay là  làm vấy rượu lên áo kẻ địch, cốt ý là làm cho nó có vẻ  giống với việc rút gươm ra trong thách đấu của đám quí tộc  châu Âu trung cổ [cha tôi ngồi uống rượu với hai người đàn em trên tấm phản ngựa, tức cái giường bằng ván gỗ, của ông bà nội tôi để lại] tôi lại nghe như đang vang lên đâu đó tiếng bom đạn, cuộc chiến chưa kết thúc sao, cha tôi và hai tay đàn em lại cùng nâng ly, tôi thấy cha tôi cười, nụ cười thật hạnh phúc…’đấy là dòng sông màu nguyệt bạch, màu trăng sáng trên sông, con sông đang chảy vào nỗi ước mơ, có ai đó đang lội  xuống sông, nước hơi rung rinh, em đang đi tìm ai chăng’…tay chuyên gia về giống cây trồng uống cạn ly bia và như thể đang phác họa về một giấc mơ nào đó đầy ắp chất thi ca …’nhưng nó là thứ giới hạn chết người đó’…tay tiến sĩ cơ thể học cũng uống cạn ly bia của mình và phẩy tay, nói, như thể đang xóa bỏ cái phác thảo đầy chất thơ của đồng đội của mình…’nên nhớ đấy là dòng sông chết, anh bạn ạ, nó là nỗi chết, cái duy lý giết chết mọi thứ trong trời đất, đây là thời của những thực tiễn cách mạng làm chủ trái tim chúng ta, anh bạn ạ’   có vẻ như tay tiến sĩ cơ thể học đã say lắm, nhưng trong cách nói của anh ta thì đầy chất duy vật sử quan, tôi biết là bọn họ đang nói về chuyện giới hạn của tri thức, cha tôi vẫn ngồi lặng lẽ, nhấp bia, trong tư thề của bậc đàn anh ngồi nghe bọn đàn em trò chuyện, tôi bỗng thấy có người đàn ông đang cắm cây cọc xuống bờ biển, cứ cho là người đàn ông đầu tiên đã cắm cây cọc xuống chỗ bờ bãi ấy, sử sự bao giờ cũng lung lạc quyến rủ tôi như thể thứ khí trời buổi tinh mơ sáng thức ra là nghe thấy lưu chảy trong hơi thở của mình, tôi như đang nhìn thấy người đàn ông cắm cây cọc định vị cho thành phố tôi đang là cư dân của nó là vào một ngày mùa thu, cái mùa đất trời ấy cứ mãi ám ảnh tôi, mùa thu, lũ chim yến bay đầy bầu trời trên đầu người đàn ông đang cắm cây cọc định vị cho thành phố của mình, từ đấy là lũ lượt những bầy đàn người kéo đến sinh sống trên mảnh đất nằm bên biển đó, từ ngày người đàn ông cắm cây cọc xuống bờ biển cho đến ngày đám tử tước đàn em của cha tôi tranh luận về giới hạn của tri thức là một bước tiến, hay lùi, tôi không biết, chỉ biết rằng cuối buổi tranh luận ấy, cha tôi như thể một mẫu mực của đời sống để đám tử tước đàn em của ông cúi đầu bái phục…’anh Tư của em, anh cứ ngồi lên ngai vàng đi, bọn chúng em sẽ đem hết khả năng ra phục vụ anh, tay chuyên gia về giống cây trồng nói,  ‘dạ, anh Tư của em, bọn em sẽ hết lòng vì anh’   tay tiến sĩ cơ thể học nói, lời nói của kẻ say là thật nhất, việc tôi nghi ngờ cha tôi đang lao vào cuộc chiến quyền lực giờ đã quá rõ rồi còn gì,

 

 

 

rồi những tháng năm chim bồ câu nhặt thóc,
 

 

 

cô tôi đã chết, bà đã sống quá lâu để nhìn thấy những đau khổ của trần gian, cô tôi rất đẹp, cũng học hành có bằng cấp như cha tôi, nhưng không có cái duyên phận trần gian nên cứ ở vậy một mình cho đến cuối đời, cô tôi chết trong thứ tâm trạng bất an về người em trai ruột thịt mà bà cho là đang dấn bước vào cõi tăm tối, nó là em của cô nên cô biết rất rõ, cha con là con chim quyên không còn muốn xuống đất ăn trùn mà muốn làm con chim phượng vút lên trời cao, nhưng không biết có làm được con chim phượng hay không, cha của con là đang lao vào cuộc chém giết chính trường đấy, đó là lời nói cuối cùng của cô tôi đã dành riêng cho tôi, tôi khóc cô tôi nhiều hơn cả cha mẹ tôi khóc cô tôi, vì bỗng dưng  một người đàn bà hơn chín mươi năm sống trên đời lại trở thành tri kỷ của đứa con gái 27 tuổi đời là tôi, cô tôi là tri kỷ của tôi, và những lời trăn trối của cô tôi như đã thành sự thật, đương kiêm thị trưởng của thành phố tôi đang là cư dân của nó đã bị cách chức, bị tù, bà phó thị trưởng thành phố đọc thông điệp mùa hè thông báo cho dân thành phố biết một là bà đang quyền thị trưởng thành phố để lo việc trị nước ở thành phố và hai là cái lý do vì sao đương kiêm  thị trưởng thành phố bị cách chức, bị tù: biển lận công quĩ để dành cho lợi ích cá nhân, thành phố đồn âm lên, người ta nói về ông X, chỉ gọi là ông X, nhưng ông X là ai, người ta nói ông X là người đang có thế lực rất lớn, chỗ dựa của ông là trên triều đình, chính ông X là kẻ đã đánh bại đương kiêm thị trưởng thành phố, tôi cứ thấy hoảng hốt ở trong lòng khi nghĩ rằng thiên hạ đang nói về cha mình, nhưng cái chi tiết chỗ dựa của ông X là trên triều đình có làm cho tôi thấy bớt lo, nếu cha tôi có chỗ dựa thì đó là anh Ba trên tỉnh, người đã đến thăm nhà tôi lần đó, đấy là những tháng năm tăm tối trong đời tôi, tôi cố xua đuổi, nhưng cái bản án bằng dư luận ấy như lúc nào cũng đeo bám đầu óc tôi, người ta đang nói về cha mình đó, lúc nào tôi cũng nghe vang lên trong nghĩ ngợi cái giả thuyết chết người ấy, tôi là con gái của cha tôi nên không thể và cũng không có quyền chia xẻ với cha tôi về những nỗi niềm của mình, còn với mẹ tôi thì không đời nào tôi dám làm cho mẹ lo lắng, trời đang cho mẹ tôi những ngày tháng cuối đời thật bình yên, bà vẫn say mê viết hồi ức, tôi buồn lắm, lâu lâu cũng đọc nhật ký của mẹ tôi…’là những con bò, không phải, chỉ là tôi vừa mới trông thấy trong trí nhớ tôi, những con bò phương nam ấy mà, là tôi đang nhớ về lũ dế, cái lũ dế bao giờ cũng kêu váng lên nơi khu vườn nhà cha mẹ tôi ở phương bắc’   những ký ức của mẹ tôi thật đẹp, vậy mà mẹ tôi đã chết, có phải mẹ tôi chết vì đã kiệt sức trong công cuộc sáng tạo nhằm quên đi những câu chuyện trần gian buồn bã, tôi không biết, đó là thứ bí mật bí mật nhất trong cuộc đời mẹ tôi, đám tang mẹ tôi không phải là đám tang của vợ một chuyên gia về đầu tư và phát triển đô thị, chính là ông giáo sư tiến sĩ  cơ thể học đàn em cha tôi đã đọc điều văn trong lễ tang mẹ tôi, nghe nhắc đến mẹ tôi như người vợ mẫu mực của một nhà khoa học mẫu mực, tôi khóc như mưa, tôi khóc vì thương xót mẹ tôi và vì lo lắng cho cha tôi, đám tang mẹ tôi có cả những vòng hoa trên tỉnh gửi tới, và ở thành phố tôi đang là cư dân của nó thì vô khối những vòng hoa của bao nhiêu đơn vị nhà nước của thành phố, chính bà phó thị trưởng thành phố dẫn đầu đám viên chức ở tòa thị  chính đến viếng tang mẹ tôi, tôi lo sợ vô cùng,  vì cái đám tang mẹ tôi như thể là đám tang  của vợ một đương kiêm thị trưởng thành phố, tôi đau khổ đến muốn chết theo mẹ tôi, nhưng lại không thể cùng cha tôi để khóc mẹ tôi, đêm, tôi nghe tiếng khóc nức nở của cha tôi bên phòng cha mẹ tôi mà bấy giờ chỉ còn mỗi cha tôi, tôi biết cha tôi vẫn yêu mẹ tôi như ngày nào, nhưng tôi không thể chạy sang chia xẻ cùng ông, bỡi sau đám tang mẹ tôi thì tôi thấy lời cô tôi như thể đã hoàn toàn thành sự thật, tôi thấy căm ghét cái ông X đầy thế lực ấy, vào đêm trước lễ đăng quang của vua, bà phó thị trưởng thành phố đã đi xe con đến nhà tôi để biếu cha tôi chai rượu tây vào loại thượng hạng, rằng, sẵn dịp đến bàn bạc với cha tôi về lễ nhậm chức thị trưởng thành phố vào hôm sau, bà muốn cúng tuần cho mẹ tôi chai rượu quí sẵn có trong nhà, cha tôi nói cám ơn, còn tôi cứ muốn hét lên: hãy đi đi cho khuất mắt tôi đồ đĩ điếm chính trị, cha tôi đã nhậm chức thị trưởng thành phố sau bảy ngày mẹ tôi mất, đúng vào hôm cúng bảy bửa đầu tiên, cúng thất [ tức cúng sau khi mẹ tôi chết đúng bảy ngày] tôi buồn quá, lại đọc nhật ký của mẹ …’nắng to như vậy đấy, lúa trên đồng làng lúc bắt đầu có nắng to thì có vẻ buồn bã lắm, thì đất đồng làng khi bắt đầu có nắng to cứ co lại như thể có ai đấy bắt từng chút từng chút đất đai phải riêng ra, rồi người ta bắt đầu nhìn thấy những đường kẽ hiện ra trên đất, rồi người ta bắt đầu nói với nhau rằng đất đồng làng đã bắt đầu nứt nẻ,  giờ đây tôi gọi việc đất đai nứt nẻ là một khái niệm về sự tàn tạ, về nỗi chết, còn hồi đó, khi thấy cha mẹ tôi đứng nhìn lúa chết trên đồng làng thì khóc, tôi cứ thắc mắc tại vì sao lúa chết mà mình lại khóc, nhưng khi thấy cha mẹ tôi cứ đứng khóc hoài thì tôi cũng khóc, hồi ấy thấy cha mẹ tôi khóc thì tôi cũng khóc nhiều lắm’  … mẹ tôi đã viết về cái chết của đất đai, năm năm sống dưới quyền cai trị của ngài tân thị trưởng thành phố là cha tôi, cuộc sống của tôi cứ giống như cuộc sống của lũ chim bồ câu, con chim bồ câu ngày ngày lặng lẽ nhặt thóc, chứ tôi còn biết chia xẻ với ai, cả những đứa bạn gái cũ của tôi cả những người bạn đồng nghiệp của tôi  ở trường trung học ấy đều nhìn tôi với ánh mắt thận trọng, có vẻ hết thảy bọn họ là đứng về phía khác với cha tôi, rồi cha tôi đọc thông điệp mùa đông, lúc thành phố ngập nước,  hứa với dân thành phố trong đó có đứa con gái khốn khổ của ông, rằng ông sẽ xây dựng một thành phố tương lai đẹp đẽ, thành phố thông minh, rồi đám tử tước đàn em của cha tôi lại đến nhà tôi nhiều hơn, những cái chủ nhật náo nhiệt, rồi anh Ba trên tỉnh và bà phó thị trưởng thành phố lại tiếp tục đến nhà tôi, những cái chủ nhật cha tôi bàn bạc với những nhân vật trọng yếu như thế về những điều gì tôi chẳng biết, khiến tôi cứ cảm thấy như ngôi nhà của mình sắp nổ tung, rồi đi tới đâu tôi cũng nghe người ta cũng xì xào, rằng,  ngài thị trưởng thành phố sắp bán đất đai của thành phố cho bọn ngoại quốc, rằng cái ông X nhiều thế lực ấy còn muốn trèo lên cao nữa, có nghĩa, với toàn bộ những dư luận ấy thì cha tôi là đang lao vào một cưộc chiến quyền lực qui mô hơn, bom đạn sắp nổ nữa mẹ ơi, tôi cứ thầm gọi mẹ tôi, vì như sắp nhìn thấy cái chết của đất đai [như thể có ai đấy bắt từng chút từng chút đất đai phải riêng ra] cho đến chết tôi vẫn giữ quan điểm của tôi: sai lầm lớn nhất của con người là khi nắm được quyền lực trong tay rồi thì cứ tưởng là cầm nắm được vận mệnh bầy đàn mình, sai lầm như thể tội ác lớn nhất của loài người, ông giáo sư tiến sĩ cơ thể học lại đến uống rượu với cha tôi vào một ngày chủ nhật nhắc lại câu nói ông đã nói ra trước đó: anh Tư cừ ngồi lên ngai vàng bọn đàn em chúng em sẽ ủng hộ hết mình, cho đến lúc đó thì tôi đã hiểu ra là tôi không còn thể tiếp tục sống trong ngôi nhà có người cha mà tôi căm ghét,

 

 

 

rốt cuộc thì cũng biết nàng là ai,
 

 

 

hóa ra ông thị trưởng mà người con gái tôi mới quen trên tàu đã nói đến rất  nhiều lại là cha của nàng, con tàu lại đi vào vùng rừng núi, cũng  chiều muộn rồi, phương nam của tôi bây giờ thật buồn, rừng phương nam chiều mùa thu như trở nên âm u huyễn hoặc đang trải ra ở bên ngoài cửa sổ con tàu, tôi cứ thấy hụt hẩng, bỡi giữa cuộc đời muôn nẻo và hiểm nguy này lại có một cuộc hội ngộ, cứ nói là định mệnh cũng được, bỡi, bỗng có hai con người xa lạ  gặp nhau trên con tàu đang đi về phương nam, rồi liền thấy như thân quen nhau, một người như thể đang trút hết nỗi tức giận về cái thành phố mình sinh ra và lớn lên ở đó, và một người thì lắng nghe, rồi lại cãi vả nhau như thể đang bất đồng trong cách nhìn thế giới, rồi lại thấy giống hệt nhau ở chỗ là người nào cũng đang khao khát biết thế giới này thực sự nó là gì, tôi bỗng thấy yêu nàng, và cứ thấy ân hận một cách vô lý là tại sao tôi đã để cho nàng ra đi,  nhưng  giờ thì nàng đang đi đâu, chạy cho thật xa cái thế giới mà theo nàng là đang tan nát ấy, hay lại trở về chốn cũ để tìm lại những gì đã mất, tôi không biết, rốt cuộc thì tôi thấy yêu nàng, yêu cái thành phố tang thương của nàng, tang thương và huyễn mộng, con người là con vật kỳ cục, vẫn cứ tang thương, và vẫn cứ huyễn mộng, thật ra chuyện ấy cũng đã quá cũ, nhưng sao tôi cứ thấy  đang vang lên giọng nói rất lạ,

 

 

 

 

giã
tháng 9.2019
tháng 10.2019