trở lại xương quơn

 

NXB VĂN HỌC-     2007   

 

LỜI     ĐẦU  SÁCH  

Lúc lớn lên tôi thấy ở làng mình có nhà họ Khưu. Cày ruộng đã mấy chục đơi, song nhà ấy vẫn tự hào là dòng dõi đế vương.Tổ phụ những người nông dân chất phác ấy là một vị vua ư ? Khi đã có chút vốn liếng kiến thức, tôi liền bắt tay tìm hiểu lai lịch nhà họ Khưu. Mới biết là họ đang lưu giữ một hồ sơ gia phả đồ sộ. Một bản gia hệ bốn mươi tám đời của dòng họ Khưu.Và hằng trăm bản chép bằng chữ Hán và chữ nôm về thân thế sự nghiệp vị tổ phụ cùng những sự kiện lịch sử xã hội có liên quan đến con người từng là vua nước Chang Lang ấy. Một số ít bản không ghi niên đại và tên người chép. Có lẽ là những bản xưa nhất. Toàn bộ còn lại được chép rải rác từ triều Hậu Lê đến triều Nguyễn. Tác giả là các vị khoa bảng con cháu nhà họ Khưu sống trong các triều đại trên. Các vị khoa bảng này chắc không ai ra làm quan, nên không thấy ghi chức  tươc. Hầu hết các bản đều được ghi chú là dẫn lại sách vở bằng tiếng Chang Lang của các bậc tổ phụ, và rút từ cuốn sử tên  Chang Lang Sử Lịch. Bản nào cũng chép rất công phu  như những tác phẩm văn chương.

    Thử phỏng tính thì vị tổ phụ nhà họ Khưu sống vào khỏang thế kỷ thứ mười, tức khỏang thời Lý nước ta. ( Bốn mươi tám đời ít ra cũng kéo dài trong chín mười thế kỷ ) Theo tài liệu này, Chang Lang là một tiểu vương  quốc có nền văn minh khá độc đáo.Vương quốc đó nằm trong đất sau này là của vương quốc Chămpa, và sau này nữa là của Đại Việt ta. Còn làng tôi, nơi chôn nhau cắt rún của vị tổ phụ  họ Khưu, cách Xương Quơn, kinh đô Chang Lang, khỏang hơn  tám mươi dặm về phía tây nam.

    Đọc xong hồ sơ gia phả họ Khưu, tôi bùi ngùi xúc động, cứ tưởng chuyện mới xảy hôm qua. Liền bỏ công dịch thuật những tư liệu vô cùng quí giá kia, và sắp đặt thành cuốn sách này.    

 

ÔNG LÃO CHĂN TRÂU  ĐẤT XUYÊN LÂM

Đấy là quan văn hầu Khưu Chiêu, vị đại quan của vương triều họ Hiêu. Tất nhiên về sau mọi người đều rõ. Nhưng lúc ông mới bỏ triều lui về quê chăn trâu, ai nấy đều sửng sốt. Có ai hỏi vì sao lại làm thế, thì ông đáp :

-Ở triều ta vô dụng.Về thế này lại ích hơn.

Rời triều đình là ông phủi sạch hai tay. Ngựa xe trả. Bổng lộc không màng. Đấy là ý ông muốn , chứ nào ai dám tước bỏ. Đến lúc về quê chăn trâu giúp con, đến tuổi năm mươi tư, ông mới nhận ra mình lạc loài trong dòng tộc họ Khưu. Ông cố ông là Khưu Viễn, cày ruộng, sinh nội ông là Khưu Điền, thợ mộc. Nội ông sinh cha ông là Khưu Tráng, vừa cày ruộng vừa làm thợ nề. Có lẽ cha ông muốn ông phải khác với tổ tiên, nên mới cho ông ăn học văn võ thành tài. Nghe xướng danh hôm trước, hôm sau có tin nước Vân Muôi xua quân xâm lấn. Vân Muôi cách  Chang Lang một dảy Mi Sơn. Mà binh đội Vân Muôi đã đến ải Xương Linh,  cửa ngõ phía nam của đất nươc.

Quan tân khoa vũ hầu Khưu Chiêu lập tức được vua giao cầm quân chống giặc. Những năm binh lửa, ông vừa cỡi ngựa cầm cung, vừa soạn chỉ chiếu điều quân giúp vua Hiêu Lịch, tức vua cha của đương kiêm hoàng đế Hiêu Du. Quả tài năng ông chỉ đắc dụng một thời. Dẹp xong giặc, ông vua thông minh chính trực Hiêu Lịch chuyển ông sang ghế văn hầu để lo việc kiến thiết đất nước. Hăm tám năm bỏ vợ con lại quê nhà để theo phò minh quân, quan vũ hầu rồi văn hầu, Khưu Chiêu chẳng biết mệt mỏi.Vua Hiêu Lịch mất lúc Chiêu vừa đúng năm mươi ba. Sức còn cởi ngựa cầm cung. Song, phải gắng lắm ông mới ngồi lại ghế văn hầu  với vua Hiêu Du được một năm. Con người làm nên  triều đại. Nhưng cũng có thứ triều đại giết chết con người. Chiêu biết giờ ông trở nên vô dụng với đương triều. Nhưng ông tin đến đời con cháu ông  sẽ khác đi. “Chen chi chổ quan trường cho nhọc xác”. Đứa trai lớn của ông là Khưu Châu đã nói thế. Bấy lâu Châu chí thú cày cuốc. Bỗng thấy cha rũ áo quan về quê, Châu cho là mình đã nghĩ đúng. Nhưng quan văn hầu Khưu Chiêu thì khác. Nước phải có triều chính. Dân sướng khổ là do ở vua quan. Ông đã lỡ đi con đường khác với tổ tiên. Nên giờ lại muốn đứa trai thứ  Khưu Luân tiếp bước mình.

 

ĐỨA  CON NỐI NGHIỆP

Phải. Quan văn hầu Khưu Chiêu đã quyết. Là phải có đứa con nối nghiệp mình. Ông sinh Châu khi chưa đỗ đạt. Nhưng mãi lúc sắp yên giặc Vân Muôi, quan vũ hầu đã ghé về quê thăm vợ, nên mới có Luân. Giặc yên thì bà vũ hầu bị bệnh, mất. Không muốn đứa con trai sinh sau đẻ muộn thiếu cả tình cha con, ông đã đem Luân về kinh  ở với mình suốt chín năm liền. Mười mấy năm tham chính đã giúp quan văn hầu Khưu Chiêu nghĩ được cách nuôi dạy con. Là phải biết cày ruộng để biết quí chén cơm, sau đó mới ra làm quan. Luân theo cha chăn trâu, theo anh học cày cuốc. Quan to hết vận cho con đi cày. Lúc đầu chưa hiểu, dân làng Xuyên Lâm nghĩ thế. Xuyên Lâm là đất trung du. Phía nam phía tây đều giáp núi. Cây lúa chỉ ăn hột nước trời. Làm lụng chết xác, vẫn thiếu đói.

-Ở kinh sướng thế, sao đương không bỏ về quê ?

Luân hỏi cha.

Khưu Chiêu đáp.

-Để con học làm ngừơi

Sáu năm sau, lúc đã thành anh trai làng vạm vỡ, cày cuốc thành thạo, Luân mới hiểu lời cha.

Luân lặng lẽ vào núi Thiên Sơn. Rồi lên Mân Sơn. Thiên Sơn ở phía nam, cao, dốc,

các con suối đều ngắn, cạn. Mân Sơn ở phía tây, thấp hơn, nên suối dài hơn, sâu hơn. Hầu như ngày nào Luân cũng đi Thiên Sơn, Mân Sơn.

Một hôm Luân nói với cha :

-Ngươi già phải đi cày thay cho trai tráng đi sưu dịch. Còn đất đai mỗi ngày một cằn . Phải có nước  về đồng, dân làng ta mới đủ cơm ăn. Con đã có cách.

Khưu Chiêu chưa tin :

-Nói ta nghe thử ?

Nửa năm sau, dân Xuyên Lâm có đập nước Mân Sơn. Lúa trỉa chuyển thành lúa cấy. Nhà nào cũng đủ cơm ăn. Đến lúc ấy Khưu Chiêu mới bảo :

-Giờ con đi học văn học võ được rồi.

Nghe cha bảo, Luân chẳng mừng. Từ hôm có nước đập Mân Sơn, dân làng Xuyên Lâm nghĩi ra lắm câu hát. Nghe đám con gái trong làng hát, Luân cứ thấy nôn nao trong lòng. Bỗng nhiên Luân cứ thấy sợ, nếu phải đi xa. Có làm quan rốt cuộc cũng trở về quê. Luân cố gạt khỏi ý nghĩ việc đi học để ra làm quan. Song, Khưu Chiêu đã quyết. Từ Xuyên Lâm đến Xuyên Khê mất hơn buổi đường. Quan văn hầu bước sang tuổi sáu mươi,  nhưng đi đứng còn rất vững.

-Thầy Đa Trà ở Xuyên Khê là chỗ bạn cũ của ta. Sẽ dạy con cả văn võ.

Khưu Chiêu bảo.

Hành lý của Luân gòm nghiên, bút, với hai bộ quần áo vải thô. Quan văn hầu cố khơi dậy nơi Luân ngọn lửa khoa trường, nên suốt buổi đường ông chỉ kể cho con nghe chuyện  triều chính

 

CHUYỆN KỂ THỨ NHẤT

Giờ chắc ông ấy không còn đi lại được như ta. Giáp thìn là chẵn tám mươi tám. Cả một đời phò vua giúp nước. Con tưởng ông Bồ Đài không làm vua nổi ư ? Nhưng không. Trời sinh ông dường chỉ để dạy vua học. Rồi giúp vua  giữ ngôi. Quân sư cũng ông. Rồi quốc sư cũng ông. Tiên đế theo học ông từ thuở lên ba.Theo lời ông, vua Hiêu Lịch thuở nhỏ là tay đại nghịch. Dám vén chim đái vào  chân vạc đồng trước đại điện. Chỉ có quân sư Bồ Đài mới dám đánh vương nhi. Có lẽ năm mươi roi mua thuở đó đã giúp vua Hiêu Lịch trở thành ông vua đức độ. Lúc ta vào triều, ông Bồ Đài sắp sang tuổi sáu mươi.Ta cứ mê mẩn mỗi lần nhìn ngắm gò trán  phương phi với đôi mắt lồ lộ anh minh  của vị quốc sư hiếm có ấy.

-Quan tân khoa Khưu Chiêu nghĩi sao ?

Lần đầu tiên ông hỏi ta. Đấy là lúc triều đình cử ta cầm quân chống giặc Vân Muôi. Câu hỏi giản đơn của vị quốc sư làm bừng lên chí lớn trong ta. Quả là kẻ khác thường. Thê thiếp, không. Võng lọng, không. Ông Bồ Đài khước từ những thứ người đời ai cũng muốn. Con lam mã với tấm lòng ái quốc. Chỉ hai thứ đó là theo suốt bên ông. Thuở ấy, đất nước Chang Lang khoẻ khoắn như anh con trai mười tám.Tiên đế hú nhỏ một tiếng là thần dân đủ mặt. Một vạn binh Chang Lang đã thắng được mười vạn binh Vân Muôi. Không có ông Bồ Đài, chưa chắc đã có vua Hiêu Lịch, con biết không. Nhưng nếu không phải là tiên đế, thì ông ấy đã quất ngựa đi khỏi triều đình họ Hiêu từ sớm.

Quá sáu mươi tuổi thì được lúa tuế, tức lúa cấp cho người già yếu không còn làm lụng nổi. Dân cả nước được miễn các sắc thuế trong năm năm. Đông có Đại Hải để lập bến vô ra. Có bể lớn, tất phải có thuyền bè làm ra tôm cá. Nam, tây có Mi Sơn, Nga Sơn, để lấy trầm hương, đá quí…Ông Bồ Đài phác ra cách kiến thiết đất nước lúc vừa yên giặc Vân Muôi. Nơi chốn nào cũng rầm rập như ngày hội. Nghe Chang Lang lấy được trầm với đá quí, tàu nước Di Vang xin vào đậu cửa Xương Quơn. Thật ra chỉ lấy cớ mua mấy thứ đó để vào dòm ngó thứ khác. Họ đã nghe ta có  mỏ vàng. Kinh thành có đền đài phố chợ, bể Đại Hải có cửa ra vô như con thấy, là nhờ khai được vàng ở Nga Sơn. Công quĩ triều đình bấy giờ giàu khỏi nói. Dân chúng sống sung túc cũng khỏi nói.Vua Hiêu Lịch có ý muốn xây lăng. Nghe chuyện, ông Bồ Đài chống gậy đến tận giường vua.

-Người xưa nói của cao như núi ăn lâu cũng hết. Làm vua là để lo dân sống ra sao, hay để nghĩ  khi vua chết nắm ở chỗ nào, hoàng thượng nói thần nghe thử ?

Tiên đế chùi xuống khỏi giừơng , sụp lạy quốc sư. Rồi xin nghỉ lâm triều  mươi hôm  để tu dưỡng. Cũng lại là kẻ khác thường .Uổng thật. Chỉ sau đó ba năm thì tiên vương mất. Hoàng hậu Tương Linh với ông Bồ Đài là khóc nhiều nhất. Người mất người bạn đời chung thủy. Kẻ mất người bạn đường trang liệt. Một năm ngồi nán lại với vua Hiêu Du , ta buồn đã đành. Mà thấy hai người ấy còn buồn hơn ta. Con đại bàng gìa với con chim câu góa bụa thường nhắc ghế ra ngồi với nhau  nơi vườn thượng uyển. Chẳng biết giờ họ có còn làm thế không ?

 

CHUYỆN  KỂ  THỨ  HAI

Thuở ta vào triều, có ai muốn bậy bạ cũng không được.Vua Hiêu Lịch như thể vị thánh sống. Mà hoàng hậu Tương Linh cũng rất lạ đời. Có bao giờ con nghĩ vợ vua đi nấu bếp không ? Hoàng hậu là con nhà trâm anh thế phiệt.Thân phụ là quan đại tể hầu của tiên triều Hiêu Minh, tức vua cha Hiêu Lịch. Chang Lang ta chưa có trường học cho con các triều thần. Nên quan đại tể hầu đã gửi con gái sang nước Di Vang theo đuổi nghiệp văn võ. Sức ngồi được ghế văn hầu vũ hầu. Nhưng không. Bà Tương Linh  chỉ muốn làm vợ vua . Con có tin chuỵện này không ? Lúc vua Hiêu Lịch tiếp sứ Vân Muôi, hoàng hậu Tương Linh đã nghĩ ra một trăm mười chín món đãi khách, để tỏ rõ quốc hồn quốc túy Chang Lang. Cho đến khi đưa các món vào miệng ăn, tiên đế vẫn còn thầm khen quan nấu bếp của triều.

Bỗng hoàng hậu bước ra giữa tiệc :

-Nghe đại quan từ quí quốc sang, Tương Linh tôi phải đích thân lo bữa yến tiệc.

Chẳng để vị phó vương Vân Muôi kịp nói gì, bà lần lượt kể tên từng món , rồi gút lại :

-Một trăm mười chín là tách ra để nói. Thật ra, yến tiệc hôm nay chỉ là một trong  muôn ngàn món mỹ vị  của đất nước Chang Lang. Đây là món  ăn lông biết cánh, thưa

đại quan

Hoàng hậu nói xong , rút vào hậu sảnh.

Phó vương Vân Muôi ngẩn ngơ một lúc.

-Ai vậy, thưa hoàng thượng ?

-Vương phi của ta đó.

Hiêu Lịch đáp.

Bấy giờ ta vừa đánh thắng Vân Muôi. Song, vì nước nhỏ , nên ta phải giử kẽ. Quốc vương Chang Lang phải đích thân tiếp phó vương Vân Muôi. Hòang hậu Tương Linh đã bù vào chỗ yếu đó. Phó vương Vân Muôi là tay sành sỏi, lại nghĩ  ăn lông biết cánh theo cách  của mình, nên trước khi về nước, đã sai đem nghìn lạng vàng đút lót bà vương phi, với ý đồ để bà hòang tài giỏi ấy không gây khó dễ trong việc giao thiệp buôn bán. Bà Tương Linh im lặng nhận. Rồi sai tì nữ mang thư cùng số vàng kia lại chỗ dịch xá trao cho tay phó vương. “Tương Linh tôi vô cùng khâm phục sức hiểu biết của quí quan. Đất nước Chang Lang nhận được sự chia xẻ như thế ở ngài đã đáng nghìn vàng rồi “

Hiêu Lịch thế. Hoàng hậu Tương Linh thế. Hỏi ai dám bậy bạ. Tiên đế nằm xuống, mọi thứ lập tức khác đi. Lúc đầu ta không tin. Bỡi bọn họ hầu hết là những tay cự phách trong cuộc chiến chống Vân Muôi, những bậc trung nghĩa đối với tiên triều.. Vậy mà giờ khác hết. Thuở ta ngồi ghế vũ hầu rồi văn hầu, Đam Chuyết là anh quan giữ sổ bộ ở triều. Nghe đồn ông ta miệt mài  sách vở. Muốn chép sử, nhưng chưa được cuốn nào. Hồi đó con mới lên tám, đã biết gì đâu. Hiêu Du lên ngôi mới năm hôm, quan giữ sổ bộ Đam Chuyết đã bước lên ghế tể hầu. Người có quyền nạt nộ hết thảy các quan triều , trừ vua, con rể của mình. Cảnh triều chính vừa qua như  trò cỡi ngựa chưn đưng của lũ con hồi nhỏ. Mới là ngựa đã nhảy lên làm người. Lúc chống Vân Muôi, vì dốt cả văn võ, Nhữ Bột với Hiêu Dật chỉ được vào lính nấu cơm. Họ cũng can trường thật. Binh lính đến đâu, bếp ăn phải theo đến đó. Giặc yên, vua Hiêu Lịch  điểm công, thăng quan cho họ. Dật thăng cơ trưởng đội cấm vệ  nội điện. Bột thăng  cơ trưởng đội phòng vệ ngọai thành. Hiêu Du vừa lên ngôi, người ta thấy  Dật leo lên ghế  nội điện, Bột leo ghế ngọai điện. Dật là người trong hoàng tộc, vua cử lo việc giữ ngân khố với hầu trầu cho vua là phải. Dật thăng quan to, bạn chí thiết của Dật là Bột tất cũng phải được quan to. Nghe đâu ta về quê được ba hôm thì vua cho Dật kiêm luôn ghế văn hầu để cầm đầu đám quan văn. Thế là hết. Không, cũng còn chứ chưa hết. Người giữ được trước sau như một, nay cũng hiếm như sao buổi sớm. Theo ta, nay ở triều còn có thống binh Viên Cưu và vũ hầu Vưu Trấp. Tất nhiên không kể  quốc sư Bồ Đài với thái hậu Tương Linh. Trấp là chỗ chí thiết với ta. Từng cùng ta vào sinh ra tử trong cuộc chiến chống Vân Muôi. Thuở ấy, Trấp dưới quyền ta.Ta thống binh. Còn Trấp đốc binh. Bọn ta đã cùng nhường củ moi cho binh lính, canh cho nhau ngủ trên núi Mi Sơn. Quả là tay trang kiệt một thời. Một mình Trấp cỡi ngựa đi đầu, theo sau là đám quân quyết tử . Chính Trấp đã đốc binh đẩy lùi  đội quân Vân Muôi vào chiếm kinh thành thuở ấy. Thắng trận trở về, Trấp hay ra vợ con đã chết trong binh lửa, chỉ sót lại mỗi đứa gái út Vưu Xuyên, mới hơn một tuổi. Bọn ta quí nhau  ở chỗ đều trung liệt với triều đình. Còn thương nhau vì đồng cảnh ngộ. Mẹ Vưu Xuyên cũng sớm lìa trần như mẹ con. Trấp cũng buồn cho chính sự như ta. Ta bỏ triều, Trấp chẳng có lời chi. Con còn nhớ hôm ấy không?  Ta dắt con. Còn Trấp thì dắt Xuyên. Lúc đó là trời vừa sáng . Cửa tây kinh thành chẳng có ai, ngoài cha con Trấp với cha con ta. Trấp im, khóc. Rồi dắt Xuyên quay lại. Ta cũng im. Rồi dắt con đi. Trấp là dân kẻ chợ, dân gốc kinh thành. Ta biết Trấp khóc vì chẳng có ruộng vườn để về như ta.

 

KỶ  NIỆM  KINH THÀNH

Quan văn hầu đã vô tình lái Luân sang hướng khác. Những kỷ niệm kinh thành. Có thứ quá khứ nhất định không chịu phai mờ. Từ lên một đến lên ba Luân được chị vú ẵm bồng. Quãng đó, tất nhiên Luân không thể nhớ. Chỉ sau này, lúc sắp trở về quê, cha Luân mới nói “đấy là người phụ nữ rất mực đoan chính con à”. Cũng gốc người Xuyên Lâm. Thầm yêu Khưu Chiêu từ thuở xuân thời. Bỏ quê đi bặt cho đến khi bà văn hầu mất mới quay về, xin quan văn hầu được làm chị vú nuôi Luân. Thương yêu Luân như con đẻ. Và kính yêu quan văn hầu như kính yêu chồng. Chưa có vết bụi nào làm vẩn đục mối tình trong trắng. Nhưng quan văn hầu đã phải gạt nước mắt để người phụ nữ ấy ra đi. Bỡi đám quan triều ganh tị đã đặt điều nói xấu chị vú của Luân.Vốn khước từ kẻ hầu hạ từ thuở mới vào triều, nên quqn văn hầu  lại trở lại với cảnh gà trống nuôi con. Ngày ngày, dân kinh thành trông thấy ông quan kỳ khôi dắt con ra phố chợ. Phải. Đi chợ, nấu ăn  là chuyện quá bình thường đối với quan văn hầu Khưu Chiêu. Vừa lên năm, Luân đã thay cha làm chuyện ấy. Đêm, mới được cha dạy học hành. Đại điện là chốn thâm nghiêm.Từ dinh quan văn hầu đến  chợ kinh thành xa gấp năm lần đến đại điện. Đến chợ được, tất đến đại điện được. Luân lấy làm thích thú với ý nghĩ ấy.Và đã đến đại điện thật. Bọn lính cấm vệ chấu đầu dưới đít vạt đồng, đánh bài so. Còn Luân thì lén dòm vào đại điện. Uy thế Luân đối với lũ nhỏ xóm quan tăng thêm, sau lần được trông thấy mặt vua. Trước dinh quan văn hầu có cây trao to, hằng ngày lá rụng đầy gốc. Lá vàng làm mũ áo cho vua và hòang hậu. Lá xanh làm mũ áo cho các quan triều. Ở xóm quan, chỉ có Vưu Xuyên, con quan vũ hầu Vưu Trấp, là con gái. Chín tuổi Luân đã chơi trò vua quan. Luân làm vua. Xuyên làm hòang hậu. Còn đám con trai các quan triều ở xóm quan thì làm quan văn quan võ.Trò vua quan diễn ngay trên sân nhà quan văn hầu Khưu Chiêu. Sáng ấy, quan văn hầu và các quan  đã đi chầu. Có tiếng chim hót trên ngọn trao .Và có ánh nắng mai le lói . “ Hoàng thượng đến “. Một đứa trong đám con trai hô lớn. Tức thì, bọn còn lại xếp thành hai hàng ngay trước chiếc ghế còn để trống, ở trên sân. Đứa nào cũng áo mũ chỉnh tề .Những áo mũ Luân đã tự tay kết bằng lá trao rụng. Luân dìu Xuyên từ trong nhà bước ra. Đám nhỏ quì mọp. Vừa cùng Xuyên ngồi vào ghế, Luân đã đứng lên , tát một đứa trong hàng quan văn.

-Chỉ kẻ trộm mới ở trần. Còn làm quan phải áo mũ chỉnh tề.

Dinh quan vũ hầu Vưu Trấp ở sát dinh quan văn hầu Khưu Chiêu .Kế đến là dinh quan ngoại điện  Nhữ Bột. Đứa vừa bị đánh là con ông quan ấy.Thằng đó nghịch, đã làm hư hết mũ áo kết bằng lá trao. Luân tức giận truyền bãi chầu. Đám nhỏ im thít, chen nhau chạy.

-Xuyên có thích không ?

-Thích.

Lũ chim trên ngọn trao thôi hót để nghe Luân Xuyên trò chuyện.

 

DỐI  THẦY

Đến nhà ông Đa Trà bữa trước, bữa sau Luân đã viện cớ cha mình quên để lại tiền bạc, phải trở về quê .

Ông Đa Trà bảo :

-Ta nghèo, nhưng cũng đủ cho con ăn học.

Luân đáp:

-Con nào dám làm phiền lòng thầy.

Rồi khăn gói ra đi..Sự thật, quan văn hầu không quên để lại tiền bạc . Luân chẳng về quê. Mà trở lại Xương Quơn để gặp Vưu Xuyên

Đến chợ Dinh, Luân vào ngôi quán bên đường để ăn chút gì, tiện hỏi thăm đường đi tiếp.

Chủ quán là bà lão còm cõi, nói :

-Ở đây chỉ có mỗi thứ bánh bột thia .Chắc cháu là người đường xa qua đây ?

Luân đáp :

-Thưa, từ Xuyên Khê đến. Cháu chỉ cần món gì no dạ là được.

Thấy Luân bề ngoài lam lụ, nhưng ăn nói ra người có học, bà lão cứ chăm chú nhìn.

An xong, Luân vội trả tiền , rồi hỏi thăm đường về kinh.

Bà lão lộ vẻ sợ hãi :

-Cháu về Xương Quơn ?

-Thưa phải. Đến thăm ông bác đương làm quan triều ở đấy. Nhưng sao bà lại có vẻ sợ ?

Bà lão bối rối :

-Không có chi. Già này chỉ chợt nhớ đến thằng con..Tháng giêng lính dinh đến bắt đi, tháng sáu lính dinh đến bảo nó đã chết , chôn ở kinh. . Đi xây lăng vua ấy mà.

Có động lòng thương xót, nhưng nỗi lo đường xa đã làm Luân quên chuyện ấy ngay.

Đến chợ trấn Nam Biên thấy những người bán nón, Luân nhớ lại buổi theo cha rời kinh trở về quê. Lúc đến đây, quan văn hầu đã mua cho Luân chiếc nón, và nói “Dòng họ nhà ta mấy đời đội nón lá đi chân trần, tự làm ra chén cơm ăn”. Giờ gẫm lại Luân mới hiểu lời cha.

Qua cổng trấn đường, thấy đôi sư tử đá, Luân dừng lại ngắm. Hai con vật bằng đá cứ đứng há mồm ra như  dọa kẻ qua dường. Chợt có lính trấn từ trong trấn đường quát “Thằng kia muốn chi ? “ Luân lật đật rời khỏi cổng quan.

Đến Xương Quơn thì mọi nhà đã lên đèn. Luân bồi hồi dừng lại ở cửa tây kinh thành, ngắm nhìn các thứ. Rồi cứ theo tiếng trống điểm canh nơi hoàng cung mà đi tới. Thời thái bình, kinh thành bỏ ngõ. Qua cổng hoàng cung chẳng thấy lính cấm vệ. Luân liền rẽ sang lối về xóm quan quen thuộc.

Trấp đi đuổi chó, rồi dẫn Luân vào nhà, hỏi :

-Cháu ở đâu lạc đến đây giữa đêm hôm ?

Luân đáp chẳng chút sợ hãi :

-Thưa, cháu ở Xuyên Lâm đến thăm quan vũ hầu đây.

Đến lúc ấy, Trấp mới nhận ra con trai quan văn hầu Khưu Chiêu.

-Là thằng Luân đấy ư ? Ông văn hầu có còn được như  xưa không ?

-Ngày cha cháu theo trâu, đêm ngồi chép sách.

Trấp chợt thở dài :

-Ông ấy phúc hơn ta là có chỗ để điền viên. Mà thôi. Ta phải cho cháu ăn cái gì ,kẻo đói.

Lòng Luân bồn chồn, lo lắng. Quan vũ hầu đích thân đi lo cái ăn, tức Vưu Xuyên chẳng có ở nhà .Mãi khi cùng Trấp ngồi vào mâm ăn, Luân mới đánh bạo hỏi :

-Thưa, Vưu Xuyên đâu chẳng thấy ?

Trấp vui ra mặt :

-Ta quên bảo cho cháu biết, con Xuyên giờ cũng lớn lắm. Ông văn hầu đưa cháu về quê sáu năm rồi phải không ?

-Thưa phải.

Trấp tiếp :

-Ngày bọn ta chia tay nhau, lũ cháu còn là con nít. Ông văn hầu vẫn dạy cháu ăn học đấy chứ ?

-Thưa, cha cháu dạy chăn trâu. Còn anh Khưu Châu dạy cày cuốc.

-Ta biết. Về quê tất phải biết cày cuốc. Ta muốn hỏi có phải cháu vẫn theo học kinh sử với cha cháu  không .

Trấp chợt im, vẻ buồn bã . Hồi lâu mới nói :

-Hồi này, đầu óc ta chẳng minh mẫn .Nên phải gửi lũ con Xuyên con Cơ sang nhờ bà thái hậu dạy.

Cơ là ai, Luân đâu cần biết .Chỉ lo không gặp được  Xuyên.

Quan vũ hầu  đi đóng cổng vườn và cài kín các cửa là để kề cho Luân nghe việc triều chính .

 

CHUYỆN  KỂ  THỨ  BA

Ông ấy đi rồi ta như chiếc bóng. Đêm nằm cứ xốn xang trong lòng. Trở dậy, lại thấy mình như ở giữa hoang tàn. Chẳng lẽ lại đi nói với lũ con Xuyên con Cơ. Ông ấy rời triều sáu năm, đủ để cho cháu thành nhơn. Còn ta, bao nhiêu lần định quyên sinh, rồi chẳng dám. Ta cũng vừa mới tìm được con Cơ đấy. Nghĩ đến đứa cháu côi cút, lại giật mình chuyện binh lửa. Cha Cơ là em ruột ta. Cũng một trong muôn ngàn kẻ cỡi ngựa cầm cung ngã xuống trong binh lửa năm xưa. Cơ thất lạc từ lúc lên ba. Còn ông gìa ấy từ Mi Sơn chạy xuống. Cơ mất hết mẹ cha. Còn ông ấy mất cả vợ con với đôi mắt. Có phải trời run rủi không, đứa cháu bé bỏng của ta đã thành con gái nuôi ông lão mù lòa. Mười mấy năm sau ta gặp được Cơ giữa đất kinh thành. Hôm ấy là rằm tháng bảy. Hoàng thượng lệnh mở kho triều, phát gạo cho kẻ không nhà, để mọi người được vui chơi trong buổi xây xong Lăng Vạn Tuế. Cơ đã về với ta.  Còn ông ấy lại ra đi . Kẻ ở nhờ nhà của triều đình đành để người không nhà ra đi. Cơ lăn xuống đường mà khóc. Được gặp một người, nhưng lại mất một người . Chắc cha cháu chưa nói với cháu điều này. Là bọn ta cứ thấy tiếc. Biết sẽ như vầy, nửa sợi lông cũng không để mất trong buổi ấy. Sao? Cháu khóc ư ? Chuyện ấy nên để cho người già. Còn cháu là con trai, phải thử cho hết chí lớn như bọn ta, đến cuối, rủi chẳng được chi ,mới khóc. Mà thôi. Ta vừa nói chuyện Lăng Vạn Tuế phải không ? Chuyện ấy còn lạ hơn chuyện con Cơ. Hoàng thượng quyết định xây lăng. Ông Bồ Đài cũng quyết ngăn. Song, chỗ nhìn xa thấy rộng của quốc sư chỉ hữu ích đối với minh quân. Tất nhiên, tới giờ vẫn chưa ai dám nói hoàng thượng là không minh quân. Ngay thái hậu Tương Linh cũng chỉ  mới nói được như vầy “Không khéo vương nhi lại làm ta mau chết”. Mẹ chết ?. Với hoàng thượng là chuyện quá bình thường. Đời người dưới mắt hoàng thượng là những mảnh phù sinh được tạm kết lại. Hoàng thượng quyết xây lăng, vì biết chắc mình sẽ chết. Sáu năm lo việc xây lăng, hoàng thượng có gầy đi, dẫu quan nội điện Hiêu Dật đã đích thân lo ăn uống thuốc thang cho vua. Ông quan nòi vương tộc ấy đã đáp tàu sang tận nước Di Vang tìm mua củ thoi. Mấy người ở tàu buôn Di Vang nói, biết cách chưng cất, thứ củ ấy là thuốc trường sinh. Một thời kinh thành  náo động vì chuyện sâm thoi. Hoàng thượng là kẻ dũng cảm. Biết chắc mình sẽ chết, song, vẫn tìm cách để ngăn nó. Ta ở triều nên biết rõ. Một anh thợ Vân Muôi chuyên về điện đền đã vẽ họa đồ, rồi đứng coi ngó suốt sáu năm. Lúc xây xong Lăng Vạn Tuế, người ấy nói “Thần đi làm nghề này ở nhiều nước. Nhưng chưa nơi đâu có lăng vua to bực ấy”. Hoàng thượng nghe thích qúa, thưởng riêng người ấy nghìn cân vàng. Nhưng chừng đó chẳng ăn thua so với số vàng đổ tượng vua. Nếu nay đem cân thử, thì pho tượng vua bằng vàng phải nặng gấp đôi ba trăm lần vua. Bữa thiết triều ấy có mặt ta. Quan điện đền Chuyên Chiết đã trình tấu  khoản vàng đã chi dụng . Đúc tượng vua . Rồi làm áo quan cho vua. Sơn phết chỗ ngự của vua ở Hí Khúc Đình, ở Hiên Lãm Thúy với ngư hồ,và ở vườn thượng uyển.. Cháu biết không, ở vườn thượng uyển có một trăm lẻ tám cung phòng, tức có một trăm lẻ tám giường vua phết vàng. Gọp hết các khoản trên với khỏan  thưởng riêng người thợ Vân Muôi là ba vạn tám ngàn cân. Bữa đó quan điện đền còn trình tấu lên vua số thần dân đã trưng dụng là bảy vạn rưỡi. Đấy là số dân đi xây lăng còn sống trở về. Còn số đã chết ở kinh thành là hai vạn mốt. Còn điều này nữa, phải nói cho cháu biết . Hoàng thượng là kẻ sâu sắc, biết trước điều gì sẽ xảy ra lúc xây lăng. Tây Biên, Bắc Biên là các trấn trung du, cách kinh thành cả ngàn dặm. Chưa kể Nga Sơn, Mi Sơn và Hoắc Sơn là miền thượng du. Thần dân các nơi ấy về đất kinh thành là miệt biển, gặp cảnh thủy thổ bất phục, tất phải có người chết trong lúc xây lăng. Nên vua đã cho làm sẵn chỗ chôn những người sẽ bỏ mình vì đại nghiệp. Mai ta sẽ dẫn cháu đi xem Lăng Vạn Tuế. Rồi qua thăm chỗ nằm của hai vạn mốt người Chang Lang đã không thể trở lại quê kiểng. Thiêng Liêng Chi Mộ . Nói nôm na là nấm mộ thiêng. Tên cái gò mả chung đấy cháu. Non sông gấm vóc có  chỗ nào là không thiêng liêng đâu cháu

 

 

KẾ  SÁCH

Kể đến chuyện xây lăng, Trấp kêu mệt. Rồi nhoài xuống giừơng, thiếp đi. Luân nghe có tiếng chó hự c bên ngoài. Đêm tháng tư vằng vặc ánh sao. Đám chó của quan vũ hầu đã xem Luân như người nhà, nên để yên cho Luân  vượt qua những khóm thảo đường và bích bá trên sân. Thuở ấy, có đêm nào là Luân không sang đây để hít thở mùi thơm các loài hoa quí. Đám chó bỗng chạy vượt lên.  Có giọng con gái đang gọi cổng . Luân rất đỗi bồi hồi, từ trong vườn hỏi vọng ra :

-Có phải Xuyên đấy không ?

Lập tức, một  trong hai người đang đứng bên ngoài kêu lên :

-Trời ơi, là Luân đấy ư ?

Cổng mở. Họ ôm nhau như thuở anh làm vua chị làm hoàng hậu. Cô cháu gái quan vũ hầu vừa ngỡ ngàng vừa sợ. Song, tất cả những chuyện ấy chỉ xảy ra phút chốc. Họ đã lập tức nhớ ra mình không còn bé bỏng như xưa. Có ba người lặng lẽ vượt qua những khóm thảo đường và bích bá trên sân.

Trấp trở dậy lúc nghe có nhiều tiếng chân người trong phòng. Ông đi khêu bấc đèn. Thấy Xuyên cứ đứng im, ông nói:

-Con trai quan văn hầu ở cạnh nhà ta, con quên rồi sao ?

Rồi quay sang Luân:

-Còn đây la Vưu Cơ đấy cháu. Cứ nhìn nó ta lại giật mình chuyện binh lửa.

Qua ánh đèn dầu lim khá tỏ, Luân thấy trước mặt mình là một Vưu Xuyên hoàn toàn khác xưa. Gặp lại Xuyên để chi, Luân không biết. Và giờ đây, niềm háo hức đã bị đảo lộn  trước vẻ thanh xuân cường tráng của người con gái ấy.

Theo lệnh quan vũ hầu, Xuyên đưa Luân sang căn phòng mé tây, rồi liền lui về phòng mình. Bất chợt, Luân nhìn thấy có ánh đèn loé lên bên dinh quan văn hầu ngày trước. Phải. Luân đã gắn bó với nơi ấy suốt mười năm. Nó là của thời thơ dại.Và giờ đây là của kẻ khác. Đêm ấy, Luân thức trắng để lắng nghe những gì đang diễn ra trong lòng mình. Cuối cùng thì cũng nghĩ ra cách để rủ Xuyên đi.

Mới mờ sáng, Luân sang phòng Trấp, gạt nước mắt,  nói:

-Xin quan vũ hầu  tha tội.

Trấp lộ vẻ lo lắng.

-Có chuyện gì ư ?

Lặng đi hồi lâu, Luân mới tiếp :

-Thưa, cả đêm cháu không ngủ được.Vì trên đường đi, cháu đã để rơi mất thư gửi quan vũ hầu.

Trấp buồn xo. Song, sau đó đã đổi làm vui. Vì Luân nói, ngoài thư ra, quan văn hầu còn dặn dò cặn kẽ. Là ông rất muốn  quan vũ hầu gởi Xuyên đến học với thầy Đa Trà. Luân kể rõ thân thế thầy ấy cho Trấp nghe. Rồi xin cáo biệt.

-Trở lại đây chỉ vì việc đó. Giờ, quan vũ hầu cho cháu lui về quê, để còn lo thu xếp việc đi học.

Lúc tiễn Luân đến cổng vườn , quan vũ hầu còn nhắc lại ý mình :

-Chậm lắm là mươi hôm, ta sẽ cho người đưa Xuyên đến đó.

 

ÔNG ĐA  TRÀ

Xuyên Khê là đất núi. Mi Sơn trùng điệp ở phía nam lúc đến đây bỗng nứt ra năm ngọn, như năm ngón tay trời. Trước mặt có Ngũ Sơn sừng sững. Sau lưng là dòng Thạch Thủy trong vắt bốn mùa. Nên người đời gọi đây là đất địa linh. Ông Đa Trà sinh ra ở đấy. Mười lăm tuổi, Đa còn theo cha cày ruộng. Thuở đó, dân Chang Lang thờ thần Cốc.  Làm ăn được mất đều phải cúng thần. Với đất Xuyên Lâm thì thần Cốc có thờ ơ. Khói hương nguyện cầu chẳng bao giờ dứt, nhưng miếng ăn chẳng lúc nào no. Đa bỏ nhà lên Mi Sơn, lúc nghe ở đấy có ông thầy núi vừa truyền văn võ, vừa dạy cho cách làm ra cơm áo. Học trò không nhiều. Nhưng ở tận các nước Bắc Mân ,Tân Tang…cũng có người tìm đến học. Vua Hiêu Lịch từng có chỉ chiếu triệu về kinh giúp vua, song ông ta nhất định không để cho người của triều đình gặp mặt. Ông Đa Trà đến đó thì thấy đã có Khưu Chiêu. Đa, Khưu thuở đó là đôi bạn thâm giao. Khưu ra thi, đỗ đạt, làm quan. Đa không muốn xa thầy, nên ở lại Mi Sơn. Thầy mất giữa lúc Chang Lang xảy ra binh lửa. Đa đau buồn bỏ nước ra đi. Qua Đông Mân ,thấy nhà vua đang cho xây lò đúc súng đạn và đích thân luyện tập binh lính, Đa nghĩ trước sau gì ông vua này cũng đi đánh chiếm nước khác. Đến Tây Miêu, muốn vào yết kiến vua, lại gặp lúc đại thiết triều. Sau mới rõ là vua đang họp triều thần bàn việc có nên để các bộ tộc người Miêu trên triền núi Nga Sơn được tiếp tục mặc quần một ống không. Sang Di Vang, Đa biết được nhiều điều lạ. Vua chỉ bận đồ cụt, để đầu trần, không bận áo bào, đội mũ rồng như ở Chang Lang, Tây Miêu. Còn thuyền bè đến hàng vạn chiếc. Lượt đi, chở mũi tên đồng. Lượt về, chở gỗ quí, đá quí. Hỏi mới biết Tân Tang với Bắc Mân đang đánh nhau. Di Vang đem mũi tên đồng đổi gỗ quí của Tân Tang, và đổi đá quí của Bắc Mân. Trong ba mươi năm, Đa đi được mười tám nước. Muốn đem sở học của mình ra giúp đời, để khuây nỗi thương tiếc thầy. Song, chẳng nơi nào thu hút được ông. Quay về Xuyên Khê thì song thân đã mất. Ngôi nhà cũ, mái đổ tường xiêu. Bấy giờ vua Hiêu Du đang xây lăng Vạn Tuế, trai tráng trong làng bị trưng về kinh cả. Dân làng vẫn đói khổ như xưa. Ân hận về việc đã bỏ quê hương ra đi, Đa lên núi Ngũ Sơn chặt cây làm lại nhà ở. Ngày đi hái thuốc chữa bệnh cho dân làng. Đêm ngồi chép sách. Nghe Khưu Chiêu bỏ quan về chăn trâu, ông tìm đến thăm. Biết Đa đã viết xong Dụng Binh Thư và Thịnh QuốcThư , Khưu khuyên bạn nên mở trường dạy học trò để truyền hai cuốn sách lớn ấy. Nghe lời Khưu, Đa về Xuyên Khê treo bảng chiêu sinh. Nhưng bấy giờ sưu thuế nặng nề, ai cũng lo kiếm cái ăn, lòng dạ đâu nghĩ chuyện học hành. Năm năm treo bảng chiêu sinh, chẳng ai đến học. Mãi khi Khưu Luân thành thạo việc cày cuốc, mới đến làm học trò đầu tiên của ông.

 

THẦY  TRÒ

Đúng mười hôm sau, Luân gặp lại Xuyên ở nhà ông Đa Trà.

Cô cháu gái của quan vũ hầu nói :

-Chắc trời xui khiến, nên hai người lại được tiếp tục sống bên nhau.

Xuyên thẹn. Còn Luân thì ngờ Cơ đã rõ tình ý giữa mình và Xuyên.

Lúc từ biệt hai người để trở về kinh, Cơ còn nói :

-Xuyên Khê là đất địa linh. Nếu không gầy được nghiệp lớn, anh chị cũng thõa tình mong ước.

Cách dạy học trò của Đa có khác. Ngoài việc luyện cung kiếm, đọc  Dụng Binh Thư Thịnh Quốc Thư, Luân, Xuyên  còn được nghe thầy kể những điều tai nghe mắt thấy lúc chu du thiên hạ, những điều chưa nói ở hai sách trên.

“ Nước Xua Lôi ở chỗ cuối đất cùng trời. Người đầu tiên ta gặp là một ông lão quắc thước . Liền bẻ cây vạch xuống đường hình nhà cửa lâu đài để tỏ mình muốn đến chốn kinh đô. Ông lão gật đầu, chỉ tay về hướng bắc. Nhưng chỉ đi được một đoạn thì thấy ông ấy chạy theo ta. Rồi trong lúc chưa kịp nói gì, ta đã bị ông nắm lấy tay lôi đi. Về đến nhà mới biết ông lão câm. Thông huyệt là cách chữa các bệnh thiên thời . Song, ta cũng rán thử. Năm ngày thông huyệt, ông lão bỗng nói được. Ngày, ta theo ông lão lùa dê lên núi Lao. Đêm về cùng nằm chung chiếu. Hai tháng đi chăn dê với ông già núi Lao, ta nói được tiếng Xua Lôi. Mới hay ông tên Thác, từng là quan thiếu phủ của triều vua Xua Lôi.  “ Ta già đi chỉ vì ông vua ngọng ấy”  Ông Thác bảo. Không vợ không con, ông Thác theo phò vua Xua Lôi đúng mười bảy năm, nếm đủ mùi cay đắng. Dân Xua Lôi sống nhờ nuôi dê. Thịt dê với sữa dê được mang sang  Tân Tang, Bắc Mân đổi lấy gạo và vải mặc. Nhà vua nhàn du ở núi Lốt, biết có con thu lô ăn lá sỗng đẻ mỗi lứa ba mươi trứng, nở ra ba mươi con . “Cũng loài ăn lá nhưng đẻ nhiều hơn dê “  Vua nghĩ . Rồi truyền cho dân Xua Lôi lên núi Lốt , bứng hết cây sỗng về trồng trên các cánh đồng. “ Cho dê ăn lá ấy, ắt ta lợi to”  Vua bảo. Ông Thác can gián : “Theo chỗ thần biết , tự thuở khai thiên lập địa đến giờ, chưa có giống dê nào đẻ trứng “ Vua nạt : “Đồ quan ngu. Do ăn lá khác, nên đẻ con. Giờ ăn lá sỗng thì đẻ trứng, rõ chưa”  Rồi hạ ông Thác xuống bốn trật . Đã phò vua phải đến cùng, ông Thác nghĩ . Nên cắn răng ngồi lại ghế thái phủ. Dê chưa kịp đẻ trứng, đám sỗng chết sạch. Đền đài ở kinh đô Xua Lôi xây tự các triều trước, nên đều cũ. Nhà vua biết trên núi Lốt có thứ đá đỏ như  màu ráng trời. “ Nếu dùng màu đá đó sơn phết lại thành quách, thì dưới gầm trời này, chẳng có đâu địch nổi kinh đô ta”  Vua bảo. Rồi xuống lệnh trưng d ân. Kinh đô Xua Lôi nằm ở cương giới phía tây.  Còn núi Lốt nằm tận phía đông. Trưng dân để xây lò nấu đá và chuyển đá về kinh. Ông Thác lại can vua : “Theo chỗ thần biết, thuở khai thiên lập địa có bà tiên đội đá vá trời, chứ chưa nghe ai nấu đá để sơn phết đền đài”  Vua tức giận, lột hết chức tước ông Thác, cho xuống làm quân triều. Dân nấu đá chết dần chết mòn. Lò nấu xây bằng đất, nóng quá, đổ cả. Đá núi Lốt  nấu trong bao nhiêu ngày, vẫn còn nguyên. Đến lúc ấy ông Thác thấy nghẹn ở cổ. Rồi câm luôn.”

Kể đến đây, thầy Đa Trà gọi Luân hỏi :

– Con sẽ làm gì nếu được ngôi vua ?

Luân đáp :

-Thưa, một là làm sao trăm họ no đủ, không phải cạp đất mà ăn. Hai là khiến cho muôn dân được học hành, để không người nào còn u tối như vua Xua Lôi

-Được. Còn Xuyên thì sao ?

Con gái quan vũ hầu bối rối :

-Thưa, xưa nay phận đàn bà con gái thường chỉ mới làm tới hoàng hậu.

-Nhưng ta giả sử con được làm vua kia ?

-Nếu vậy, con chỉ biết khóc khi thấy muôn dân đói khổ.

Đa cười

-Luân chỉ mới được tai mắt của vua. Còn Xuyên, thì chắc chỉ mới được tấm lòng của vua.

 

ÁO  TRÂU

Vu Xia là anh thợ mộc khéo tay, lại võ vẽ chuyện coi bói xem tướng, nên cả dinh

Xương Tây đều biết tiếng.

Cơ trưởng Tương Hất gọi Xia đến làm nhà, Xia tỏ ra kẻ am hiểu, nói:

-Thầy cơ trưởng tuổi trâu, cất nhà năm ngựa, hạp. Chắc được thăng quan.

Hất nghĩ Xia xỏ mình, nên ngầm giận. Cả hai đều quê Xuyên Lâm, hiểu rõ về tính nết của nhau. Xia quá tuổi ở nhà, tiếp tục làm thợ mộc. Hất tới tuổi, phải vào lính. Nhờ biết luồn cúi quan trên , nên được thăng cơ trưởng vệ binh ở dinh đường Xương Tây. Liền bán ruộng trâu ở quê đưa vợ con lên dinh ở. Sự thật, Xia chẳng dám xỏ Hất. Mà chỉ muốn lấy lòng ông quan lính cùng quê. Nên lúc cắt gỗ làm khung cửa chính, Xia bàn với Hất :

-Ý thầy cơ trưởng cửa cao hai thước rưỡi. Song, kích thước ấy nhằm cung dê.Trâu chui nách dê là hèn. Chỉ nhích bề cao lên ba thước là trúng cung rồng.Trâu qua miệng rồng mới sang.

Hất nghe lọt tai, ưng qúa. Chẳng những hết giận Xia, mà còn hứa nếu ông ta được thăng thủ dinh Xương Tây sẽ cho Xia chức  hương trưởng Xuyên Lâm.

Lúc đánh giặc Vân Muôi, không lúc nào là Hất không nghĩ đến  lời Xia. Chết thành ma, sống thành quan to. Đấy là chí hướng của Hất trong những ngày xông pha tên đạn. Lắm lúc chí hướng ấy còn bay tới chỗ miệng rồng, tức ngôi vua. Giặc yên, thấy mình còn sống, Hất càng tin lời Xia. Mà công lao của Hất cũng lớn thật. Với cũng may, lúc nhỏ Hất được cha mẹ cho ăn học chút ít, trong số những kẻ ở Xương Tây có công đánh giặc chẳng ai có chử  nghĩa hơn Hất. Những điều đó giúp Hất được thăng thủ dinh Xương Tây. Tức từ chỗ đứng đầu một đội lính, Hất nhảy lên cầm đầu dân một dinh. Với ai, được thế là phước to. Song, với Hất thì chưa. Biết đâu có ngày lại với tới miệng rồng. Hất luôn nghĩ đến điều này. Bữa yến tiệc linh đình của tân quan thủ dinh Xương Tây là để khoản đãi cho kẻ đã khơi dậy giấc mộng công hầu to lớn ấy. Phải. Vu Xia đã tới dinh đường Xương Tây nhắc lại lời hứa năm xưa. Bấy giờ hương trưởng Xuyên Lâm là tay có thế lực lớn trên trấn. Song, Hất cứ hứa bừa:

-Cách được lão ấy, ta cho ông chức hương trưởng ngay.

Dù đã ngót nghét năm mươi, song, nhìn sự hiển đạt của Hất, Xia thèm muốn vô cùng. Lòng quyết tâm đã giúp Xia thành đạt. Đúng hơn là nhờ có cô vợ lính trong làng. Thuở ấy, những phụ nữ có chồng chết trong cuộc chiến chống Vân Muôi rất được chiếu cố. Lộc điền hưởng ngang hương trưởng của làng. Ở Xuyên Lâm, chỉ độc một phụ nữ có chồng chết trận. Xia biết đương kiêm hương trưởng là tay háo sắc, nên đêm nào cũng đi rình rập. Cuối cùng đã bắt được kẻ xâm phạm tiết hạnh người góa phụ. Tội nhân là người đứng đầu của làng, nên thủ dinh Xương Tây  phải về ngồi xử án.

Đương kiêm hương trưởng cãi

-Bảo có tội, thì Vu Xia là đứa đồng lõa. Bỡi Xia đã gặp kẻ này ở nhà người góa phụ

Cuối cùng thì Xia thắng. Vì lúc ấy Xia ăn bận đường hoàng. Còn hương trưởng Xuyên Lâm chỉ bận độc chiếc quần cụt. Để bảo vệ uy danh của chồng, người góa phụ đãphải đứng ra làm chứng cho điều này..Hương trưởng Xuyên Lâm lập tức bị đày lên Nga Sơn  làm lao dịch.

-Nay ông cứ làm tạm hương trưởng của làng. Khi ta được thăng thủ trấn sẽ cho ông lên thủ dinh. Hất bảo Xia .

Lúc Khưu Chiêu bỏ quan về chăn trâu, Xia giữ chức hương trưởng gần một năm. Kẻ đợi ghế thủ dinh. Người ôm mộng làm vua. Để làm được điều mong ước, mỗi người đã tìm ra được một hướng đi. Hất bấu lấy thủ trấn Nam Biên. Còn Xia bám chặt đám dân làng.

Vi Gia nghèo. Vợ đang làm lụng khoẻ mạnh, bỗng ngã bệnh, chết. Một mình Gia phải nuôi bảy con với bà mẹ mù lòa. Đến quan triều có lúc còn phải chăn trâu nữa là. Gia thường lấy chuyện Khưu Chiêu để an ủi mình. Hôm Luân lên đường đi học, Gia khóc, nói :

-Lệnh đệ là ông tiên xuống giúp làng Xuyên Lâm ta.

Với Gia, quả thế thật. Có nước đập Mân Sơn , đám con Gia mới đủ cơm ăn. Nỗi khổ còn lại là thuế. Bao nhiêu lần đến đòi nợ thuế Gia đều khất. Xia giận lắm, muốn lớn tiếng, nhưng nghĩ có quan văn hầu  Khưu Chiêu ở sát cạnh là chỗ họ hàng với mẹ Gia, nên lại thôi. Nhưng đến lần ấy, hương trưởng Xuyên Lâm quyết không tha.Vua đang xây Cung Nguyệt Khuyết nên lệnh cả nước phải thu và truy thu cho đủ các sắc thuế. Theo sổ bộ ,Vi Gia nợ hai ngàn quan. Qui ra lúa là một nghìn hai trăm hộc.

Lần này mẹ Gia cũng khóc nói :

-Lạy thầy hương trưởng, thương tình mẹ con tôi, hoãn lại sang năm.

Xia nạt :

-Lên triều mà xin.

Rồi xông vào nhà. Bồ lẫm chẳng có hột lúa nhổ râu. Xia thẳng ra chuồng trâu. Đám con Giasợ, rúc cả vào gầm giường. Còn Gia thì đứng tựa cột, chết điếng, lúc hương trưởng Xuyên Lâm lùa đôi trâu ra khỏi chuồng .

Nghe khua cổng, mẹ Gia biết có điều chẳng lành. Bà bươn ra khỏi nhà, như thể hai mắt đã sáng ra.

-Nhờ quan lớn giúp cho một lời.

Bà lão đã sang cầu cứu Chiêu.

Quan văn hầu lật đật ra ngõ, đón Xia.

-Giá ông hương trưởng châm chước cho mẹ con bà ấy một năm nữa, thì quí hóa quá.

-Việc quan lớn là ở triều. Còn ở đây là của hương trưởng Xuyên Lâm.

Xia đáp, rồi dắt trâu đi.

Tới tối bà lão mới tỉnh lại.

-Có áo bận là nhờ con trâu. Giờ chỉ còn nước chết.

Mẹ Gia lại vật vã khóc than

 

LÚA   THẦN

Thuở ấy, thần Cốc được dân Chang Lang thờ phụng rất nghiêm. Làng nào cũng có đền thờ thần Cốc. Đền làng cũng là nơi làm việc của các chức sắc trong làng. Hương trưởng hưởng lộc điền , lo việc chăn dân, kiêm luôn việc coi đền.. Ở các trấn các  dinh thì có đền trấn đền dinh. Các đền trấn đền dinh đều dựng cạnh các trấn đường dinh đường, với ngụ ý để thần trông coi các quan trấn quan dinh trong việc chăn dân. Ở các đền trấn đền dinh có quan coi đền riêng. Quan coi đền trấn đền dinh hưởng bỗng lộc ngang với thủ trấn thủ dinh. Bấy giờ, ngoài thuế thân, thuế đất, dân Chang Lang còn phải nộp thêm khoản lúa thần cho các đền dinh đền trấn sở tại . Về sau, vua cho xây đền Cốc ở kinh, dân Chang Lang còn phải nộp thêm khỏan lúa thần ở quốc đền. Còn lúc đó thì có lệnh chuyển hết lúa thần về triều để xây Cung Nguyệt Khuyết. Nơi chốn nào cũng xôn xao như có biến . Bỡi bấy lâu lúa thần là để dùng cho việc thờ phụng thần .Vó ngựa rầm rập khắp các đường làng. Ra khỏi nhà là gặp đám quan quân trên dinh trên trấn , vai đeo gươm dài, mặt hằm hằm sát khí. Người sợ tù tội, lo gánh thóc về kinh. Kẻ bị gông cùm vì chẳng chịu làm trái với tập tục bấy lâu của nước.

Luân lo lắng xin thầy về thăm nhà. Xuyên tiễn đến bến sông Thạch Thủy

-Thời buổi khó, anh phải cẩn trọng trong lúc đi đường .

Luân nắm tay Xuyên.

-Nếu chẳng có chi, hai hôm ta trở lại.

Quan văn hầu đau đã mấy hôm.Vợ chồng Khưu Châu về kinh nộp lúa thần. Lũ con Châu, đứa theo trâu, đứa ra ruộng.

-Ta đau, rồi sẽ khỏi. Chỉ tội nghiệp mẹ con thằng Vi Gia.

Quan văn hầu bảo.

Luân sang nhà họ Vi, thấy mỗi bà lão đang sờ soạn.

-Cháu qua thăm bà đây .

Luân lên tiếng .

Bà lão òa khóc

-Cặp trâu, trừ nợ thuế thân. Lúa  mới gặt đủ trả nợ thuế đất. Không nộp nổi lúa thần, thằng Gia phải đi lao dịch Nga Sơn.

Đám con Gia đứa đi rừng, đứa đi ruộng, chẳng có đứa nào ở nhà. Luân nghe như có ai cào cấu ruột gan .

-Bà  phải sang bên cháu thôi. Sang bên đó để có người lo cho miếng ăn

Bà lão chùi nước mắt :

-Nhà đứa chết, đứa đi đày. Nỡ lòng nào bỏ một mình lũ cháu.

Tối đó, quan văn hầu và Luân đem cơm sang cho bà cháu bà lão. Nhưng bọn họ vừa ăn cháo giun xong. Lũ con Gia đã rúc vào giường, ngủ. Bà lão đang ngồi ở sân nhai trầu

Khưu Chiêu nói:

-Ta còn chăn trâu nổi, bà cứ sang bên đó, chớ ngại.

Mẹ Gia thôi nhai trầu, im lặng .

Chiêu lại nói :

-Ta định ngày mai đến bọn họ hàng bên nội thằng Gia, để nhờ chúng nuôi bớt hai đứa nhỏ nhất. Còn bà thì sang đằng ta.

Bà lão vẫn im. Đêm tháng sáu oi nồng. Đám quan quân trên dinh trên trấn đã rút đi hết từ sáng. Xóm làng im ắng như chẳng còn người sống. Quan văn hầu khoanh tay lên gối, nhìn bà lão. Luân định nói, nhưng có tiếng chó hực ở đầu ngõ

-Thằng Gia đó phải không ?

Bà lão hỏi như chẳng có gì xảy ra ở ngôi nhà ấy.

Bỗng quan văn hầu nói :

-Chính nó đã hại nhà bà đấy.

Mẹ Gia ngồi bật dậy :

-Ai ? Quan lớn bảo ai hại nhà già này?

Chiêu kéo tay bà lão :

-Hãy vào nhà ta nói cho nghe .

 

CHUYỆN  KỂ  THỨ  TƯ

-Là hoàng thượng đấy. Đừng sợ. Ta vào triều, Du mới lên tám. Cũng theo học ông Bồ Đài như vua cha thuở nhỏ. Du trốn học, bị ông Bồ Đài đánh.  Cũng chiếc roi mua ông từng đánh vua cha. Nhưng Du không khóc . Chỉ im lặng, lấy kim nhọn cài ở gối gối đầu của thầy. Đứa trẻ lên tám đã biết báo thù. Ông Bồ Đài chẳng dám hé nửa lời với vua Hiêu Lịch. Nhưng đâu đã hết. Hôm ấy là đang luyện võ. Du bỗng nhảy lùi lại, chống gươm, thét “Mai  mốt làm vua, ta sẽ giết ngươi”. Thuở ấy, tiên vương bận việc trận mạc. Quốc sư Bồ Đài vừa lo việc triều chính, vừa dạy dỗ Du. Ta từ Mi Sơn về kinh điều thêm lương thảo. Bấy giờ là giữa ngo. Cửa nam kinh thành rất vắng vẻ. Con ngựa ta bỗng chồm lên. Đó là lúc Du từ trong cổng thành xông ra thét “Thằng giặc già kia, xuống ngựa hàng đi” Ta buồn, đem chuyện kể với quốc sư. Ông Bồ Đài mới nói ra chuyện Du dọa giết mình. Đấy là ông quan lòng cao như núi, các người biết không? “ Đến lúc thành nhơn, hoàng tử sẽ khác đi”  Ông Bồ Đài thành tâm nghĩ. Và bảo ta phải kín miệng về chuyện của Du. Giặc Vân Muôi gây bao đổ nát. Bấy giờ quân ta đang cầm chân chúng ở Mi Sơn. Nhưng ở kinh đô Xương Quơn cũng xảy lắm cảnh đau lòng. Du chận người bán nón, đốt nón, rồi đốt chợ kinh thành để xem người ta chạy. Cũng may, lửa mới bén, dân kẻ chợ đã dập tắt được. Ông Bồ Đài phải đích thân đến tạ lỗi thần dân., và lệnh phải giữ kín chuyện. Tiên đế vẫn nằm ngoài trận mạc. Hoàng hậu Tương Linh chỉ buồn việc Du ham chơi bỏ học. Có ai dám nói tới tai bà về những chuyện như vậy đâu. Mà Du thông minh thật. Học một biết mười. Mới mười hai tuổi đã làu kiếm côn, thông kinh sách. Nhưng các người đâu biết, đấy là chỗ oan nghiệt của trời. Đã cho trí huệ, lại còn cho cả cường bạo. Những năm binh lửa sau cùng, Du đã thành nhơn. Nhưng đến lúc đó thì cường bạo cách khác. Bấy giờ trai tráng trong nước, bất luận là con quan hay con vua đều phải đầu quân theo lệnh của vua. Triều thần đã họp lại để xin vua Hiêu Lịch. Tiên đế chẳng có anh em ruột thịt, mà con chỉ có mỗi Du, để hoàng tử ra trận, rủi bề chi, ai nối ngôi. Một mình một ngựa ,Du dong ruổi giữa chốn kinh thành. Mùa đông, binh lính trên Mi Sơn bận áo bông .Nhưng ở kinh thành, Du rủ rê lũ con gái vị thành niên vào vườn thượng uyển hái lộc đầu xuân. Bọn chúng là con các quan triều, nhiều người còn đang ngoài trận mạc. Bao nhiêu bà mẹ đến khóc với ông Bồ Đài. Nhưng cuối cùng cũng chỉ gạt nước mắt nhìn con gái mình chẳng còn trinh tiết. Những năm binh lửa sau cùng, Du đã gặp được một trăm lẻ tám người trinh nữ tuổi dưới mười lăm. Có phải do vậy mà sau này Du cho xây một trăm lẻ tám cung phòng ở vườn thượng uyển không, ta cũng không biết. Kiếp con gái như cành cây kiểng, chưa đến thời thì chưa trỗ bông. Nếu không thì vua Hiêu Lịch với hoàng hậu Tương Linh đã có một trăm lẻ tám đứa cháu để nối dòng vua. Nhưng đấy là chuyện khác. Lúc tiên đế thắng giặc quay về đã có đứa cháu thật. Cho đến lúc rời triều, ta vẫn chưa hiểu hết gia cảnh họ Đam.  Chuyết ít đến với ai. Mà cũng chẳng muốn ai đến với mình. Biết căn nhà bảy gian với vườn cây um tùm của Chuyết ở ngoại thành Xương Quơn, nhưng ta chưa bao giờ đặt chân đến. Có lẽ chỉ mỗi Du đã đến. Chuyết có bao nhiêu con cái, có lẽ cũng chỉ mỗi Du biết. Chỉ nghe phong thanh Đam Mỵ là con gái thứ của Chuyết. Lúc giặc Vân Muôi tiến chiếm kinh thành Xương Quơn, ta làm thống binh, còn Trấp đốc binh. Trấp truy đuổi toán quân giặc qua vườn thượng uyển vào lúc nửa đêm, đã giúp cho đôi trai gái thoát chết. Cả hai đều đang trần truồng dươi một gốc trao. Quan đốc binh biết người con trai là hoàng tử Hiêu Du. Còn cô gái về sau mới rõ là con gái quan giữ sổ bộ Đam Chuyết.Tiên đế là kẻ nhân từ, bọn ta đâu nỡ để người biết chuyện ấy. Nào ngờ, Du đòi cưới Mỵ, dọa sẽ quyên sinh nếu không được như ý. Hoàng hậu Tương Linh quá thương con. Tiên đế thì sợ mang tiếng với triều thần. Đám cưới con vua diễn ra lúc binh lửa chưa yên. Ta nói lúc thắng giặc quay về, tiên đế có đứa cháu là vậy. Những năm kiến thiết đất nước, ta cũng không nhớ Mỵ đã đẻ bao nhiêu lần. Bấy giờ, cha của đám trẻ ấy đã ngoài ba mươi. Một hôm Du xách gươm vào tận chỗ vua nằm. “ Nay hoàng thượng tuổi đã cao, nên hãy nhường ngôi cho Du này”. Lập tức vua Hiêu Lịch cho hội triều thần. “Hãy nói ta nghe, ai trong các khanh là người đáng được nối ngôi vua”  Bá quan khiếp sợ trước quyết định kỳ dị của vua. Quốc sư Bồ Đài im lặng. Bọn ta cũng im lặng. Ngay tối đó quân hầu bắt được thích khách.  Kẻ mưu phản đã vào tận giường vua. Tiên đế lại cho đại thiết triều. “ Con mưu giết cha, tội chết. Bề tôi mưu giết vua, thêm một tội chết nữa”  Lính đao phủ tiến vào đại điện. Nhưng quốc sư Bồ Đài cùng bọn ta quì mọp trước bệ rồng. Hoàng hậu Tương Linh đã đến kịp, cùng quì, khóc với bọn ta.  Đâu phải tiếc Du. Nhưng không nỡ để người bọn ta yêu kính  tự cắt bỏ máu thịt mình. Tiên đế đau buồn, chỉ ngã bệnh mấy hôm thì chết. Quả nó là đứa uống máu người kia mà.

 

TÌNH  ĐẦU

Luân trở lại Xuyên  Khê như kẻ mất hồn.

Ông Đa Trà hỏi:

-Thằng Châu không nộp nổi lúa thần phải không ?

Luân đáp :

-Không nộp nổi lúa thần tất phải đi Nga Sơn, thưa thầy

Xuyên rất lo

-Nhà xảy chuyện chi phải không ?

Luân đáp :

-Đấy là kẻ uống máu người .

Việc đi học là theo ý muốn của quan văn hầu. Đi học để ra làm quan. Nhưng làm quan tức làm bề tôi cho kẻ uống máu người. Rời quê Xuyên Lâm trở lại nhà thầy, Luân thấy rối như  tơ

Biết Luân có điều chi không ổn trong lòng, ông Đa Trà bảo :

-Con hãy nghỉ ngơi ít hôm cho khuây khỏa.

Xuyên theo lệnh thầy cùng Luân lên Ngũ Sơn vãn cảnh. Bấy giờ là sang thu. Sao, thược bắt đầu trỗ hoa. Nhưng lá ngưu lá vị lại úa. Cách đó không lâu có trận mưa nhỏ. Nên suối Phù Đan róc rách nước. Thấy lũ chim tước sà xuống suối nước, Xuyên cầm tay Luân reo. Nhưng liền lặng thinh vì thẹn. Luân cũng lặng thinh , vì đang nghĩ đến chuyện trở về Xuyên Lâm để xin quan văn hầu cho phép cưới Xuyên.

-Ta phải về quê thôi . Luân buột thốt.

Xuyên vô cùng kinh ngạc :

-Anh không muốn học với thầy Đa Trà nữa sao ?.

Phải. Ở Xuyên Lâm có đôi vợ chồng trẻ. Vợ coi sóc đàn con. Chồng theo trâu ra ruộng. Vui, nghe lũ con hát khúc Mân Sơn. Buồn, giắt nhau lên suối Từ Lâm tắm. Có bao giờ thấy đám rừng cây Thiên Sơn than khóc đâu. Thu, lá úa vàng, rụng. Sang xuân, khí mát, đâm chồi. Đông, thì gió bão. Gió ít, chỉ rạp mình. Nhiều, thì chịu gãy đổ. Cứ nương theo nắng mưa mà sống. Chưa bao giờ thấy con nai con trên Mân Sơn húc mẹ.  Chỉ  thấy con chim hộc tập đem chuyền cho con. Cũng chưa nghe nói con hổ giành ổ của con mang. Có, con hổ có lấy con mang làm thức ăn. Con ốc sên có lấy nước khe làm thức uống. Nhưng đấy là chuyện trên rừng . Con người há phải cầm thú mà cấu xé nhau. Luân nghĩ đến đây, ngửa cổ, thầm hát khúc Mân Sơn, thấy lòng nhẹ nhỏm.

 

GẶP  GỠ

Không gặp Điên Giác, Luân đã bỏ học về quê .Giác người kinh thành Xương Quơn. Mẹ làm nghề buôn chiếu. Đi xây lăng Vạn Tuế về, Giác tròn mười sáu, nhưng mẹ không còn. Bà chết vì không chịu đựng nổi sự dày vò . Con trai người buôn chiếu đau buồn, bỏ kinh thành ra đi. Nghe tiếng ông Đa Trà, Giác tìm đến xin làm đứa ở để được gần việc kinh luân..

Ông Đa Trà bảo :

-Ta không giàu nên chẳng cần tôi tớ. Hãy cứ ở đây làm học trò như Luân, Xuyên,.

Nghe Giác thổ lộ chuyện của mẹ, Luân cảm động, chẳng còn muốn rời bạn. .

Thuở ấy là thời vua Hiêu Lịch. Đang buổi thái bình. Có người con gái họ Lại làm nghề buôn chiếu, nhan sắc và đức hạnh nức tiếng kinh thành.  Bồn Nhương và Điên Khánh là những khách bán chiếu, cùng đem lòng yêu  cô Lại. Đan được bao nhiêu chiếu, hai người đều mang đến cho cô gái buôn chiếu ấy. Chiếu của Khánh đơn, nhã, thường có hình hoa sao hoa thược. Chiếu của Nhương là chiếu kép, công phu, thường có hình chim tước uống nước dưới khe. Những hôm mang chiếu đến kinh , lỡ ngày, họ phải ngủ lại nhà cô Lại. Công việc làm ăn cứ thế trôi đi. Cô Lại cũng đem lòng yêu Nhương , Khánh lúc nào chẳng hay. Sau đó không lâu, cả Nhương lẫn Khánh đều ngõ lời cưới Lại . Lấy ai bây giờ ? Lại vô cùng bối rối. Mãi lâu sau mới nghĩ được cách.. Là trong mươi hôm, chiếu của ai bán hết trước , người đó sẽ là chồng của Lại. Mười hôm đã trôi qua. Chiếu của  Khánh bán sạch. Mà chiếu của Nhương còn rất nhiều. Từ bữa đó , dân kinh thành chẳng còn gặp mặt Nhương. Lại tuy chưa biết quê kiểng, gốc gác của Khánh, song, đã nói ra , thì phải lấy Khánh làm chồng. Chưa kịp làm lễ cưới, thì Khánh phải theo lệnh vua đi chống giặc Vân Muôi. Mười chín năm Khánh biền biệt ngoài trận mạc. Lại vẫn thủ tiết, chờ chồng. Vào đêm tháng ba năm ấy, lửa rực sáng ở hỏa đài. Kinh thành có biến. Đoán biết là giặc Vân Muôi đã tiến chiếm kinh đô, Lại lo sợ cài kín cửa. Vó ngựa rầm rập ngoài đường. Vào lúc nửa đêm thì có tiếng người gọi :

-Mở cửa đi em.

Một võ quan mũ áo nhuốm đầy khói bụi, hiện  ra nơi khung cửa.

-Bồn Nhương !

Sau phút sững sờ, Lại buột kêu. Phải, con chim tước đã tìm về cánh rừng xưa.

-Mười chín năm, ta chỉ đợi phút này.

Nhương nói, quì, ôm lấy chân Lại. Trái tim xẻ làm đôi thuở ấy vẫn  còn nguyên như cũ. Chẳng kịp cài cửa, Nhương  bế thốc  Lại vào giừơng . Buổi chiến chinh, một phút như vầy bằng cả trăm năm của buổi yên bình. Nhương vội khoác lại chiến bào. Lại thẹn thùng bận lại xiêm y. Lửa nồng vẫn còn  đượm.

-Vì em, ta phải lìa bỏ nơi cắt rốn chôn nhau. Phải mất mười chín năm, Bồn Nhương này mới đội được chiếc mũ đốc binh, để làm cuộc tiến đánh kinh  thành đêm nay.

-Trời, vậy ra Bồn Nhương là người của giặc ?

-Phải. Một võ quan lừng lẫy của đất nước Vân Muôi. Đêm nay trở về đây là để đón em.

Nhương vén gươm, chưa kịp  bồng Lại vừa ngất lịm trên giừơng, thì có tiếng vó ngựa dừng ở bên ngoài.

Anh đèn dầu lim soi rõ gương mặt của hai người khách bán chiếu năm nào. Cuộc so gươm chẳng cân sức. Lúc Lại tĩnh lại, Điên Khánh đã ra người thiên cổ. Trống thắng trận  suốt đêm vang lên ở kinh thành. Lại cũng khóc suốt đêm.

Đứa con trai lớn lên với năm tháng. Còn niềm tủi nhục thì âm thầm dằn xé trong lòng người mẹ. Thuở ấy, sứ Vân Muôi đi lại Chang Lang như mắc cửi. Nhưng cô Lại chẳng được tin tức gì về Bồn Nhương. “ Con của mẹ họ Điên,. nhưng lại là hòn máu  của họ Bồn, kẻ thù của hết thảy dân Chang Lang  ta”  Trước phút lâm chung, mẹ Giác đã nói với Giác lời ấy .

 

SỐNG  CHẾT  CÓ  NHAU

Đường tiến thân đã được quan văn hầu  vạch sẵn. Ăn học với ông Đa Trà . Ra thi . Và làm quan.. Luân cứ thế mà theo. Nhưng với Giác thì khác. Ước nguyện lớn nhất của con trai người buôn chiếu là làm sao đến được nước Vân Muôi. Lúc mẹ Giác còn sống, bà đã bỏ vàng bạc ra đút lót đám quan quân ở triều , để được gặp sứ Vân Muôi .Viên sứ này về, viên sứ khác lại sang. Song, bọn họ đều nói ở triều đình Vân Muôi

chẳng có vị võ quan nào tên Bồn Nhương. Giác nghĩ,. chỉ đỗ đạt , làm quan, may ra  mới có cơ hội sang đất  nước người. Con trai người buôn chiếu dấu kỹ niềm ước mơ ấy trong lòng.

Luân rủ Giác đi suối Phù Đan là để thổ lộ chuyện riêng tư của mính. Nhưng Giác đã nói trước :

-Ai đến với thầy trước , tất phải làm anh. Với lẽ nữa, anh Khưu Luân cũng sắp nên duyên cầm sắc.

-Làm sao mà biết ?

Luân lấy làm ngạc nhiên, hỏi.

Giác trỏ đám chim tước dưới khe :

-Mới thấy ở cành sao đã nhảy sang cành thược. Đấy là con chưa có đôi. Còn co đôi rồi, thì rủ nhau uống nước, cùng lên bờ đá. Cứ nhìn đám chim trời , rồi suy ra mà biết.  Có điều, anh Khưu Luân  nên gầy nghiệp lớn trước , thành gia thất sau.

Một lời đủ để gọi tri âm. Luân liền nhận Giác làm em.

Hai người cùng đến chân núi Ngũ Sơn để ăn thề.

Bỗng, Luân giật mình , bảo :

-Một là dối thầy để trở lại Xương Quơn. Hai là gạt quan vũ hấu để rủ Xuyên đi. Vì chuyện tình duyên, Luân này đã làm điều tà vạy. Giờ làm sao còn dám đứng trước thần linh.

-Anh Khưu Luân đã thốt được ra lời, tất thần minh soi xét.

Giác nói đến đây chợt  im, lộ vẻ u sầu.

Luân lấy làm lạ , hỏi :

-Đang vui, cớ sao lại thế ?

Giác đáp:

-Từ thuở lọt lòng mẹ, Giác này đã là kẻ không cha. Con người sao lại giống cây cỏ hoang mọc ven đường ?

Luân nắm tay bạn.

-Có thể quên chuyện đau buồn ấy được chăng ?

Giác lau nước mắt  .

-Con người là giống vật luôn nhớ về cội  nguồn. Giác này chắc phải chịu mãi cảnh biệt ly.

-Nhưng cứ thử  cho hết chí lớn của mình , rồi sau đó hẳn hay.

-Thử bằng cách nào ?

Luân ngước nhìn lên đỉnh Ngũ Sơn :

-Ta sẽ giúp em lên ngôi cửu ngũ, đánh chiếmVân Muôi, mở rộng cõi bờ. Chừng ấy hết thảy là dân nước Chang Lang, t ất cha con sẽ gặp lại.

Giác có vẻ sợ hãi :

-Anh  bảo làm chuyện của vua ?

Luân đáp :

-Ta đùa đấy thôi. Nhưng nếu em là vua, thì dễ dàng nhờ vua Vân Muôi tìm giúp cha mình

 

U  SƠN

Sách  Thịnh  Quốc Thư  có đoạn :

“Thốc Ngột làm vua  nườc Bắc Mân , mở miệng thì nói :Ta yêu thần dân như yêu cha mẹ, nên thần dân cũng phải yêu  ta như cha mẹ yêu con. Ở ngôi được mười hai năm. Lấy niên hiệu là Thông Dông. Vua Thốc Ngột giống vua cha Thốc Đốc như  in.. Cũng cao to, mày rậm, mắt nâu. Năm Thông Dông thứ nhất, một trăm lẻ bảy mỹ nữ được tuyển vào cung. Bấy giờ vua tròn mười tám tuổi. Qua năm sau, vương phi Phù Nư  đau bệnh, mất. Vua buồn , lệnh xa giá đi chơi đất Sam.

Thái bảo Sư Ngung dập đầu , nói:

-Biên thùy phía bắc cách kinh đô những năm nghìn dặm. Từ đây đến đó phải mất mười hôm. Bấy lâu Đông Mân vẫn dòm ngó nước ta. Biết đâu, thừa lúc hoàng thượng đi xa, chúng đem quân đánh úp kinh  thành, một mình thần xoay xở làm sao nổi.

Vua đáp :

-Đức ta cao dày, thánh thần còn nể nữa là Đông Mân.

Rồi truyền cho xa giá lên đường. Thái bảo Sư Ngung liền họp triều thần, cắt đặt ai ở kinh, ai đem quân trấn các ải.    

Đất Sam có núi Vu Sơn cao, lạnh. Là núi của ngàn hoa đua mọc. Bấy giờ là mùa thu. Hoa sưa hoa mộc đang nở rộ. Vua ngất ngây với cảnh trí hóa công lần đầu mới biết.

-Giá có các vương phi ta, thì vui biết bao.  Vua than.

Thiếu phó Mông Pha lập tức phái một trăm lẻ bảy quân hầu  phi ngựa về triều. Chỉ hôm sau, một trăm lẻ bảy cung phi có mặt ở Vu Sơn. Vua lễ tạ đất trời, đổi tên đất Sam thành đất Ngự. Tức đất chỉ dành riêng vua. Rồi  đặt lệ “mùa thu vui cùng hoa sưa hoa mộc “.

Năm Thông Dông thứ tư. Trời hạn. Đồng khô, lúa chết. Dân Bắc Mân ăn củ lợ thay cơm.

Thái bảo Sư Ngung tâu :

-Đã đến lúc phải mở kho thóc triều để cứu dân. Xin hoàng thựơng sớm xuống chiếu.

Vua bảo :

-Ta yêu thần dân như yêu cha mẹ. Ngặt nỗi, kho thóc triều là để nuôi các quan. Nước không kẻ cầm cân nảy mực, nước loạn, khanh há chẳng biết sao ?

Thiếu phó Mông Pha một mình vào tận giừơng vua, lạy nói :

-Bấy lâu thần rất chú ý việc làm của quan thái bảo. Nay lại muốn bưng chén cơm vua đưa cho đám dân đen, quả là kẻ khi quân. Một ngừơi như thế giữ tước thái bảo,

đứng ở sau vua, thì nguy hiểm khôn lường.

Vua nghe xong chỉ thở dài, im lặng.

Năm Thông Dông thứ năm. Tháng mười, mùa đông.

Vua bảo :

-Tiên vương xây lầu vọng hải ở đất Lũng từ lâu, nay ta muốn đến cho biết.

Thái bảo Sư  Ngung dập đầu, thưa :

-Biên thùy phía đông cách kinh đô những năm nghìn dặm. Lại đang đông, mưa bão. Thần sợ hoàng thượng đến  đó long thể sẽ bất an.

Vua nói :

-Ta muốn đến đó giữa lúc sóng cuộn nghìn trùng. Đi vào lúc khác, thú nỗi gì.

Thiếu phó Mông Pha tiếp lời vua :

-Làm bề tôi không hiểu bụng vua, ai cho là tôi trung ?

Sinh thời, vua cha Thốc Đốc làm hai việc cả nước đều biết. Một là đi chơi đất Lưa, gặp vợ Sưng Chu giặt gấm ở sông Uẩn Giang, đem lòng đắm, liền mang về triều  cho làm đệ nhất vương phi. Hai là xây lầu vọng hải ở biển đất Lũng , uy nghi lộng lẫy giữa muôn trùng sóng biếc.

Nhà vua Thốc Ngột mới đặt chân lên đài Ngư Nguyệt  đã thấy lòng sinh hứng.. Liền đặt ngay khúc nhạc cá. Làm xong, vua thầm hát thử, nghe người phơi phới tựa thần tiên.

-Hãy gọi lũ ca tì đến cho ta .Vua phán.

Thiếu phó Mông Pha tức tốc trở về triều. Năm trăm ca nữ với năm trăm nhạc công là chẵn một nghìn. Khúc nhạc vua làm là để gọi cá đến vui cùng vua. Song , hát đủ bảy ngày đêm vẫn chẳng thấy cá đến. Vua buồn. Sai đổ xuống biển  mười ngàn vò rượu  nấu bằng hoa sưa hoa mộc. Ca nữ hát thêm bảy ngày đêm nữa. Cá vẫn chẳng đến. Vua uống rượu say, nằm dài trên long xa cho quân hầu xe về kinh.

Năm Thông Dông thứ sáu. Sứ Tân Tang sang bàn việc giao thương. Họ muốn bán gỗ quí cho Bắc Mân, để mua lại đá quí. Vua Thốc Ngột ưng chịu. Sứ quay về để đưa gỗ sang. Thiếu phó Mông Pha giả mật thư của vua Tân Tang, để rơi nơi đại điện. Rồi nhặt trao cho vua. Mật thư báo cho thái bảo Sư Ngung biết ngày giờ Tân Tang đánh chiếm kinh đô Bắc Mân.

-Thôi,  giết nó đi.

Vua nói với đám lính đao phủ. Rồi lệnh quan thống binh đem bảy nghìn quân sang phạt nước láng giềng Tân Tang. Hai bên đánh nhau suốt mấy năm. Chiến trận lúc diễn ra ở Tân Tang, lúc ở Bắc Mân. Cuối cùng phải giảng hòa, vì bên nào cũng mua tên đồng của nước Di Vang.

Ở đất Thạc, bà thái bảo nghe tin chồng bị vua giết, uất quá, ngất xỉu, rồi chết luôn. Con trai là Sư Phác tập họp được một trăm ngừơi trai trẻ trong dòng họ Sư, ngày đêm luyện côn kiếm, chờ ngày báo thù cho quan thái bảo.

Năm Thông Dông thứ mười. Vua Thốc Ngột đòi đi chơi đất Lưa. Thiếu phó Mông Pha nhớ việc cũ lấy làm kinh hãi. Thuở ấy, vợ Sưng Chu  về làm vương phi chưa được một ngày đã cắn  lưỡi tự vẫn , còn vua Thốc Ngột thì điên loạn  cho đến lúc chết..

-Đất Lưa có núi U Sơn đầy ma thú . Các triều trước  chưa có vua nào dám đến  chơi ở đó. Trừ tiên vương ta, đã đến đó, lúc về thì gặp nạn. Mong hoàng thượng xét xem, đổi ý.

Thiếu phó Mông Pha ra sức can ngăn. Song, vua đã quyết, vì muốn nhìn cho tận mặt đám con gái giặt gấm ở sông Uẩn Giang. Ở đất Lưa, đàn ông trồng vi xô, nuôi thúc lúc. Con thúc lúc ăn lá vi xô, nhả ra sợi. Đàn bà con gái xe chỉ, dệt gấm. Nhà nào cũng yên ấm, chỉ trừ Sưng Chu. U  Sơn cao, rậm. Bốn mùa khô buốt. Rừng cây rợp bóng, âm u. Ngày đêm gío không ngừng trút lá. Chẳng có giống vật nào sống ở đó, nên người đời cho nơi đó là giang sơn của loài ma thú. Ở nước Bắc Mân chỉ mỗi Sưng Chu dám lên U Sơn. Vua Thốc Đốc điên loạn suốt mười năm. Sưng Chu cũng mất mười năm dẫm nát U Sơn để tìm cây tần sống trăm tuổi . Rễ cây tần  trăm tuổi là thuốc dứt đừơng sinh đẻ. Tìm được rễ tần, Chu cũng kiệt sức. Thốc Ngột vừa lên ngôi thay vua cha Thốc Đốc, thì Chu mất. Trước phút lâm chung, Chu kêu con trai là Sưng Đan, căn dặn :

-Thốc Đốc chỉ sinh mỗi Thốc Ngột. Giết Ngột thì kẻ bình thường cũng làm được, huống hồ sức con đánh ngã trăm người. Phải làm cho dòng họ Thốc tuyệt diệt. Đó là ý nguyện lớn  nhất của đời ta.

Như thế phải cho một trăm lẻ bảy bà phi của vua Thốc Ngột uống rễ tần. Cho đến lúc vua ấy đi chơi đất Lưa, Đan vẫn chưa làm được điều cha trăn trối. Lúc ấy là mùa giặt gấm ở sông Uẩn Giang. Vợ Sưng Đan là Kha Ly cũng đang giặt gấm ở Uẩn Giang. Vua gặp Ly, đem lòng mê ngay . Bấy giờ vua tròn hăm tám tuổi, sức lực còn đầy. Vừa về đến triều  là vua truyền  lệnh tuyển Ly vào cung.

-Ngày trước, vua cha giết mẹ ta. Giờ đến lượt vua con nó giết em.

Ly khóc, nói, toan tự vẫn.

Đan cố nuốt hận,  khuyên can vợ :

-Sau  khi em đã cho đám phi của Ngột uống rễ tần, ta sẽ đến đó giết Ngột, đem em về lại đất Lưa.  Phải sống. Đừng để  Sưng Mô, con ta,  phải mồ côi mẹ.

Như thế, Kha Ly là kẻ đầu  tiên phải uống rễ tần,  trước khi đi làm vợ vua.

Năm Thông Dông thứ mười hai. Mùa thu. Đã đến lệ “vui cùng hoa sưa hoa mộc “ .Đệ nhất vương phi Kha Ly vẫn chưa làm được việc  cho các bà phi của Ngột uống rễ tần.

Vua nói

-Ta đi đất Ngự năm hôm là về.  Ái khanh ở nhà rán giữ gìn thân ngọc.

Vua bịn rịn , chẳng muốn rời Ly

Đã đến lúc có thể báo thù cho cha. Sư Phác đem trăm người trai trẻ mai phục ở núi Vu Sơn.

Sưng Đan cũng nóng lòng đi giết Ngột để đem Ly về, cũng một mình một gươm , phục sẵn ở Vu Sơn.

Bọn Phác chém chết thiếu phó Mông Pha, đánh tan quân triều, bắt được Thốc Ngột, định đem về đất Thạc để tế quan thái bảo.

“Nước không vua, tất nước loạn”. Sưng Đan chợt nghĩ , và đổi ý. Không giết vua, , mà đi cứu vua.

Bọn Phác thua Đan, chạy  về đất Thạc. Đan đưa vua trở lại kinh đô. Thốc Ngột đền ơn cứu tử, phong Đan  làm thiếu phó, thay cho Mông  Pha. Đan không nhận, nói thiệt  mình là chồng Kha Ly, chỉ mong sum họp cùng Ly.

-Được, ta sẽ chìu theo ý ngươi.

Vua vờ ưng thuận, mở tiệc rượu ở Vương tửu phòng, đãi  Đan . Tiệc chỉ có hai người. Tự tay vua bỏ độc dược vào rượu , để giết Đan. Rồi cho gọi Ly đến  dể biết chồng cũ của mình đã chết.

-Thốc Ngột, mày cường bạo đến thế là cùng. Ly cắn răng , thét. Rồi rút dao tự vẫn. Máu chảy lênh láng tửu phòng. Trong mùi máu cay nồng có lẫn mùi rễ tần hăng chát .Ngột đóng cửa, khóc người con gái mình mê đắm. Rồi cởi hết áo quần,  vật ngừơi lên máu. Ba hôm sau Ngột  mới tỉnh dậy, sờ thấy người đầy lông lá . Muốn gọi quân hầu, nhưng cổ nghẹn cứng, chỉ ú ớ. Các quan  chờ mãi chẳng thấy vua . Vương phi Cư Lã phải lệnh đập cửa tửu phòng. Ngột xông ra, thét, tựa con thú bị thương. Các quan triều phải chạy bằng ngựa chiến, song chẳng ai đuổi kịp vua.  Hai hôm sau, dân dệt gấm ở đất Lưa báo về triều là họ trông thấy một kẻ mình đầy lông lá chạy biến mất vào núi U Sơn. .

 

BIỂN  HỌC

Ông Đa Trà nói :

-Người Bắc Mân chẳng sợ chết xuống cõi âm. Mà chỉ sợ thành ma thú. Lúc ta đến nước này, thái tử Thốc Lốc  mới lên ngôi. Bá quan còn bàng hoàng trước việc vua cha Thốc Ngột mất tích ở U  Sơn. Sống mà chẳng phải sống là vậy.

Xuyên thưa :

-Xin thầy thêm lời vào chỗ này, bọn con mới hiểu.

Đa đáp :

-Lời, tựa áng mây . Con cứ nhìn vào chỗ khiến mây trôi thì rõ.

Giác hỏi :

-Nước không vua, tất nước lọan. Nhưng làm như  Sưng Đan có nên không ?

Đa đáp :

-Nên, mà không nên.

Giác lại hỏi :

-Cứu một người bị trăm người vây đánh là nên. Nhưng để ông vua bạo ngược sống là không nên . Thưa, có phải vậy không ?

Ông Đa Trà bảo chưa phải.

Xuyên nói :

-Đem lòng thành ra đối đãi với người đời là nên, nhưng  không phải lúc, là không nên, có phải vậy không ?

Ông  Đa Trà bảo cũng chưa phải.

Luân nói :

-Bỏ việc nhỏ cốt để được việc lớn. Chắc Sưng Đan nghĩ thế. Nhưng ai dám bảo dứt mầm u  tối cường bạo là việc nhỏ ?

Giác chợt hỏi Luân :

-Giá Sưng Đan bỏ sang nước khác, mượn giặc về đánh vua mình, thì  mất  tất phải không ?

Luân có vẻ bối rối .

Ông Đa Trà buông tiếng thở dài :

-Ta cũng từng bỏ nước ra đi. Không theo giặc , cũng đã thấy đau xót, nữ a là

Luân  nói :

-Con nghe xưa có kẻ đội đá vá trời. Đã vá được trời , nhưng vẫn thấy chưa làm được gì, có đúng vậy không ?

Đa đáp phải. Rồi hỏi lại Luân :

-Con đã đọc hết sách ta chưa ?

-Thưa, hết, nhưng chưa hết. Con nghe nói con chim luông bay mãi vẫn cứ thấy trời cao. Không dám làm chim luông, nhưng cũng xin thưa. Con người sinh ra vốn phải yêu thương nhau, nhưng lại quay sang oán giết nhau. Do vậy thầy mới chép Thịnh Quốc Thư  với  Dụng Binh Thư , có phải vậy không ?

Đa để lộ niềm vui :

-Nghĩ được như con, có nghìn vạn  núi U Sơn cũng chẳng sợ.

 

THẦN  ĐỒNG

Luân học đã tròn năm.

Ông Đa Trà đi Xuyên Lâm thăm Khưu Chiêu. Đôi bạn cũ, giờ mái đầu đều đã bạc

– Ông Khưu có còn theo trâu nổi không ?

– Nổi. Nhưng lúc này ta bận ngồi chép sách.

Vợ chồng Châu đi sửa đập Mân Sơn. Con Châu, đứa theo trâu, đứa ra ruộng. Bấy giờ là mùa hạ. Ngày sắp tàn. Nhưng nắng vẫn còn nồng.

-Vợ chồng thằng Châu đi mấy bữa rồi ?

-Đi hôm qua. Thằng Luân học hành ra sao ông Đa ?

-Chuyện thằng Luân nói  sau. Ông Khưu biết ông vũ hầu Vưu Trấp không ?

-Bạn đồng liêu cũ, sao không biết . Có chuyện gì sao ?

Hôm Luân về quê đâu dám thổ lộ với cha về chuyện Vưu Xuyên. Giờ nghe Đa nói , Khưu mới biết Trấp đã gởi con gái đến học với Đa. Vườn nhà Khưu có mấy cây sối. Ông bỗng nhớ bát nước sối Mi Sơn lúc còn  học với ông thầy núi. Khưu  xuống bếp, nhóm lửa. Đa ra vườn  hái lá sối. Chốc lát, nước đã đun xong.

Đa uống cạn một bát nước sối, rồi nói

-Ông Khưu nhớ không, hồi ấy thầy ta hay thức dậy lúc nửa đêm, bấy giờ là chim thắc kêu.

Khưu cũng uống cạn một bát sối :

-Nghe chim thắc kêu thì bọn ta cùng thức với thầy.

-Ta nhớ thầy thì thích uống đậm, nhưng ông Khưu còn thích đậm hơn.

-Phải. Ta giống thầy chỗ đó. Nhưng sao hồi đó ông Đa không chịu ra thi?

-Chẳng nỡ bỏ thầy. Cũng như ông, chẳng nỡ bỏ bà Khưu.

Đôi bạn cùng vui với nhau được chốc lát.

Đêm, hai người đem chiếu trải ở sân. Lũ con  Châu đã ngủ. Trước mặt là núi Thiên Sơn. Trên đầu  có ánh sao vằng vặc.

Đa nói :

-Hồi chiều là nói chơi, còn giờ nói thật. Ông Khưu mà không làm quan , làm sao thằng Luân  được khỏi đi sưu dịch.

-Đấy là chỗ may của ta, mà cũng rủi cho ta.

-Còn ta thì khác. Ta may là chưa làm quan. Nhưng rủi là giờ  chẳng có con cái

-Không con. Nhưng ông có đám học trò.

-Phải. Ta có học trò. Nhưng bao nhiêu năm ông gắn bó với đất tổ quê cha, còn ta thì lại ở xứ người. Chỗ này ta có tội với tổ tiên.

Lại đến kỳ nộp lúa thần. Hương trưởng Xuyên Lâm đi rao . Lũ chó làm om cả xóm.

-Năm ngóai cũng chừng này, ta cho thằng Luân  về thăm ông.

-Phải. Năm ngoái chừng này, ở làng ta có thằng Vi Gia, cháu ta, không nộp nổi lúa thần, phải đi lao dịch  Nga Sơn. Con người quả là giống cứng cỏi. Lũ con Gia đứa lớn nhất mười bốn, đứa nhỏ nhất lên ba. Bảy anh em làm nuôi nhau, với nuôi một bà nội mù lòa.

Đa nghe chuyện, chỉ thở dài.

Hương trưởng Vu Xia làm xong việc đi rao. Xóm làng lại yên ắng như cũ.

Đa chợt hỏi :

-Ông Khưu có biết con Vưu Xuyên , con gái ông vũ hầu không ?

-Biết. Mà sao ?

-Đọc thư ông vũ hầu, mới biết là tay trung chính. Nhưng ta muốn nói về Vưu Xuyên kia .

-Vưu Xuyên thì sao ?

-Là đứa nết na.Ta biết bọn nó có tình ý nhau đã lâu.

Khưu kêu :

-Con Xuyên với thằng Luân ta ?

-Phải. Ta thấy hợp. Nhưng hồi ở triều , ông có biết  một người phụ nữ họ Lại, nhan sắc đức hạnh nổi tiếng kinh thành không ?

-Có. Làm nghề buôn chiếu. Mà sao ông  lại hỏi ta chuyện ấy ?

-Con trai người ấy tên Điên Giác, cũng đang học với ta. Nghe nói cha Giác chết  trong binh lửa, lúc chống Vân Muôi . Giác đi xây lăng Vạn Tuế về thì mẹ không  còn, nên buồn chán, tìm đến ta.

Khưu thở dài :

-Bao nhiêu người ngã xuống  ngoài trận mạc, để ngày nay Hiêu Du nó xây lăng.

Đa cũng thở dài .

-Vua vừa xây xong Cung Nguyệt Khuyết, ông Khưu có nghe không ?

-Sao không nghe. Nhưng ông Đa có tin, đến đời thằng Luân làm quan thì có minh quân  không ?

Càng về khuya, đêm có vẻ sáng hơn.

Khưu ngước nhìn trời, rồi cúi xuống, im lặng.

Đa cũng im lặng, mãi thật lâu sau mới nói :

-Ta cứ tưởng năm mười năm nữa nó mới ra thi được. Khoa này nó đỗ cao đó.

-Ông bảo thằng Luân ta ?

-Phải. Ta có gì đã truyền cho nó cả rồi.

 

CHANG  LANG  SỬ  LỊCH

Vườn cũ Tô Lư nằm dưới chân núi Ngũ Sơn, có nghìn cây trao cao nghìn trượng, tàng lá che mưa nắng, tựa mái nhà. Đằng trước có suối Phù Đan uốn lượn. Sau lưng là vách đá cheo leo. Dường ai đem đặt giữa chốn  ngàn thu hoang dã một cảnh đời u tịch mà khốc liệt. Do vậy ông ĐaTrà mới đặt tên thế võ chín mươi chín của mình là Tô Lư  u khốc. Khưu Luân mất ba tháng mới nhuần thế ấy. Điên Giác phải mất nửa năm . Vưu  Xuyên thì chỉ mới võ vẽ.

Đi Xuyên Lâm về, Đa gọi Luân bảo :

-Kể từ nay, ta giao con việc luyện võ cho Xuyên..

Luân mừng thầm, vì thế là thầy đã chấp nhận chuyện riêng tây của hai đứa. Bấy giờ là cuối hạ. Lá ngưu lá vị còn xanh. Luân đưa Xuyên đi vườn cũ Tô Lư.  Qua suối Phù Đan, dẫm phải đá dăm, chân Xuyên rướm máu. Luân toan đi hái thuốc. Nhưng con gái quan vũ hầu bảo :

-Anh đã cho em nếm thử vị thuốc đầu đời, nay còn tìm thuốc chi .

Tô Lư  u  khốc  là thế chủ đạo trong võ nghiệp của Đa. Ông thầy núi Mi Sơn truyền thế ấy cho Đa. Đi chu du thiên hạvề, Đa tu chỉnh lại. Chỗ khác thường của Tô Lư  u   khốc là công nhưng chẳng phải công, thủ mà không thủ. Bằng tay chân, đánh ngã trăm người. Bằng côn kiếm, đánh ngã nghìn người.

Mất nửa ngày, tay kiếm của Xuyên vẫn rối rắm.

Luân bảo :

-Hay chỉ mỗi em tập luyện cho tự nhiên hơn.

Rồi xuống suối Phù Đan nằm nhìn lũ chim tước tập chuyền cho con. Trong giấc ngủ  bất chợt, Luân thấy Xuyên luyện xong Tô lư  u  khốc, xin thầy về kinh thăm cha. Đang đông mưa bão. Ai nấy đều ngăn, nhưng Xuyên bảo đi được. Xuyên ném gươm xuống sông trước, rồi nhảy theo sau. Nước vẫn chảy xiết. Bỗng một con rắn to nổi lên mặt nước, nuốt lấy gươm, rồi toan nuốt cả Xuyên.

-Đừng sợ.

Luân thét. Rồi nhoài ra giữa dòng, ôm chặt lấy người Xuyên. Lúc mở mắt, Luân thấy mình đang ôm Xuyên thật. Thì ra, con gái quan vũ hầu đã bỏ tập, xuống suối ngồi cạnh Luân từ lúc nào chẳng biết.

Cơm trưa gói bằng lá trao. Lại lột vỏ trao làm chén, bẻ cành trao làm đũa. Hai người lặng lẽ ngồi ăn  trưa nơi lòng suối Phù Đan. Luân nào dám nói cho Xuyên biết mình vừa nằm mơ. Lại cầm kiếm lên,  múa thử cho Xuyên xem. Sát tướng đoạt thành là thế võ thứ  mười lăm. Rắn nuốt gươm người , điềm lành hay dữ ? Luân bàng hoàng chuyển sang thế trảm xà. Rồi hô :

-Hãy cầm kiếm lên, Xuyên.

Chang Lang Sư Lịch có đoạn :

“ Khưu Luân tính tình nóng nảy. Đã nghĩ là làm. Chỉ mươi hôm đọc qua hết sách  của thầy.

Chẳng thấy Luân ngó ngàng tới sách nữa, ông Đa Trà hỏi :

-Con đọc hết sách của ta chưa ?

Luân đáp :

-Thưa rồi .

Trong  Dụng Binh Thư  có chỗ nói về phép điều binh. Đa bắt Luân kể về phép ấy.

Luân kể ra hết, rồi thưa :

-Thầy mất bấy nhiêu năm chu du thiên hạ, tận mắt nhìn bao cuộc can qua, hiểu thấu lẽ thành bại của chiến chinh, mới viết nổi phép điều binh ấy. Song, có chỗ con chưa ưng ý. Dùng binh ít mà thắng giặc là hay. Nhưng một trăm lẻ chín phép lập trận đều dùng binh ít là chưa hay.

Đa có vẻ giận

-Vậy theo con thì phải thế nào ?

Luân đáp :

-Dụng ý của thầy là làm sao bớt hao tổn người, nên luôn dùng binh ít. Song, binh ít, tất lâu phân thắng bại. Đánh nhau càng lâu, người chết càng nhiều. Chi bằng, bắt chước sự biến hóa của đất trời, thêm vào phép điều binh đông, áp đảo giặc, sớm dứt việc can qua, có phải đỡ hao tốn sinh linh hơn không.

Luân to, khoẻ . Đêm ngủ rất ít. Thường, lúc mọi người yên giấc, Luân thức dậy ra ngoài. Vườn nhà ông Đa Trà có cây thốc dốc. Vân Muôi là nước Đa đến sau cùng. Khi rời nước này, trở về Xuyên Khê,  Đa chỉ xin mấy hột thốc dốc để làm giống. Trái thốc dốc rất ngọt . Hoa thốc  dốc  chỉ  thơm về đêm. Luân cho là mùi hoa quí làm cho con người khôn thêm. Hít thở mùi hoa thốc dốc xong, Luân ngồi nhớ lại những điều  trong sách thầy. Đêm nào cũng làm vậy. Chỗ quên cứ bớt dần.

Điên Giác có lần thưa với thầy :

-Anh Khưu Luân chắc có điều chi u uất, nên lúc ngủ thường nắm chặt hai bàn tay.

Đa nói :

-Mai kia sẽ rõ.

Luân ăn rất khỏe. Gấp đôi ba lần một trai làng cùng trang lứa. Một hôm, Luân ăn chưa no, ngồi mãi nơi mâm. Thấy vậy, Xuyên hỏi :

-Có nhớ chuyện vua Xua Lôi,  thầy kể không ?

-Nhớ. Mà sao ?

Xuyên lại hỏi :

-Có phải hôm đó thầy thử giao anh Luân làm vua không ?

-Phải. Rồi sao ?

-Nếu anh Khưu Luân làm vua , chắc trăm họ phải cạp đất mà ăn.

Luân  bồng bột, xốc nổi. Giác thì điềm tĩnh, chịu thương chịu khó, đọc  Dụng Binh Thư Thịnh Quốc Thư  đến trăm bận. Luân thích cả côn kiếm. Giác chỉ dùng tay chân trong luyện võ.

-Tay là kiếm, chân  là côn. Hai món binh khí ấy chẳng bao giờ rời ta. Giác thường nói thế

Thủ trấn Nam Biên là Tương Húc đưa lính trấn về Xuyên Khê. Có ông lão bảy mươi tuổi không chịu đưa lúa thần về nộp ở kinh. Húc liền lệnh đóng gông ông ta. Luân nghe chuyện đến can :

-Phải trọng người già như trọng cha mẹ. Nay quan trấn làm thế là làm gông cha mẹ mình đó.

Húc hỏi :

-Mày con ai, dám ăn nói xấc láo ?

Luân đáp :

-Con quan văn hầu Khưu Chiêu nói chuyện với  thủ trấn Nam Biên, được không ?

-Hóa ra là con trai lão chăn trâu ở Xuyên Khê.

Húc nhổ nước bọt , nói, rồi bỏ đi.

Luân giận , toan theo rửa nhục cho cha.

Nhưng Giác ngăn.

-Anh Khưu Luân  nóng nảy, gặp nữa thành chuyện to. Để Giác này đi. Có đánh nhau, cũng để Giác này đánh với nó.

Ông Đa Trà khen Giác là kẻ trọng nghĩa .Và chẳng cho đi.

Đến triều họ Hiêu, Chang Lang mới có lệ mở khoa thi để tuyển chức quan. Khoa thi đầu mở vào năm Hiêu Lịch thứ hai, để tuyển hai chức văn hầu và vũ hầu. Khoa này chỉ tuyển được một người vào chức vũ hầu là Khưu Chiêu. Vua Hiêu Du lại sắp mở khoa thi để tuyển các chức văn khanh, vũ khanh, và văn vũ khanh. Bấy giờ Luân tròn mười tám.

Ông Đa Trà bảo :

-Khoa này Luân đi. Điên Giác với Vưu Xuyên chờ khoa sau.

Nghe thầy bảo, Luân mừng mà lo. May ra thì được công thành danh toại. Song, đi rồi ai giúp Xuyên học hành.

Ở bến sông Thạch Thuỷ có hòn đá ma. Đá to bằng ngôi nhà, nửa vắt lên bờ, nửa choãi ra sông. Từ ngày ông Đa Trà trở về Xuyên Khê hái thuốc chữa bệnh giúp dân , con ma đá không còn khuấy phá. Nhưng trước đó thì chẳng bút mực nào tả xiết. Có một năm vào mùa mưa bão, lính trấn về Xuyên Khê bắt dân đi khai đá quí Nga Sơn .Lúc ấy Đa đang ở nước Xua Lôi. Cha Đa đã ngoài bảy mươi, nhưng phải đi sưu  dịch  thay cho Đa. Con ma đá hóa làm hương trưởng Xuyên Khê đến bảo cha Đa phải  cúng ba ngàn quan tiền, nó mới che chở cho khỏi đi Nga Sơn. Ngày hôm sau, cha Đa đi khắp làng, kể lại sự tình, vay được ba ngàn  quan  đem đặt chỗ hòn đa ma. Lo trả nợ không nổi, ông lão ngã bệnh, chỉ mấy hôm thì cũng theo bà lão  về nơi chín suối. Sau đó thì đến lượt em gái của Đa. Cô tên Nhuẫn, nhan sắc nổi tiếng ở Nam Biên, ba mươi tuổi vẫn ở vậy, để thay Đa làm lụng nuôi cha mẹ. Có một đêm, người làng Xuyên Khê chạy trối chết , vì qua bến Thạch Thuỷ thấy  con ma đá hóa làm ông quan mặc triều phục đen, thúc ngựa từ bến sông lên. Sáng hôm sau, người làng qua sông , thấy cô Nhuẫn nằm chết trần truồng trên hòn đa ma.

Từ hôm mới đến học, Luân đã biết chuyện thương tâm của nhà thầy. Song, đấy là chuyện của ma, biết làm sao. Nhân lúc sắp từ giã thầy, đi thi, Luân muốn thử cho hết sức mình. Nửa đêm hôm ấy, Luân lén mọi ngươi, xách gươm xuống bến sông Thạch Thuỷ. Đêm đầu tháng, trăng non chênh chếch. Hòn đá ma nằm lồ lộ nơi bến nước.

-Ta nay sắp về kinh ứng thí. Nếu thành danh là nhờ công dạy dỗ của thầy. Xin thần linh  chứng dám cho Luân này đền công ơn ấy.

Dứt lời, Luân rút gươm, chém sả vào hòn đá ma.

Đêm ấy, nước sông bỗng dâng đầy. Sáng ra, dân làng mới hay trận lũ khi đêm đã  cuốn mất hòn đá ma chỗ bến nước”

Chang Lang Sử Lịch  là sách sọan vào triều  đại sau triều họ Hiêu. Vì cuối  sách    có lời chú như vầy :

“ Tiên đế vừa lên ngôi liền lệnh cho ta làm công việc chép sử. Hết Vân Muôi, rồi Tây Miêu, Xua Lôi, Di Vang . Hễ nước nào có liên quan đến Chang Lang thì ta đến. Còn trong nước, không nơi nào là không có mặt ta. Từ động Tà Bư với nhiều sự tích  đến  Hoắc Sơn, Nga Sơn, Mi Sơn  còn lưu dấu tích bao cuộc chiến chinh. Ba mươi năm liền chỉ làm mỗi công việc tra hỏi, sưu tập, sưu tầm. Việc làm tuy khó nhọc, nhưng rất thú. Từ thuở lập nước Chang Lang cho đến khi triều họ Hiêu đổ, có biết bao vinh nhục, buồn vui. Buồn, đến nước mắt không chảy nổi. Mà vui đến lặng thinh để nghe cõi lòng như sóng dậy. Do đó, nên mới có sách này. Đại triều Cung Tôn năm thứ ba mươi tám. Sử quan Chư Đăng nay ghi lời chú”

Cung Tôn là triều đại nào mà quan viết sử chỉ chép từ  thuở lập nước đến  triều họ  Hiêu ? Chẳng ai biết. Vì đây là cuốn sử duy nhất  của nước Chang Lang còn lưu lại.

 

KẺ  Ở  NGƯỜI  ĐI

Đến lúc sắp chia tay Xuyên, Luân mới thấy đau lòng. Đỗ đạt, Luân  sẽ làm quan, ở kinh. Còn nếu chẳng đỗ đạt, tất phải trở lại Xuyên Lâm cày cuốc. Đằng nào cũng phải xa Xuyên.

Thấy Luân đem sách ra đọc, ông Đa Trà nói :

-Mai con đã về kinh . Phải nghỉ ngơi cho thảnh thơi trí não.

Luân  im lặng , tiếp tục  đọc  Thịnh Quốc Thư Dụng Binh Thư. Nhưng chẳng có chỗ nào nói về việc chia ly. Gục lên áng thư, Luân mơ tưởng đến ngày mình thành danh, cùng Xuyên nên duyên chồng vợ. Xưa nay, kẻ mặc yếm mấy ai gầy được nghiệp lớn. Cuối cùng cũng chỉ làm thê thiếp. Luân nghĩ đến đó thì gọi Xuyên, bảo :

-Khi nghe ta đỗ đạt, em phải tức tốc trở lại Xương Quơn.

Xuyên nói :

-Tất nhiên là em phải xin thầy về kinh, để mừng anh bảng hổ có tên.

-Không. Xin về luôn kia.

Xuyên lấy làm lạ, hỏi :

-Bỏ học, về luôn  ư ?

-Phải. Đàn bà con gái có làm vua, cũng là vợ người ta.

-Song, cha em muốn trước khi làm việc nâng khăn sửa túi, kinh luân không được kém thua thiên hạ.

-Chính ta dối quan vũ hầu về chuyện bức thư , để em được đến đây, biết chưa ?

Xuyên vừa ngạc nhiên, vừa tỏ ra vui sướng khi biết chuyện ấy.

Luân đang trong cơn xúc động, nói tiếp :

-Phải bỏ học, về lại kinh thành  mới được gần nhau. Nhược bằng, chẳng đỗ đạt, ta sẽ xin cha rước em về Xuyên Lâm.

-Sớm muộn cũng có ngày ấy, xin anh chớ vội. Trời xui hai ta gặp nhau từ thuở còn thơ, thì cũng giúp hai ta sống bên nhau đến bạc đầu.

Xuyên cố phân giải, Luân mới bỏ đi ý nghĩ xốc nổi.

Từ hôm trở về Xuyên Khê, ông Đa Trà đã lo phá rừng, vỡ đất, quyết nối lại nghiệp cày cuốc của ông cha. Ông đi hái thuốc, chữa bệnh giúp dân làng. Dân làng thì đánh trâu đến  cày đất giúp ông. Khi có đám học trò, Đa vừa truyền kinh lược cho chúng, vừa cùng lũ chúng lo việc cấy cày. Điên Giác bán gia sản ở  kinh, tìm đến đây, học cả kinh luân lẫn việc nông tang, quyết từ bỏ nghiệp bán buôn để không còn phải nhớ đến nỗi buồn đau của mẹ. Con gái quan vũ hầu nghĩ trước sau cũng làm dâu đất Xuyên Lâm, nên ra sức học trồng khoai, gieo lúa.

Vừa nghe vua mở khoa thi, Xuyên ra chợ mua bao nhiêu vải vóc. Đêm, chong đèn

ngồi thêu thùa, may vá.

Đã đến lúc chẳng cần giữ gìn ý tứ, Xuyên gọi Luân vào khuê phòng của mình.

-An học đã có cơm thầy. Tiền cha gửi đến , em dành may sắm cho anh.

Giày kết bằng vải gai Di Vang. Ao may bằng gấm đoạn Bắc Mân. Kích thước, tính bằng vòng tay ôm của mình, nên Luân mặc rất vừa.

Ngay hôm đó, Đa gọi cả ba đứa học trò, bảo :

-Ngày mai Luân đã đi khỏi đây. Ta muốn thời khắc còn lại này, lũ con cùng vào Ngũ Sơn tìm giúp ta một  ít  lá thi  lau.

Nghe thầy bảo, Luân giật mình. Lần đầu, lúc còn học cày cuốc ở Xuyên Lâm, Luân có nghe cha kể về lá thi lau. Lúc mới đến đây, lại nghe ông Đa Trà kể nữa. Là chim thắc ở núi Mi Sơn ăn lá thi lau. Cũng chỉ nghe nói, chứ chưa ai trông thấy loài chim ấy. Luân vẫn cùng thầy vào Ngũ Sơn hái thuốc. Nhưng chưa bao giờ nghe thầy nói đến lá thi lau.

Qua suối Phù Đan, Giác sơ  ý vấp đá, trặc chân, phải quay về.

-Con là đứa bất cẩn, xin thầy tha tội. Giác đến trước  thầy thưa nói, lòng vô cùng ân hận.

Đa nghiêm mặt, bảo :

-Con đãsớm trải nỗi đau nhân thế. Lại biết lấy điều trọng nghĩa làm đầu. Một lần lỡ việc, đã đến nỗi nào. Nhưng biết đâu, sự rủi của con lại hợp với ý ta.

Giác rất đỗi hoang mang, vì chẳng hiểu thầy nói thế là sao.

Đi hết ngọn núi thứ nhất thì đúng ngọ. Luân, Xuyên dừng lại nghỉ chân. Cơm trưa cũng gói bằng lá trao. Hai người ngồi ăn với nhau ở giữa rừng.

-Có phải thầy muốn thử lòng bọn ta ?

Xuyên lo lắng hỏi.

Luân cũng chẳng kém âu lo, nói :

-Đi tìm lá, nhưng chưa hề biết lá.

Đêm, Đa gọi cả ba đứa học trò đến  trước mặt mình :

-Giác rủi ro, không đi Ngũ Sơn được. Nhưng ta rất yên lòng, vì đã có Luân , Xuyên.

Con gái quan vũ hầu lật đật đứng lên  thưa :

-Chưa đi hết năm ngọn Ngũ Sơn thì trời tối. Bọn con đành phải quay về.

Đa hỏi :

-Nhưng có hái được lá thi lau không ?

Xuyên  im, lòng vô cùng lo sợ.

Luân bỗng đứng lên thưa :

-Con từng nghe thầy kể, chim thắc ở Mi Sơn ăn lá thi lau. Chưa hái được, nhưng bọn con đã nhìn thấy lá.

-Thấy thế nào, nói ta nghe ?

Luân đáp :

-Con người lắm khi giống loài chim thắc. Hiểu nỗi khổ nạn  của chim, tức thấy được  lá thi lau.

Đa  chẳng còn dấu được lời :

-Mai kia ắt con làm nên nghiệp lớn. Nhưng con phải nhớ kỹ điều này. Con người sở dĩ  được gọi là giống chủ muôn loài, vì biết lấy nhân nghĩa làm đầu.

Luân nhìn thầy, rồi nhìn Xuyên , Giác

-Thà chống lại lệnh vua, rồi chết. Chứ Luân này chẳng đời nào để cho vua bắt mình phải bỏ điều nhân nghĩa.

Sáng hôm sau Luân chia tay mọi người ở bến sông Thạch Thuỷ.

 

KHOA  TRƯỜNG

Hiêu Du vừa lên ngôi thì liền cho những người trong hoàng tộc đến trấn nhậm ở các trấn. Ở triều, đặt thêm chức tể hầu, coi như phó vương. Nghe giao Đam Chuyết giữ chức quan này, ông Bồ Đài đến gặp riêng vua :

-Việc nước là việc chung.Vừa qua đã đưa người trong hoàng tộc giữ các trấn. Nay lại giao chức tể hầu cho cha đẻ của hoàng hậu, không khéo muôn dân nghĩ hoàng thượng có óc hẹp hòi.

Vua nói :

-Nước cường thịnh là nhờ kẻ cầm cân nảy mực . Nay ta phân định lại các quan trấn, chấn chỉnh quan triều, chỉ vì lẽ đó.

-Nhưng có phải chỉ hoàng thân quốc thích mới là kẻ thực tài ?

-Nếu không thế sao gọi là để cầm cân nảy mực ?

-Ý thần hỏi, ngoài hoàng thân quốc thích, có còn ai là kẻ có tài không ?

Nhà vua giận dữ đáp :

-Còn hay không, kệ chúng. Ta nay đủ sức làm vua một nước. Quốc sư hãy lui về an phận tuổi già.

Chuyết đọc nhiều, hiểu rộng. Khi được chức tể hầu thì rất muốn thao túng triều chính. Song, lại rất nể sợ ông vua rể. “Cha con là đạo trong nhà.Vua tôi là việc ở triều. Khanh hãy luôn nhớ điều đó” Du đã dằn mặt ông cha vợ, ngay từ buổi Chuyết  mới nhậm chức. Ngồi ghế tể hầu hơn năm, Chuyết được vua sai soạn đạo lý của nước. Xem xong, vua bảo “Chẳng có chi hơn các triều trước” Rồi lệnh Chuyết sang các nước láng giềng để học hỏi. Đi suốt bốn năm, về, Chuyết trình lên vua cách thức chăn dân của các nước ấy. Hiêu Du chê Tây Miêu là man di. Cách trị nước của Di Vang và Đông Mân thì không hợp với Chang Lang. Vân Muôi từng là nước thù địch, nên chẳng thể làm theo họ bất cứ điều gì. Nhà vua chọn  lấy đạo vua tôi  của nước Bắc Mân làm gốc cho cách trị nước của mình.. Chuyết lại mất một năm để viết thành sách vở. Xem xong, vua bảo được. Rồi lệnh đem dạy cho các quan triều..

Nghe chuyện, thái hậu Tương Linh đến hỏi vua :

-Ta nghe nay đem đạo lý của nước người về dạy  ở nước mình, phải không ?

Vua đáp :

-Đạo lý là của chung thiên hạ, sao thái hậu còn phân biệt của người với của ta. ?

Bà Tương Linh nén giận, nói :

-Chỗ chung nhất nghe qua thì đựoc. Song, ta muốn biết đạo lý ấy cho thật tỏ tường.

Nhà vua liền đáp :

-Thưa, đấy là đạo vua tôi. Vua yêu thần dân như yêu cha mẹ. Nên thần dân cũng phải yêu vua như  cha mẹ yêu con.

Bà Tương Linh không nhịn được cười. Rồi liền nghiêm mặt, hỏi

-Ta còn nghe các quan triều bàn tán, nay vua thay thần Cốc trị nước, phải không ?                 Nhà vua đáp phải. Thái hậu Tương Linh tuôn trào nước mắt.

-Giá ta được chết ngay bây giờ  để khỏi nhìn  thấy cảnh đảo lộn  đạo lý của tổ tiên.

Thị nữ phải dìu, bà thái hậu mới bước nổi. Không trở về tư dinh, mà đến chỗ ông Bồ Đài. Quốc sư đã rõ mọi chuyện từ trước. Con đại bàng già với con chim câu góa bụa chỉ còn biết im lặng nhìn nhau.

Nhà vua lại lệnh tể hầu Đam Chuyết đem đạo lý mới  truyền xuống  các thủ trấn, các thủ trấn truyền xuống các thủ dinh, các thủ dinh truyền xuống các hương trưởng. Hơn trăm năm qua, người Chang Lang vốn quen với lề thói cũ. Nay bỗng có chuyện thế, nên các quan triều xôn xao bàn luận. Thật ra, từ đám triều thần đến các quan chức địa phương, chưa mấy ai thấu tỏ những điều mới mẻ kia. Ở Xuyên Lâm, hương trưởng Vu Xia đi rao đạo lý mới của vua. Nhưng vì chưa hiểu hết nên lời rao  thừa trước hụt sau. Bấy giờ Khưu Chiêu đang dạy Luân việc nông tang. Bao nhiêu người đến nhờ ông giảng giải cho nghe những lời rao của hương trưởng Xuyên Lâm. Quan văn hầu thật lòng bảo : “ Thằng Vu Xia nó sắp điên cũng nên “.

Mỗi ngày một bận, các quan triều vẫn đến chầu vua. Một lời vua phán, trăm quan răm rắp mà nghe. Xét ra, việc triều chính cũng chẳng có chi khác với khi chưa ban đạo lý mới. Lúc nghĩ đến chuyện này, đám triều thần lại ngơ ngác, hỏi nhau “ Thế này là sao?”. Chỉ có Chuyết là im lặng, chúi đầu vào công việc của mình. Quan tể hầu muốn tỏ cho vua biết, ông là người sinh ra vương phi Đam Mỵ, giờ lại đẻ ra bao nhiêu quốc sách giúp vua trị nước. Phải. Chuyết muốn lần khảo thí ấy phải khác với các lần khảo thí thời Hiêu Lịch. Ông dành nửa năm để soạn trường qui. Vua xem xong, nói :

-Ta thấy còn chỗ thiếu.

Chuyết dập đầu , lạy :

-Xin hoàng thượng truyền dạy.

Theo trường qui Chuyết soạn thảo, vua là chủ khảo kỳ thi. Quan tể hầu  làm phụ khảo. Quan khảo bên trường văn có văn hầu Hiêu Dật, ngoại điện Nhữ Bột, lễ nhạc Bào Tu. Bên trường võ có vũ hầu Vưu Trấp, thống binh Viên Cưu. Ý vua phải có quan cơ chính Hiêu Thâm đứng vào phụ khảo. Cơ chính là chức mật yếu ở triều, có nhiều việc vua chỉ bàn riêng với quan ấy. Chỗ này Chuyết cũng có  ý  riêng. Là nếu để Thâm vào phụ khảo sẽ lấn cấn cho mình. Giờ nghe vua phán, Chuyết sợ hãi trong lòng.

-Thần còn dốt nát, chưa thấu hết mọi lẽ. Mong hoàng thượng gia ân.

Vua cười , truyền Chuyết đứng lên, rồi bảo ban thêm :

-Phụ khảo chỉ để giúp vua. Việc cho đỗ hay không là ở ta. Chắc khanh đã rõ.

Đã đến ngày mở khoa thi. Thí sinh ở Nam Biên có Khưu Luân, kinh thành Xương Quơn có Nhữ Đạo, con quan ngoại điện  Nhữ Bột. Một số khác đến từ  các trấn  ở gần kinh thành. Cộng hết thảy là mười bảy người xin ứng thí.

Vua hỏi Chuyết :

-Khanh cho ban bố lệnh mở khoa kỳ từ  bao giờ ?

Quan tể hầu đáp :

-Thưa hoàng thượng, vừa đúng một năm.

Vẻ tư  lự  hiện ra trên nét mặt vua .

-Dân Chang Lang ta hơn ba mươi vạn. Khanh thấy ứng thí mười bảy người là nhiều hay  ít ?

Chuyết cúi đầu, im lặng. Các quan khảo cũng im  lặng.

Vua lệnh cho các sĩ tử vào trường văn. Ở trường này, các  quan khảo trường võ chỉ làm công việc chứng minh. Chuyết vốn ngầm ghét Khưu Chiêu, nên  lần khảo thí ấy cố tìm cách đánh hỏng Khưu Luân. Con trai quan văn hầu được Chuyết gọi vào trước nhất. Các lời vấn  ở trường văn là do Chuyết soạn.

Lễ nhạc Bào Tu hỏi :

-Phải phận thần dân đó không ?

Luân cố nhịn cười, đáp phải. Vì nếu chẳng phải dân Chang Lang làm sao Luân được về kinh ứng thí. Quan tể hầu lật đật đứng lên, trừng mắt nhìn ông quan rể. Lời vấn, Tu  học thuộc từ lâu. Song, do bối rối, nên đã lộn trước ra sau.

Quan  lễ nhạc cố nhớ, rồi hỏi lại :

-Phận thần dân thì phải thế nào ?

Đạo vua tôi của nước Bắc Mân ư ? Luân chợt nhớ lời than  thở của thầy lúc nghe hương trưởng Xuyên Khê rao truyền đạo lý mới của vua, nên liều mình đáp :

-Phải yêu vua như cha mẹ yêu con, thưa quan khảo.

Chuyết giật mình. Còn vua bảo được. Rồi lệnh cho Luân sang  lời vấn của quan ngoại điện.

Bột hỏi :

-Được ngôi vua thì phải làm sao ?

Luân liền đáp :

-Thưa, dân yêu vua như cha mẹ yêu con, nên  vua phải yêu dân như  con yêu cha mẹ.

Chuyết lại giật mình.. Vua lệnh bỏ qua lời vấn của văn hầu Hiêu Dật. Luân tưởng thế là quay về Xuyên Lâm vui cùng cày cuốc. Nhưng nào phải.

-Năm này khanh bao nhiêu tuổi ?.

Du chợt hỏi.

Luân vái chào vua, rồi đáp:

-Tâu hoàng thượng, vừa tròn mười tám.

Năm ấy Luân mới mười tám tuổi, nhưng cao to, vạm vỡ chẳng khác anh con trai hăm lăm hăm bảy. Đến lúc này quan vũ hầu Vưu Trấp mới nhận ra Luân. Ông đưa mắt nhìn con trai người bạn đồng liêu chí thiết, không dấu được niềm vui.

Nhà vua lại hỏi :

-Khanh vẫn ăn học với quan  văn  hầu Khưu Chiêu, phải không ?

Luân đáp :

-Thưa, học cày cuốc với cha. Còn học văn võ với thầy Đa Trà ở Xuyên Khê.

Vua chợt cau mày :

-Khi được làm quan , khanh sẽ nói với ta điều chi trước nhất ?

Luân liền đáp :

-Tâu hoàng thượng, dẫu làm quan cũng phận thần dân. Nên thần sẽ nói , thần yêu vua như cha mẹ yêu con.

Hết thảy các quan khảo đều cúi đầu, im lặng. Vẻ giận dữ chợt hiện ra trên nét mặt Du. Song, vua liền  lấy lại bình thường.

-Được. Còn điều thứ hai là điều chi ?

-Thưa, điều thứ  hai do điều thứ nhất mà ra. Là mong hoàng thượng nghĩ sao hãy làm vậy.

-Hãy nói luôn điều thứ ba cho ta nghe ?

-Có hai  điều trước, tất phải có điều sau. Là xin hoàng thượng hãy giữ trọn đạo làm con đối với muôn dân.

Vua lệnh cho Luân ra nghỉ, để chờ vào trường võ.

Mười lăm sĩ tử vào sau đều bị loại khỏi trường văn, vì không đáp nổi lời vấn đầu tiên của quan lễ nhạc. Người cuối cùng vào thi là Nhữ Đạo. Tất nhiên, con quan ngoại điện đã thuộc lòng các lời đáp từ trước. Vua cũng bảo được, chờ vào trường võ. Việc khảo hạch ở trường văn chỉ một ngày là xong. Nên ngay hôm sau đã mở tiếp trường võ. Nhữ Đạo vốn chẳng học hành, nên  chẳng thể bắn cung, múa kiếm. Luân chạy ngựa chiến, vượt khỏi chín mươi chín hào thành. Chuyển qua bắn cung trăm mũi, Luân bắn trúng cả trăm. Cuối cùng là bài thi côn kiếm.

-Tuyệt.

Nhà vua chợt đứng lên, nói, lúc Luân chấm dứt thế Tô  Lư  u khốc

Đến giờ các quan khảo luận định số phận của sĩ  tử.

Vua bảo :

-Quan phụ khảo hãy nói trước đi .

Chuyết đứng lên thưa.

-Chiếu theo trường qui đã được hoàng thượng chuẩn  y, thần xin bày tỏ ý nghĩ của mình. Ở trường văn, Khưu Luân đã có những lời bất kinh đối với vua, nên  không thể cho đỗ. Nhữ Đạo qua hết các lời vấn của các quan khảo ở trường văn, tất được sung vào chức văn khanh. Ở trường võ, Khưu Luân đã qua đủ các bài khảo hạch. Song, chẳng bài nào trọn vẹn. Ngựa chiến suýt sẩy chân ở hào thành chín mươi chín. Bắn trúng trăm mũi, nhưng quá chậm. Kiếm thuật lại yếu mềm. Xét ra, chẳng thể sung chức vũ khanh.

-Làm quan mà xem vua như con, là tội rơi đầu. Lễ nhạc Bào Tu tiếp lời quan nhạc phụ.

Vũ hầu Vưu Trấp chợt đứng lên.

-Luận định cuối cùng tất do hoàng thượng. Chỉ có mỗi điều chưa ổn, là chỗ hoàng thượng khen hay, thì quan phụ khảo lại chê.

Chuyết vội dập đầu, lạy :

-Thần đâu dám thế, mong hoàng thượng gia ân.

Nhà vua vỗ bàn, nói :

-Quan tể hầu hãy đứng lên đi. Chỗ khoa trường, các quan khảo tranh luận, là lẽ thường.Ta nay là chủ khoa trường, luận định như sau . Quan ngoại điện  có con ứng thí , mà không  xin  rút khỏi quan khảo là có ý không ngay thẳng. Nhữ Đạo tuy có qua  đủ các lời vấn ở trường văn, song chẳng thể cho đỗ. Khưu Luân thấu đạt đạo lý vua ban, đường côn kiếm coi như có một không hai, ta truyền sung chức văn vũ khanh ở triều.

Nhữ Bột lo sợ bỏ ngủ bỏ ăn, lén  sang dinh quan tể hầu cầu cứu. Nhưng Chuyết đã ngãbệnh ngay sau khi rời khỏi trường thi. Thấy Bột đến, quan tể hầu gượng dậy, hỏi:

-Ông ngoại điện đã biết thế nào là vua chưa ?

Bột chẳng hiểu thế là sao, nên vội thưa :

-Xin quan tể hầu dạy bảo.

Chuyết rán  mở miệng, cười :

– Ông vua rể của ta biết  tỏng thằng Luân là đứa giống cha. Có tài, song cứng đầu cứng cổ. Để xem vua có cỡi nổi con ngựa bất kham ấy không?

 

QUAN  TÂN  KHOA  KHƯU  LUÂN

Trong lúc chờ vua ban  áo mão, dinh cơ, Luân đến thăm Vưu Trấp. Bấy giờ là vừa sang thu. Thảo đường với bích bá nơi sân nhà quan vũ hầu đã bắt đầu thay lá.

Vưu Cơ có vẻ bối rối lúc trông thấy Luân ở cổng vườn.

-Thưa, muốn hỏi ai ?

Luân mỉm cười, bảo :

-Không nhận ra ta sao ?

Cơ rất đỗi vui mừng, khi biết Luân đã trúng tuyển khoa kỳ, lật đật đưa Luân vào gặp bác.

Trấp hỏi liền :

-Vưu Xuyên có nhắn gì ta không ?

Luân thưa :

-Con đến thăm quan vũ hầu, và chuyển lời vấn an của Xuyên.

Trấp nói :

-Ta không ngờ cháu  lại kịp ứng thí khoa này.

-Thưa, nhờ ơn thầy dày công dạy bảo, con  mới được thế này.

Quan vũ hầu chợt dàu dàu nét mặt .

-Thấy cháu đỗ đạt, ta mừng mà không vui.

Luân lo lắng hỏi:

-Xin quan vũ hầu cho biết có điều chi bất trắc ?

Trấp nhìn Luân

-Mừng vì biết cháu văn võ kiêm toàn. Song, lại gặp lúc triều nội lắm cảnh đa đoan.

-Nhưng đã đến nỗi nào chưa, thưa quan vũ hầu ?

-Đến nỗi nào, thì chưa. Có điều, ta chỉ ngại uổng công phò tá.

Luân nghĩ ngợi giây lâu, rồi hỏi:

-Thưa, có phải quan vũ hầu muốn nói đến chuyện đạo lý ngàn xưa đã đổi?

Trấp thở dài :

-Cha cháu cùng ta theo phò tiên vuơng hơn nửa đời người. Chưa bao giờ nghĩ sự thế xảy ra như hôm nay. Mà ta vẫn chưa hiểu làm sao cháu lại đáp được những lời vấn ấy ở trường thi .

Luân thưa :

-Thầy con đi nhiều, biết rộng. Việc thiên hạ chép đủ cả ở sách Thịnh Quốc Thư . Do vậy con mới biết những lời vấn kia là theo đạo lý nước Bắc Mân.

Trấp nói :

-Ta chưa được đọc sách của ông Đa Trà. Nhưng có biết chuyện  vua nước Bắc Mân đã thành ma thú.

Chỉ chuyện trò giây lát, Luân cáo biệt Trấp. Nhưng vừa ra đến cổng thì quay vào

-Xin quan vũ hầu thứ tội.

Trấp hỏi:

-Cháu lại quên điều gì  ư ?

Do sắp đặt sẵn, Luân nói rất trôi chảy :

-Thầy Đa Trà trước có lời vấn an, sau xin hỏi ý quan vũ hầu là để Xuyên ở đó cho đến lúc có khoa kỳ, hay trở về kinh  khi đã thụ giáo xong.

Trấp cười:

-Thiên hạ là cha mẹ của vua. Nên bất kể ai cũng có thể ứng thí khoa kỳ. Song, đấy là chuyện vua nói. Còn  riêng ý ta, Xuyên chỉ học thông kinh lược để làm công việc sửa túi nâng khăn.

Luân không kiềm được mừng vui, buột nói  :

-Ý quan vũ hầu rất hợp với ý Xuyên.

Trấp hỏi :

-Ý con Xuyên thế nào ? Hay nó muốn sớm chọn đường gia thất ?

Luân vội đặt điều nói dối :

-Thưa không.  Chỉ nghe Xuyên bảo chẳng muốn đua chen ở khoa trường.

Cho đến lúc ấy Luân mới thấy yên lòng. Vì  ý Trấp thế, Xuyên  sẽ sớm trở về kinh thành.

Bào Tu mang áo mão của vua đến dịch xá cho Luân.

Tiếp chiếu chỉ xong, quan tân khoa hỏi :

-Văn vũ khanh là tước chi, lại không phong ở triều ?

Quan lễ nhạc Bào Tu lễ phép đáp :

-Thưa, đây là chức quan hoàng thượng mới đặt ra.Trên hết có vua. Dưới vua là quan tể hầu. Dưới tể hầu  là văn vũ khanh.

Luân không kiềm được tức giận :

-Quan lễ nhạc lại thay vua ban  áo mão cho quan đứng đầu văn võ ban là nghĩa làm sao ?

Bào Tu lật đật quì .

-Xin quan tân khoa hiểu cho Bào Tu này.Vì đây là lệnh vua. Nếu không  xong việc, ắt đầu Tu này chẳng còn..

Việc phong quan lẽ ra ở tại triều. Nhưng Du muốn thử con ngựa bất kham, nên  đã sai Bào Tu làm thế.

Từ dịch xá đến dinh cơ quan tân khoa phải qua những dinh cơ của các quan triều. Bao dấu cũ vẫn còn lưu nơi đây. Luân cứ thấy nhớ đến Xuyên. Võng lọng, ngựa xe, giờ đủ cả. Chỉ thiếu mỗi Xuyên để mừng Luân bảng hổ có tên.

-Sao vắng lặng thế này ?

Luân hỏi, lúc cùng Bào Tu bước vào ngôi nhà cũ kỹ, nằm rất xa khu dinh thự của các quan triều.

Tu cố dấu vẻ bối rối.

-Đây là lệnh của hòang thượng, thưa quan tân khoa.

-Vua muốn  ta sống cách biệt với mọi người  ư ?

-Thưa, điều này thì Tu này không hiểu thấu.

Quan tân khoa boăn khoăn trong lòng .

-Trước kia ai ở nhà này, quan lễ nhạc có biết không ?

Tu lại bối rối, đáp:

-Nghe đâu là một võ quan thời tiên đế. Nhưng nay đã mất.

Một dinh thự bỏ hoang ? Luân sinh nghi trong lòng, nên hỏi :

-Nhưng vị võ quan ấy đã chết thế nào, quan lễ nhạc biết không ?

Tu  tái mặt :

-Xin quan tân khoa chớ hỏi.

-Thế có điều chi uẩn khúc chăng ?

-Thưa, nếu nói ra, ắt đầu Tu này chẳng còn.

-Là con quan văn hầu Khưu Chiêu, ta thề sẽ giữ kín chuyện

Tu lật đật dập đầu, lạy.

-Điều cấm kỵ từ lâu, xin quan tân khoa chớ bắt Tu này phải nói ra.

Luân giận dữ tuốt gươm khỏi vỏ.

-Ta phải giết ngươi, đồ quan hèn.

Chuyện xảy tự thời Hiêu Lịch. Trong một lần đi tuyển ngựa ở Tây Biên, quan kỵ binh Đam Lữ đã gặp Sưu Mia, cô gái mồ côi cha mẹ, chủ nhân của một đôi ngựa quí. Ngựa đã được đưa về, nhập vào đàn ngựa chiến của triều đình. Còn Sưu Mia thì trở thành vợ người võ quan trẻ. Mia vốn quen với cuộc sống yên tĩnh, nên Lữ đã xin vua được ở ngôi nhà cách biệt với mọi người. Giặc Vân Muôi tiến đánh Chang Lang. Lữ ra đi lúc Mia vừa tròn mười tám. Bấy giờ triều đình rất trọng vọng những phụ nữ có       chồng ra trận. Trong lúc xa Lữ, Sưu Mia được hưởng cuộc sống vô cùng sung túc. Vào các buổi chiều, Mia thường cỡi con ngựa non  đi dạo ở ngoại thành Xương Quơn. Đám lính cấm vệ chết mê chết mệt vì  Mia. Song, chẳng ai dám chạm tới  vợ quan kỵ binh. Bấy giờ, thái tử Hiêu Du vừa tròn mười tám. Đêm nào cũng vui vầy cùng đám gái trinh ở vườn thượng uyển, Du đâm chán , muốn tìm đến một phụ nữ đã có chồng con. Mấy lần gặp Mia, Du thầm để ý. Lúc ấy, Mia bước sang tuổi hăm tám, nhan sắc lại mặn  mà hơn. Lửa tình trong Du mỗi ngày một đượm. Một đêm, Du đến gõ cửa dinh quan kỵ binh Đam Lữ. Tưởng chồng về, Mia vội vàng ra đón..

Du ôm Mia, rồi liền buông ra.

-Dẫu thần linh cấm cản, ta cũng không rời bỏ em đâu.

Mia quì, khóc :

-Xin hoàng tử gia ân cho kẻ hèn này được trọn nghĩa với chồng.

Du cười ha hả .

-Ai lại đi nói với con vua như  thế.

Du to khỏe. Lại dày dạn trong chuyện ái ân. Nên Mia chỉ chống cự chốc lát thì lã người. Vua Hiêu Lịch phải cho Đam Lữ trở về kinh thành, vì Sưu Mia lâm trọng bệnh. Mia thuật hết mọi chuyện cho chồng nghe. Rồi cắn lưỡi, chết. Chỉ Đam Chuyết là chỗ họ hàng với Lữ, mới biết vì sao Lữ  đã treo cổ quyên sinh nơi dinh thự ấy. Lúc Tu đã thành con rể, Chuyết có kể cho nghe chuyện  này, và dặn kín miệng kẻo rơi đầu. Nay bị Luân dọa giết, Tu phải nói ra.

Nửa đêm hôm ấy, Khưu Luân vứt tung áo mão, định bỏ quan, quay lại Xuyên Lâm.

Nhưng cứ  nghĩ  đến  lời cha dạy, Luân lại thôi.

 

VINH  QUI

Tin Luân thi đỗ truyền đến Xuyên Lâm. Vu Xia lập tức đến chúc tụng Khưu Chiêu

-Nhờ hồng phúc quan lớn, làng ta mới được vinh dự hôm nay.

Chiêu vờ ngạc nhiên, nói:

-Làng lại được vinh dự gì sao. Còn chuyện hồng phúc, ông hương trưởng tô vẽ đấy thôi. Vì lời ta, nay thiên hạ đã bỏ ngoài tai.

Xia dập đầu lạy

-Ngày ấy vì nóng lòng chuyện thiếu thuế củaVi Gia, nên con có lời bất phải. Mong quan lớn thứ dung.

Chiêu nghiêm mặt:

-Do vậy, nay ông mới đến đây ?

-Thưa, trước là tạ tội. Sau, để mừng cậu nhà trúng tuyển khoa kỳ.

-Thằng  Luân ta đâu đã về mà mừng ?

Xia lại dập đầu, nói :

– Xin quan văn hầu cho phép làng ta mổ đủ chín bò chín heo để mừng quan tân  khoa vinh  qui

Chiêu bật cười to.

-Sao không mổ đủ chục, mà chỉ có chín ?

Xia cung kính đáp:

-Thưa, cậu nhà năm nay tròn  mười tám. Nên phải mổ đủ số bò heo ứng với tuổi ấy.

Chiêu vỗ bàn, quát :

-Tức, nhân việc con ta đỗ đạt, các ông muốn có một bữa đánh chén phải không ?

Xia vừa run, vừa nói :

-Xin quan lớn chớ nghi oan. Con chỉ là kẻ thừa lệnh quan thủ dinh mà thôi.

Sự thật, chính Xia bày mưu đốc kế cho Hất. Là ở làng cũng như ở dinh, đều phải bày yến tiệc tiếp nghinh Luân. Cứ xuất công quĩ  mà làm. Chén ruợu càng nồng, càng thắt chặt quan dưới với quan trên.

Vu Xia vừa đi thì có tiếng nhạc ngựa dừng ở ngoài ngõ. Chiêu tưởng Luân về. Nhưng nào phải.

-Xin quan văn hầu dung thứ cho việc con đường đột đến đây. Thủ dinh Xương Tây lễ phép thưa.

Chiêu vờ chẳng biết khách là ai.

-Ông từ đâu đến  vậy ?

-Con là Tương Hất, quan lớn không nhớ sao?.

-À, con trai lão Bói. Ta về đây tám năm, có gặp ông bao giờ mà nhớ.

-Con thật đắc tội. Song, vì bận việc công, chắc quan lớn  thấu rõ.

-Ta còn rõ cả tính nết lão Bói nữa kia. Siêng năng.Ngay thẳng. Chắc là ông thủ dinh cũng giống cha .

Hất lộ vẻ lúng túng.

-Quan lớn rất tường tận việc nhà con.

Chiêu nhìn  thẳng vô mặt Hất.

-Nhưng bận việc quan, sao còn rảnh đến đây ?

Hất lật đật quì.

-Thừa mệnh thần dân Xương Tây, con đến mừng hồng phúc quan trên.

Chiêu nói to :

-Làm quan không nổi, phải về chăn trâu. Hồng phúc nỗi gì ?

Hất lạy, nói :

-Thưa, hồng phúc quan văn hầu lớn lắm. Do vậy cậu nhà mới được sung vào chức văn vũ khanh ở triều.

Chiêu chợt ngửa mặt, cười vang

-Thằng Luân ta ấy à. Là do nó gắng học, đỗ đạt, rồi được bổ quan. Có dính dáng gì với ta đâu.

Hất chưng hửng, thầm tức Vu Xia. Theo lời bàn của Xia, Hất phải đích thân tới mừng Chiêu. Dịp hiếm có để quan  thủ dinh Xương Tây tỏ tình thân  với quan văn hầu là chỗ cùng làng xóm. Đã thân với Chiêu, tất sẽ thân được với Luân.

Chiêu tiễn Hất ra tận chỗ cột ngựa.

-Đến chết ta cũng không quên lão Bói. Hồi ấy, nghe ta ở triều về, ông ấy đến thăm. Rồi rủ ta qua nhà uống sối. Ông ấy hớp một hớp, lại đưa cho ta. Chẳng  mảy may nghĩ ta là quan triều. Phải, đến chết ta vẫn còn quí tính nết ông ấy.

Nghe Luân được bổ quan triều, Tương Húc rất lo. Mất mấy đêm liền, thủ trấn Nam Biên mới nghĩ được cách chuộc lại lầm lỡ ngày ấy. Đúng vào hôm Luân vinh qui, Húc cho lính trấn mặc lễ phục, xếp thành hàng dài trước cổng trấn. Cờ xí rợp đường.Yến tiệc bày sẵn trong dinh. Theo tin Húc nghe được, quan tân khoa sẽ vinh qui bằng kiệu. Lúc kiệu của Luân qua đây, lính trấn sẽ hô to lời chúc tụng. Và Húc sẽ đích thân rước Luân vào trấn đường. Sau đó, nhân yến tiệc, sẽ tìm lời xin Luân tha cho lầm lỡ của mình ngày ấy. Mọi thứ được sắp đặt đâu vào đó. Gần trưa, Húc nghe bọn lính la hét ngoài cổng trấn. Có một người con trai ăn bận lôi thôi, dám nghênh ngang vượt qua hàng quân trấn. Từ mờ sáng, đường qua cổng trấn đã bị cấm ngặt. Lẽ ra người con trai kia đã bị giam vào ngục. Song, vì đây là ngày vui, Húc lệnh thả anh ta đi. Đám lính trấn nhịn đói, đứng chờ từ sáng sớm đến tối mịt, chẳng thấy kiệu quan tân khoa đâu cả.

Quan văn hầu Khưu Chiêu mừng con ở kinh đã về. Nhưng  thấy Luân vẫn bận quần áo vải thô như lúc còn đi học, nên nghi hoặc trong lòng.

Khưu Châu hỏi :

-Nghe chú đỗ đạt, được bổ quan triều, sao về làng chẳng thấy ngựa xe ?

Luân  đáp :

-Có đủ cả. Song , còn để ở kinh.

Châu lộ vẻ bất bình

-Đã muốn sống thanh cao, sao còn chen vô chốn ấy ?

Luân chỉ nhìn anh trai, im lặng.

Chiêu hỏi :

-Ta nghe Hiêu Du bổ con vào chức văn vũ khanh, nhưng đấy là chức chi ?

-Thưa, đứng đầu văn võ ban. Nhưng đứng sau tể hầu Đam Chuyết.

– Con đã biết ông ta ?

-Thưa biết. Ông ấy làm phụ khảo, đánh rớt con. Nhưng vua là chủ khoa kỳ, cho đỗ.

Chiêu  thở dài, nghĩ ngợi, rồi nói :

-Đường quan của con ắt lắm chông gai.  Song, ta tin con sẽ gầy được nghiệp lớn.

Bằng cách nào, Chiêu chưa nghĩ ra. Nhưng ông tin sẽ có minh quân. Nghiệp lớn ở đây là phò tá minh  triều.

Vu Xia cho mổ bò heo thật. Dân  Xuyên Lâm đã tề tựu ở đình làng để đón quan tân khoa.

Chiêu hỏi Luân:

-Thằng Xia nhờ ai được chức hương trưởng, con biết không ?

Luân tỏ vẻ lo lắng.

-Ở làng lại xảy chuyện chi, phải không ?

Chiêu nói :

-Từ hôm bắt Vi Gia đi lao dịch, ngày nào Xia cũng lên dinh. Thằng thợ mộc bợ đỡ Húc hăm chín năm để được chức hương trưởng. Giờ định bám con nữa đấy.

Vừa trông thấy Luân, dân làng reo to :

-Quan tân khoa đến.

Luân nói to cho mọi người đều nghe:

-Biết ta có làm được việc chi cho dân cho nước không mà mừng..

Rồi quay sang hỏi Xia :

-Buổi hôm nay có thiếu mặt ai không, ông hương trưởng ?

Xia liền đáp:

-Thưa đủ cả.

Luân nhìn qua dân làng một lượt, rồi hỏi :

-Ông hương trưởng tính cả Vi Gia đương lao dịch trên Nga Sơn phải không ?

Xia im, vẻ rất sợ hãi. MẹVi Gia vừa mất.Vì Gia là kẻ có tội, nên Xia cấm đám con Gia không được đến đình thần.

Người già nhất làng hỏi :

-Thời tiên đế, quan văn hầu vinh qui có ngựa xe với binh triều. Nay phép nước đổi khác hay sao, quan tân khoa về làng một thân một mình ?

Luân đáp :

-Bỗng lộc thời nào cũng thế. Có điều, ta thấy mình tài hèn sức mọn, không dám nhận đấy thôi.

Rồi lệnh đem rượu thịt chia đều cho các nhà trong làng. Phần của nhà mình, Luân sai đem cho lũ con Vi Gia.

Bấy giờ là mùa xuân. Nơi nơi cây cỏ xanh tươi. Luân lên Mân Sơn, gặp đám con gái của làng đang lấy măng tre. Nghe bọn chúng hát khúc Nước Ve, Luân lại muốn bỏ quan .

Hết lên Mân Sơn, Luân lại vào Thiên Sơn. Quan văn hầu sinh nghi, hỏi :

-Con định bao giờ trở lại kinh ?

Luân đáp :

-Có lẽ con ở lại nhà để theo trâu thôi.

Chiêu cả giận, mắng :

-Mày là đứa hư. Cho ăn học đến bực ấy, nay lại muốn đi cày .

 

NGŨ  SƠN  TRUYỆN

  “Luân  Xuyên đi tìm lá thi lau.Vừa đến ngọn thứ năm của Ngũ Sơn thì nghe có tiếng khóc trên không. Xen trong tiếng khóc là tiếng cười. Chim thắc ? Luân sinh nghi trong lòng. Còn Xuyên thì sợ hãi, bảo :

    -Ta trở về nhà thôi .

    Từ trên không chợt vọng xuống những lời sau :

    -Bọn vua quan ác hơn loài cọp. Hết thuế người, lại thuế rừng, thuế nước. Thuở ấy, ta đã khóc, nước mắt chảy thành suối Phù Đan.

    -Nhưng đấy là ai ? Quỉ ma? Hay tiên phật hiện ra thử kẻ trần gian?

    Luân ngước mặt lên trời, hỏi.

    Tiếng đáp gần hơn.

    -Chẳng phải quỉ ma tiên phật. Mà người chết thành chim.

    – Chim ?

    -Phải. Thuở chưa là chim, ba ngày ta xẻ xong sôngThạch Thủy, năm ngày san xong ngọn núi trời.

    Tới lúc đó, Luân, Xuyên mới biết ông Tô Lư chết thành chim thắc. Xưa, núi ở đây gòm sáu ngọn. Ông Tô Lư phá bớt một, làm ra đất Xuyên Khê. Nên năm ngọn còn lại được gọi Ngũ Sơn. Phá núi trời, song trời không phạt. Còn cho nhà ở, giừơng nằm. Vườn trao là nhà ở. Vách đá là giừơng nằm. Bị bọn vua quan ức hiếp, ông Tô Lư  định    quyên sinh. Nhưng trời không cho, bắt làm chim thắc, để nhắc nhở người đời.

    -Phúc đó, rồi họa đó. Các người có thấu nỗi khổ của ta ?

    Từ trên không, lời chim lại vọng xuống.

    Luân đáp :

    -Có. Nghe tiếng chim thì biết.

    -Phải. Ta muốn cười một tiếng cho tan hết dối gian, độc ác. Nhưng nước mắt cứ chảy dài.

    -Và hôm nay, chim trở lại để thăm ngôi nhà cũ ?

-Không phải. Từ Mi Sơn, ta biết các ngươi muốn tìm lẽ sống, nhưng đang lạc giữa cõi đời ô trọc.

    -Đứng ở đây trông thấy dòng Thạch Thuỷ. Cám ơn chim đã lo giúp chúng tôi việc trở lại nhà.

    Luân nói, toan từ giã, quay về.

    Chim chợt gọi to :

    -Các ngươi cứ ở lại đây, chớ luyến tiếc chốn cũ.

    -Nhưng chúng tôi còn  mẹ cha, nhà cửa. Xin giã từ chim.

    Xuyên nói, toan kéo Luân đi.

    Chim lại gọi to hơn:

    -Đừng về.Tình yêu của các ngươi trong trắng tựa nước suối Phù Đan. Hãy  ở lại để ban phúc cho rừng cây và muông thú.

    -Chuyện đó xin để mai sau. Giờ chúng tôi còn lo việc nhân gian.

    Luân nói .

    Từ trên không chợt vọng xuống tiếng cười ghê rợn

    -Việc nhân gian ư ?  Sức ta còn chẳng làm chi được, huống hồ lũ ngươi .

    Lời chim thắc tựa có phép màu.

    Luân, Xuyên chẳng còn muốn quay về nữa. Hai người quyết ở lại Ngũ Sơn để trồng ngát, gieo vưa.

    Các loài chim đến  gặp Luân Xuyên, đều nói :

    -Hạt vưa ăn đến trăm năm chẳng hết. Xin vua và hoàng hậu hãy nghỉ ngơi.

    Luân nói :

   -Bọn ta chỉ là kẻ gieo vưa. Nên ta chẳng phải vua, vợ ta chẳng phải hoàng hậu.

    Các loài chim cãi :

    -Ai đem lẽ sống cho chúng tôi, người ấy là vua. Còn vợ người ấy là hoàng hậu.

    Các loài thú đến gặp Luân Xuyên đều nói :

    -Khoai ngát làm một mùa ăn năm mươi năm không hết. Xin vua và hoàng hậu hãy bớt làm lụng.

    Luân nói :

    -Bọn  ta chỉ là kẻ trồng ngát. Nên không phải vua và hoàng hậu.

    Các  loài thú đều nói

    -Ai đem lẽ công bằng cho loài thú chúng tôi, người ấy là vua, còn vợ người ấy là hoàng hậu.

    Có một hôm hết thảy muông thú trên mặt đất kéo hết về Ngũ Sơn. Lũ chim chắp cánh làm kiệu, đưa Luân Xuyên lên trời. Lũ thú đứng ở đất cùng hô lớn :

    -Đức vua và hoàng  hậu là của muôn loài.

Từ bữa đó, ở Mi Sơn, chẳng còn nghe tiếng kêu của loài chim thắc. “

 

Truyện Ngũ Sơn được chép trong  Chang Lang Sử Lịch. Sau truyện ấy có lời chú như vầy :

“Vì oán hận Hiêu Du,  người Xuyên Khê đặt ra truyện Ngũ Sơn . Sau được truyền đi cả nước. Có lẽ đấy là khi Khưu Luân đã bỏ quan, chống lại vương triều họ Hiêu. Còn lúc đỗ đạt, vinh qui, Luân có đến thăm thầy Đa Trà, ở lại Xuyên Khê mấy tháng. Ngày nào Luân cũng lấy cớ  đi tìm lá thi lau để đưa Xuyên lên Ngũ Sơn vãn cảnh. Hiêu Du  biết Luân là kẻ có tài , nên cho người tìm gọi về triều”

 

LUẬT  TRIỀU

Khi xây Cung Nguyệt Khuyết, có ba vạn dân khai đá quí chết ở Nga Sơn. Trong số đó, gần nửa vạn đã quá tuổi lao dịch, nhưng do thù oán riêng, đám quan địa phương đã bắt đi. Lời ta oán tới tai bà thái hậu và quốc sư Bồ Đài.

-Thần nay tuổi cao sức yếu, chẳng thể tham dự việc nước. Song, ở triều cũng còn lắm kẻ trung chính. Hoàng thượng nên nghe theo lời tấu bày của những người ấy.

Ông Bồ Đài không vì giận hờn chuyện cũ, đã gặp vua khuyên giải.

Còn bà thái hậu thì trách mắng Du :

-Đám tham quan nay như  loài cọp dữ, lập bè lập đảng để cướp bóc lương dân. Ngồi ở ngôi vua mà không hiểu thế thái nhân tình, thì ngồi chi ?

Quan  vũ hầu Vưu Trấp than thở với Luân :

-Nay vua chỉ làm theo ý mình. Đến thái hậu Tương Linh và quốc sư Bồ Đài nói còn không được nữa là các quan . Giá có ruộng vườn như cha cháu, ta đã bỏ về từ  lâu.

Khưu Luân chợt nhớ đến Vi Gia. Ngày vinh qui, Luân  nghe Gia đi lao dịch Nga Sơn. Nay Cung Nguyệt Khuyết  xây xong, sao Gia vẫn chưa về?

Quan điện đền Chuyên Chiết nói :

-Vi Gia không chịu nộp lúa thần, nên đã bị chuyển sang ngục Luân Giao

Luân hỏi :

-Phạm tội ấy thì phải vào ngục bao lâu ?

Chiết đáp :

-Quan pháp hình đã đặt ra lệ không nộp lúa thần  thì ngồi ngục năm năm.

Luân nghe rất tức giận, thẳng đến chỗ vua. Hôm ấy, Du cho nghỉ chầu để cùng hoàng hậu vui chơi ở Cung Nguyệt Khuyết.

Nội điện Hiêu Dật lễ phép thưa :

-Xin  quan tân khoa hãy đợi đến buổi chầu ngày mai.

Luân nén giận hỏi :

-Nhưng hoang thượng đang bận việc chi ?

Dật chẳng dám nói dối :

-Thưa, đang cùng hoàng hậu thử các món ăn.

Du chẳng giận Luân đường đột đến gặp mình, mà còn tỏ vẻ rất vui mừng.

-Khanh đến thật đúng lúc. Ta với hoàng hậu đang xem xét tài nghệ của đám thợ Bắc Mân.

Thực sảnh nằm ở lầu Cung Nguyệt Khuyết, trang trí theo kiểu tửu lầu của Di Vang .Du  cùng Mỵ đang ngồi chỗ bàn tiệc dành riêng cho vua. Năm trăm thợ nấu Bắc Mân thay nhau bưng các món ăn  đến cho vua nếm. Lúc thấy Luân bước vào, hết thảy bọn họ đều cúi đầu chào.

Du nói :

-Ta vừa mới cho người sang Bắc Mân  thuê bọn họ đấy.

Mỵ nhìn Du, rồi nhìn quan tân khoa, mặt lộ vẻ ưu tư. Luân thầm khen vua giỏi việc kén chọn cung phi. Hoàng hậu có vẻ quyến rủ như một tiên nữ. Nhưng vẫn đầy đặn nét phàm trần .

-Thần trộm nghĩ, việc thẩm định món ăn nên giao cho quan triều, hoàng thượng chớ nhọc công đến thế.

Luân nói.

Du chậm rãi ăn xong món trứng Luốc, rồi bảo :

-Từ vua quan đến hết thảy thần dân trong nước đều đến đây vui thú an bình. Tất sẽ có các bậc hoàng thân quốc thích các lân bang đến viếng. Do vậy mọi thứ ở đây phải được hoàn hảo.

Mỵ chợt hỏi :

-Thần thiếp nghe hồi ấy, thái hậu đã tự tay làm một trăm lẻ tám món ăn để đãi khách Vân Muôi, phải vậy không ?

Vua khẽ gật đầu :

-Ta nay cũng muốn tỏ rõ cho mọi người biết quốc hồn quốc tuý Chang Lang.

-Nhưng mỗi năm phải trả cho mỗi thợ Bắc Mân năm trăm lạng vàng. Sao chẳng chọn người mình  lo công việc ấy, có đỡ hao tổn công quĩ triều đình hơn không .

Du cười xòa :

-Là đàn bà, ái khanh không đủ sức luận bàn chuyện ấy đâu.

Luân cố dấu nỗi bất bình.

-Hoàng thượng thì cố tỏ rõ quốc hồn quốc tuý Chang Lang. Song, quan triều có kẻ muốn làm ngược lại.

-Ai ? Nói ta biết ?

Vua giận dữ đẩy các món ăn sang bên. Đám thợ nấu sợ hãi rút hết vào hậu sảnh.

Luân đứng lên , nói :

-Do nóng lòng chuyện ấy, thần đã không đợi được đến buổi chầu ngày mai

-Cứ tấu bày đi. Khanh bỏ triều, đến chơi Xuyên Khê bao nhiêu ngày tháng, ta còn không chấp nữa là.

Giọng Du dịu lại.

Luân từ tốn , nói :

-Thần đọc đạo lý mới vua ban, biết đấy là những lời châu ngọc cốt để yên dân. Song, cũng chỉ mới là đạo lý. Còn nếu làm tròn, hay làm ngược lại, thưởng phạt ra sao, chưa thấy nói. Do vậy mới có việc quan pháp hình tự  đặt ra lệ tù đày.

Du có vẻ ngạc nhiên .

– Lệ ấy thế nào, ta chưa biết ?

– Thưa hòang thượng, Vi Gia là kẻ nghèo ở Xuyên Lâm, không nộp nổi lúa thần, bị đày Nga Sơn làm lao dịch, nay lại còn giam vào ngục Luân  Giao.

Du có vẻ nghĩ ngợi, rồi nói :

-Không nộp lúa thần là tội lớn. Còn lệ tù đày, ta chưa nghe quan pháp hình tấu bày.

Luân tiếp :

-Lập ra đạo lý, nhưng không có luật triều, nên mọi người làm càng làm bậy. Do vậy mới có chuyện các quan địa phương thù oán ai thì đưa đi lao dịch, còn quan pháp hình  thì bắt Vi Gia phải ngồi tù đúng năm năm .

Lập tức, Du giao Luân  lo việc thảo luật triều.  Soạn thảo xong, quan tân  khoa liền mang đến cho vua. Xem xong, Du giật mình, vì thấy Luân là kẻ tài cao, lại có lòng trung chính. Ngay hôm sau, vua cho đại thiết triều để hỏi ý các quan.

Lễ nhạc Bào Tu nói trước  nhất :

-Làm quan hà hiếp lương dân là tội lớn. Phải giam ngục Luân Giao ít nhất ba năm.

Pháp hình Độc Tố tiếp lời :

-Từ quan đến dân, ai lấy của triều đình làm của riêng, đều bị tội chặt đầu.

Cơ chính Hiêu Thâm thì rất cặn kẽ :

-Ở các trấn, các dinh, nên đặt thêm chức kiểm tu. Quan triều phạm tội thì quan pháp hình luận tội, hoàng thượng định tội. Quan ở các trấn các dinh phạm tội thì quan kiểm tu  luận tội, các thủ trấn thủ dinh định tội.

Vũ hầu Vưu Trấp chợt đứng lên hỏi :

-Nếu quan thủ dinh phạm tội thì ai định tội ?

Thâm đáp :

-Quan thủ trấn.

Trấp lại hỏi :

-Nếu quan thủ trấn cũng phạm tội thì sao ?

-Còn có vua.

Quan vũ hầu dường muốn hỏi gì nữa đấy, song lại thôi.

Phải mất hơn tháng hội triều thần để các quan bàn bạc luật triều. Nhưng cuối cùng thì tự tay vua  thảo lấy.

 

BAN  BỐ  CỦA  VUA

«Đương kiêm hoàng đế Chang Lang  nay ban bố cho thần dân cả nước rõ. Vừa qua, trẫm đã cho đại thiết triều, gồm đủ văn ban võ ban. Mỗi người một lời công minh. Mỗi người một ý chính trực. Góp hết lại thành hiến chương, điển lệ của nước Chang Lang. Đến nay trẫm đã làm được điều ước nguyện của các bậc tiên  vương, là có một luật triều, để từ vua quan đến hết thảy thần dân Chang Lang theo đó mà vun quén cho nước nhà thịnh vượng. Có cả thảy sáu mươi ba mục, chia làm một trăm lẻ chín điều. Nay tóm lược lại, ban bố cho mọi người nhớ làm theo.

Một là, anh linh các bậc tiên vương luôn hộ trì dẫn dắt thần dân Chang Lang trong việc giữ gìn non sông gấm vóc.

Hai là, thần dân Chang Lang là kẻ có quyền uy lớn nhất ở nước Chang Lang. Bất cứ ai cũng có thể đến đền thần Cốc thổ lộ niềm sướng vui hạnh phúc, cũng như nói lên  nỗi khổ đau oan ức của mình.

Ba là, vua Chang Lang  là kẻ thừa mệnh thần Cốc trị nước Chang Lang. Vua có quyền chặt đầu bất cứ ai có ý hoặc có việc làm chống lại thần Cốc, tức chống lại thần dân Chang Lang.

Bốn là, mọi nhà phải nộp thuế đền, thuế ruộng, mọi người từ lúc sinh ra đến lúc chết phải nộp thuế thân, mọi thần dân  đến tuổi thành nhơn phải đăng lính để phòng giặc và chống giặc. Bất cứ nhà nào người nào không làm tròn các việc trên coi như chống lại thần Cốc, tức chống lại thần dân Chang Lang.

Nay khẩn cấp ban bố. Anh minh hoàng đế Hiêu  Du »

Theo lệnh vua, ban bố phải được truyền đi trong cả nước, nội trong một ngày. Bấy giờ Chang Lang có mười tám trấn, một trăm lẻ tám dinh, chín trăm bảy mươi hai làng. Chiết ra, mỗi trấn có sáu dinh, mỗi dinh có chín làng. Lúc ban bố của vua được truyền xuống các địa phương, Hiêu Du lệnh xa giá ra kinh thành. Lần đầu, nhà vua cùng hoàng hậu  kinh lý phố chợ kinh đô để bày tỏ lòng thương dân  thương nước của một vị hoàng đế anh minh. Hôm ấy, tể hầu Đam Chuyết mười tám lượt quất ngựa xuống các trấn. Thủ trấn Nam Biên là Tương Húc sáu lựơt quất ngựa xuống các dinh. Riêng thủ dinh Xương Tây gặp rủi. Đi được tám làng thì trời tối, ngựa té què chân. Hất phải chạy bộ đến Xuyên Lâm. Đến nơi thì ngất xỉu. Hương trưởng Vu Xia lệnh vợ con hơ bóp cho quan thủ dinh. Còn mình phải đi truyền ban bố của vua cho kịp ngày. Bấy giờ người nhà quan văn hầu Khưu Chiêu ngủ cả. Chỉ còn mỗi ông nằm thao thức nghĩ đến con trai đang ở kinh. Chó bỗng sủa vang. Chiêu bước ra sân, nghe có tiếng gào của hương trưởng Vu Xia. Rồi bỗng im bặt. Lát sau có ánh đuốc ở ngả ba đường trước nhà. Chiêu thấy Xia quì. Chó lại sủa vang. Xen trong tiếng chó sủa là tiếng  rao truyền của Xia. Thấy chuyện lạ, Chiêu cố lắng nghe.

-Đúng là giọng điệu của Hiêu Du

Ông buột kêu một mình, lúc nghe xong mấy tiếng anh minh hòang đế.

 

ĐỀN  CỐC

Vua buông cần, tư lự.

Ngư hồ ngày thu thật yên tĩnh.

Hoàng hậu Đam Mỵ lộ vẻ lo lắng

-Hôm nay hoàng thượng có điều chi không vui chăng ?

Du đáp :

-Ta đang nghĩ đến giấc mơ

-Hoàng  thượng nằm mơ ?  Mà mơ gì ?

Phải. Khi đêm, sau khi ân ái cùng hoàng hậu, vua đã rơi vào giấc mơ lạ.

Du thu dây câu, gác cần lên bờ

-Lần đầu tiên ta trông thấy thần Cốc.

-Hoàng thượng mơ  thấy thần Cốc ?

Mỵ không dấu được nỗi ngạc nhiên.

Nhà vua nhìn qua khu lăng mộ xây sẵn cho mình, lộ vẻ bực tức. Lát sau thở dài, nói :

-Quả đời người ngắn ngủi thì ta chẳng làm hết những điều hằng muốn.

Mỵ khẽ chạm tay vào mép áo bào của vua .

-Nhưng đến nay hoàng thượng đã làm được bao điều to tát .

-To tát ư ? Ta còn muốn  dời cả núi Nga Sơn nữa kia.

Mỵ ngước nhìn vua

-Thần thiếp có thể biết được hoàng thượng định làm gì chăng ?

-Xây quốc đền ở kinh.

Du đáp.

Mỵ khẽ rùng mình. Hoàng hậu chợt nhớ đến hai vạn mốt người chết  ở kinh lúc xây Lăng Vạn Tuế, với ba vạn nằm xuống trên núi Nga Sơn  lúc xây Cung Nguyệt Khuyết

-Xin hoàng thượng hãy suy xét lại. Các đấng tiên vương cũng chưa dám làm việc ấy .

-Ai khanh lại đem ta so với các vua trước ư ?

-Thần thiếp nào dám. Có điều, lúc xây Lăng Vạn Tuế và Cung Nguyệt Khuyết, chết chóc quá nhiều. Nay thần dân Chang Lang có còn đủ sức xây quốc đền là việc quá lớn ?

Vua âu yếm nhìn Mỵ :

-Người đời bảo đàn bà đái không khỏi ngọn cỏ là thế. Dân Chang Lang hơn ba mươi vạn, vừa qua chỉ chết  mới năm vạn mốt, mà ái khanh đã lo không còn đủ người xây quốc đền.

Ngay hôm sau, Du cho gọi Thâm đến gặp mình.

-Ta định xây đền thần Cốc ở kinh. Theo khanh, đền nên cao bao nhiêu trượng ?

Thâm giật mình, đáp :

-Lập quốc đền là việc hệ trọng. Các triều trước cũng chỉ mới cho xây đền dinh đền trấn.  Chẳng biết hoàng thượng đã suy nghĩ kỹ chưa ?

Vua nói :

-Từ đêm mơ gặp thần Cốc, ta cứ nghĩ  là mình đã ra khỏi lẽ sống chết thường tình. Cho nên, xây xong quốc đền, ta sẽ cho khai các con đường thông từ kinh đô đến các miền biên ải.

Thâm nói :

-Theo luật triều vừa ban bố, vua thừa mệnh thần Cốc trị nước. Lập quốc đền để nêu cao uy danh vua là hợp lẽ. Song, chỉ sợ xây đền đài liên miên thế, muôn dân khổ cực, có sinh oán hận triều đình không ?

Vua cúi đầu nghĩ ngợi hồi lâu.

-Làm cơ chính chín chắn như khanh rất hiếm. Vả lại là chỗ chú vua, khanh còn phải đem tình cốt nhục ra đối đãi với ta. Có điều khanh phải biết, phàm là dân thì chín người mười ý. Đến thần linh cũng không làm vừa lòng được chúng, nữa là ta.

Ban đầu,Thâm có ý định can vua chớ xây quốc đền. Nhưng khi Du đem chỗ cốt nhục ra nói, Thâm lại xiêu lòng.

Vua lại gọi Khưu Luân dò ý.

-Việc thờ thần Cốc được định tự thuở vương triều họ Hiêu mới lập. Song, các vua trước chỉ mới xây được  các đền trấn đền dinh. Nay ta muốn làmsáng uy danh thần bằng việc lập quốc đền ở kinh, khanh thấy thế nào ?

Luân rõ Du là kẻ độc đoán, đã lừa mỵ dân qua chuyện luật triều. Nay nghe nói lập quốc đền, Luân càng thấy chán ngán trong lòng.

-Thần tài hèn đức mọn, việc trần gian còn chưa thấu hết, làm sao dám bàn việc thần linh.

Du biết Luân còn tức chuyện soạn thảo luật triều, song, cứ vờ thản nhiên bảo :

-Vừa qua, khanh dày công giúp ta làm luật nước. Giờ hãy tiếp tục phò tá minh triều. Cứ nói ra ý của mình, chớ nhún nhường.

Luân kiềm chế lắm mới khỏi thốt những lời nặng nề với Du.

-Hòang thượng là kẻ đứng đầu minh triều. Tất những điều hoàng thượng nghĩ ra là của đấng minh quân.

Do câu nói đó, Luân đã thành cái gai trong mắt Du.

Được vua giao soạn kế sách xây quốc đền, Chuyết quì, nói :

-Cho đến chết, thần vẫn không quên ơn mưa móc của hoàng thượng.

Vua gắt :

-Thôi, đủ rồi. Điều ta nóng lòng muốn biết là trong bao lâu khanh sẽ thảo xong kế sách ?

Chuyết lật đật lạy.

-Xây quốc đền là việc quá lớn. Thần cũng không biết phải mất bao lâu mới thảo xong . Mong hoàng thượng gia ân.

Chuyết thường hay có tật trước vua thì quáng, về nhà một mình  thì sáng. Chỉ trong ba hôm ông đã nghĩ ra mọi thứ. Quan điện đền  sang Bắc Mân thuê thợ xây đền. Thủ trấn Nam Biên  sang Di Vang thuê thợ khai mỏ. Trưng hai mươi vạn dân  Chang Lang trong một năm. Chia ra, mươi vạn  đi khai mỏ ở  Mi Sơn, mươi vạn ở kinh xây đền.

Vua hỏi :

-Lễ nhạc Bào Tu đứng trông coi xây đền là hợp lẽ. Nhưng sao không giao một quan triều khác coi việc khai mỏ, mà giao cho thủ trấn Nam Biên ?

Chuyết liền thưa :

-Dãy Mi Sơn nằm trong địa hạt Nam Biên. Tương Húc bao năm làm thủ trấn ở đó, ắt am hiểu đất đai sông núi hơn bất cứ người nào.

Vua nghe rất phải. Lần này quan tể hầu đã nghĩ trúng ý Du. Là dám trưng hơn nửa dân Chang Lang để xây đền Cốc. Lập tức Du lệnh Chiết, Húc xuống tàu, kẻ đi Bắc Mân, người đi Di Vang.

Nghe Du định trưng dân xây quốc đền, quốc sư Bồ Đài và thái hậu Tương Linh rất lo.

-Thờ phụng thần linh là việc phải làm. Song, hiện thời ta đã đủ sức xây quốc đền chưa ?

Ông Bồ Đài gặp riêng vua hỏi.

Du cười .

-Tới tuổi quốc sư, thấy chuyện gì cũng khó. Xây quốc đền chỉ là mỗi một trong muôn ngàn công việc trị nước của ta.

Bà Tương Linh cũng gọi Du đến hỏi

-Ta nghe nói sắp xây quốc đền phải không ?

Du  liền đáp phải. Thái hậu nghiêm mặt nhìn vua :

-Hơn năm vạn đàn ông trai tráng bỏ mình lúc xây Lăng Vạn Tuế và Cung Nguyệt Khuyết, cha mẹ vợ con khóc chưa ráo lệ, vương nhi biết không ?

-Kẻ trị nước giỏi là biết lấy máu dân tô điểm giang sơn gấm vóc. Khi cần, phải dùng hết dân cả nước, nữa là năm vạn.

Du vừa dứt lời, bà thái hậu ngất xỉu.

Vì trong mơ, vua chỉ tơ tưởng mình đã gặp thần Cốc, nên khi thợ Bắc Mân hỏi hình thù thần  ấy ra sao, Du bối rối, đáp liều :

-Không chân tay, thân thể. Chỉ có đầu. Trên đầu thì có mắt.

Thợ Bắc Mân lại hỏi :

-Không có óc não ư ?

Vua liền đáp :

-Chẳng cần.

-Nhưng không miệng, làm sao thần xét xử việc thế gian ?

-Thôi, chớ hỏi gì thêm. Cứ làm theo ý ta.

Vua nổi cáu, đáp.

Đầu thần Cốc làm bằng vàng. Bệ thần xây bằng đá quí Mi Sơn. Cả tượng lẫn bệ cao năm mươi trượng.

Vua nói :

-Ta thay thần Cốc trị dân, nên ta cũng phải có ở đền thần.

Thợ Bắc Mân liền vẽ họa đồ, vua quì dưới chân thần Cốc. Xem xong, Du nói  không được. Thợ Bắc Mân phác họa lại, vua đứng ngang thần. Xem xong Du bảo, vua thay thần trị nước, chứ không ngang thần. Rồi đi hỏi Chuyết.

Chuyết tâu :

-Vua thay thần trị nước, nên đứng cao hơn thần không được, đứng ngang thần không phải, mà thấp hơn cũng không đúng. Hoàng thượng từng mơ thấy thần Cốc. Giờ cứ làm y thế.

Thợ Bắc Mân liền vẽ họa đồ, vua đang nằm trên long sàn, ngoảnh mặt về phía thần Cốc. Du xem rất ưng. Song, còn chỗ phân vân, là tạc tượng mình bằng đá hay đổ bằng vàng.

Chuyết liền tâu :

-Vua thuộc cõi đất, nhưng đã thay thần trị nước, nên tượng thần bằng vàng thì tượng vua cũng phải bằng vàng

Du khen phải.

Về chuyện xây đền Cốc, Chang Lang Sử Lịch chép như  sau :

“Hiêu Lơn là vua lập ra triều họ Hiêu. Làm vua được một năm thì nước loạn. Trên, đám quan quân  hùa nhau bòn rút công quĩ triều đình. Dưới, dân chúng sống chẳng kỷ cương. Có ông già ở núi Cốc, xưng là người hiền, đến xin giúp vua trị nước.

-Làm thế nào cho nước yên.

Vua hỏi.

Ông già núi Cốc đáp :

-Dân Chang Lang bấy lâu chẳng biết nể sợ ai. Hoàng thượng nên bảo là nay đã có thần linh giáng thế để coi sóc dân tình. Ai ăn ở tốt sẽ được thần hộ trì. Bằng ngược lại, sẽ bị thần tru diệt.

Vua hỏi :

-Thần ấy tên chi ?

-Hoàng thượng hãy ban chỉ chiếu, bắt dân  lập đền thần. Chừng ấy ắt sẽ có tên.

Ông già nói xong liền quay về núi Cốc, rồi biệt dạng. Hiêu Lơn  liền lệnh cho các làng phải lập đền thờ thần. Rồi gọi là đền thần Cốc. Sang đời vua Hiêu Minh và Hiêu Lịch, đền Cốc được lần lượt dựng lên  ở các trấn các dinh.

Thấy Hiêu Du cho xây đền thần Cốc ở kinh đô Xương Quơn, thần trăm mắt lật đật vào tâu vua trời.

-Nay ở trần gian có tên vua cho xây đền thần, xin thượng đế xem xét.

Vua trời hỏi :

-Nó vua nước nào ? Mà thờ thần chi ?

-Thưa, đấy là vua nuớc Chang Lang. Xây đền để thờ thần Cốc .

Ngọc hoàng giật nẩy người .

-Quân vô đạo, dám qua mặt cả trời. Mà chúng đặt  ra thần ấy tự bao giờ ?

Thần trăm mắt quì mộp  trước bệ rồng .

-Số là cách đây mươi lăm hôm, có tên vua, cố nội của tên vua này, đã đặt ra thần ấy.

Vua trời nhảy xuống sân chầu .

-Trời sinh ngươi nhiều mắt là để xem xét việc nhân gian. Mươi lăm hôm trên này là trăm rưởi năm dưới đó. Ngươi đã để đám vua quan Chang Lang lừa dối dân tình những bấy nhiêu năm, biết chưa ?

Thần trăm mắt khóc, nói :

-Thần đáng tội chết. Có điều, xin thượng đế xét soi. Các tên vua trước bày ra thần ấy cốt để yên dân. Còn tên vua này cho xây quốc đền là để củng  cố ngai vàng của mình.

-Thôi được.

Vua trời nạt. Rồi tức tốc sai nghìn thiên binh thiên tướng xuống Chang Lang.

Đền Cốc đang làm nửa chừng bị đổ, đè chết hai vạn dân xây đền. Hiêu Du liền lập đàn tế trời. Xong, lại cho xây tiếp. Đền lại đổ. Dân xây đền chết thêm ba vạn. Hiêu Du lại lập đàn tế trời. Rồi trưng thêm năm vạn dân khác thay cho năm vạn đã chết, để tiếp tục xây đền. Thấy dân Chang Lang chết quá nhiều, vua trời đành ngưng việc phá đền, rút hết thiên binh thiên tướng về lại thiên cung. Đến khi triều họ Hiêu đổ, dân Chang Lang kéo nhau đập phá hết thảy những đền thờ thần Cốc ở trong nước »

 

NƯỚC  CỜ  CỦA  ĐAM   CHUYẾT

Chuyết giả trọng bệnh để gọi Mỵ về tư  dinh  của mình. Từ ngày được phong hoàng hậu, lần đầu tiên Mỵ mới trở lại ngôi nhà ở ngoại thành Xương Quơn.

Thấy cha khoẻ mạnh, Mỵ mừng, nói :

-Thân phụ lâm bạo bệnh, mãi lúc khỏi mới về thăm, con thật bất hiếu.

Chuyết ngồi ở chiếc ghế lót lông chim, ung dung nhìn con gái .

-Ta nay tuôi cao sức yếu, đã lâm bệnh cũng dễ chết lắm.

Mỵ vẫn quì dưới chân cha .

-Xin thân phụ chớ nghĩ đến điều đó.

Chuyết mỉm cười .

-Hoàng hậu cũng sợ cha chết  ư ?

Mỵ rớm lệ.

-Hồi mới theo chồng, năm ba bữa con lại về đây. Nhưng từ  ngày lên ngôi, vua lại cấm ngặt.

Chuyết lộ vẻ bất bình. Song, liền trở lại vẻ ung dung .

-Đàn bà con gái lo việc sửa túi nâng khăn là lẽ thường. Huống hồ con là vợ vua. Có điều, khi nghĩ  đến phận mình, ta lại buồn.

Mỵ ngước nhìn cha.

-Vì thân mẫu con đã vắn số ?

-Phải. Thêm vào nữa là đường công danh của ta chẳng mấy hanh thông. Bấy nhiêu năm theo phò tiên vương, giờ chỉ được một tước cỏn con .

Mỵ đứng lên, lộ vẻ ngạc nhiên.

-Thưa, tể hầu là đệ nhất phẩm quan ở triều, sao cha bảo là tước cỏn con ?

Chuyết xoay người qua phía án thư, giật phắt tấm khăn điều, để lộ chồng sổ sách .

-Từ thời tiên vương đến đương triều, sách lược trị nước của vua đều do mỗi tay ta thảo đặt, con biết không ?

Nhìn thấy chồng sổ bộ quan tước, thuế má, lưu giữ tự thời Hiêu Lịch, Mỵ hơi khiếp, cúi mặt làm thinh.

Chuyết tiếp :

-Không có Đam Chuyết này, tất chẳng có ngôi báu của vua. Vậy mà nay, ta chỉ được bố thí cho  cái tước vị đứng sau vua.

Mỵ lại quì dưới chân cha .

-Con trẻ đâu hiểu thấu công lao của thân phụ. Có điều, xin thân phụ hãy nghĩ lại. Dẫu có công lao lớn mấy, vẫn phải đứng sau vua.

-Ta chẳng thể là vua. Nhưng hoàng hậu  có muốn cha mình  có tước vị cao hơn vua chăng ?

Mỵ khẽ rùng mình.

-Phận làm con, luôn muốn  đấng sinh thành hưởng được phúc dày lộc cao. Song, xin thân phụ chớ nên nghĩ đến điều vừa nói.

-Đồ ngu.

Chuyết nạt.

Mỵ khóc, lạy cha :

-Xin phụ thân bớt nóng giận.

Chuyết liền chuyển giọng ôn tồn :

-Quốc sư  là tước vị có từ thời tiên vương, bấy lâu do ông Bồ Đài nắm giữ. Nay ông ấy cũng sắp chầu tổ tiên. Xem qua ở triều, chỉ có mỗi ta là đáng mặt lên thay.Vua đang mê đắm con. Con nói, tất vua phải nghe. Đây là lệnh của ta. Làm không được thì chớ quay về đây nữa.

Nói đến đây, Chuyết đứng lên, bước ra khỏi tư phòng.

Ngày hôm sau, Chuyết không đến triều, mà đi Mi Sơn.

Tương Húc đuổi hết lính hầu, đóng cửa doanh trại, tiếp Chuyết. Bấy giờ là giữa hạ. Núi rừng như thiêu như đốt. Quan tể hầu bứt hết mũ áo.

-Ông thủ trấn không tin bụng ta ư ?

Húc khúm núm thưa :

-Vợ thần là em gái quan tể hầu, cốt nhục luôn có nhau, sao quan anh lại nói thế. Có điều,  trong đám lao dịch, chẳng ai tâm phúc để cắt đặt việc ấy.

Chuyết gật đầu.

-Ta hiểu. Còn đám thợ Di Vang, liệu bọn chúng có bươi móc ?

-Thưa không. Khai được bao nhiêu vàng thì chia đôi, như  đã giao ước. Đến nay, thần đã cho chuyển về kinh gần ngàn cân để lo việc xây quốc đền.

Chuyết chau mày.

-Giá bấy lâu có kẻ tâm phúc. Thôi được. Ta sẽ cho lính hầu của ta lên đây. Nhắc lại với quan thủ trấn, là nếu ta làm vua, ông giữ chức tể hầu, còn chỉ thăng quốc sư, ông sẽ được lên quan triều.

Kẻ hầu hạ Chuyết đến hơn trăm. Từ hôm sung quan triều, Chuyết đã đi nhặt những đứa con trai mồ côi ăn xin ở kinh thành về nuôi. Hằng ngày chúng làm các việc hầu cơm, thay áo mũ cho Chuyết. Lúc lên ghế tể hầu, Chuyết đã có trong tay mười một tên hầu tâm phúc. « Quan lớn bảo chết thì con phải chết »  Đó là câu nhật tụng của đám hầu này. Đã đến lúc phải dùng chúng. Chuyết nghĩ. Và liền đưa mười đứa lên Mi Sơn.

-Vàng là để xây tượng thần Cốc ở dinh quan tể hầu. Đứa nào có ý không thẳng ngay, sẽ bị móc mắt để tế thần.

Chuyết răn bảo bọn  chúng trước khi đi Mi Sơn.

Bao nhiêu vàng đánh cắp được bấy lâu Húc giao cho đám hầu của Chuyết mang về dinh Chuyết.

Đã đủ số vàng để đổ tượng vua ở đền Cốc. Đám thợ Di Vang rút về nước.

Chuyết tính lại số vàng Húc đã chuyển về cho mình là mười vạn cân.

-Ta cần mười cái hố để ủ vàng trước khi đổ tượng thần.

Chuyết bảo.

Mười tên hầu tâm phúc của Chuyết liền chia nhau  đào mười cái hố dưới những gốc cây bồ anh trong vườn.

-Ta cần mười sợi dây thật chắc để đư a vàng xuống hố.

Chuyết lại bảo .

Bọn hầu lại chia nhau đi lột vỏ cây tầm năng trong vườn, xe đủ mười sợi dây. Chuyết bảo đem mười sợi dây treo lên mười cành bồ anh .

Một đêm, Chuyết gọi hết mười một tên hầu tâm phúc ra vườn.

-Giờ thì đứa không đi lấy vàng treo cổ mười đứa kia, rồi chôn ở mười cái hố dưới các gốc bồ anh.

Nghe Chuyết bảo, mười đứa cùng quì, khóc.

-Lũ con chưa đứa nào tới tuổi thành nhơn, xin quan lớn thương tình cho sống thêm ít năm nữa rồi hẳn chết.

Chuyết đáp :

-Làm người ai cũng chết. Bọn ngươi chết trẻ để trả hiếu cho ta, tiếng thơm còn lưu muôn đời.

Số là trong mười tên hầu của Chuyết có một đứa tên Muỗng, đã vô tình gặp lại người mẹ câm điếc xin ăn chỗ đám thợ Di Vang khai vàng ở Mi Sơn. Mẹ Muỗng nhìn được con là nhờ bốn cái dấu răng bà đã để lại trên gò má Muỗng, trước khi mẹ con chia tay nhau đi kiếm sống. Chuyện được dấu nhẹm. Đến lúc ấy, chín đứa kia mới nói ra.

-Hãy để cho Muỗng sống, vì nó còn mẹ.

Chín đứa cùng nói.

Tên hầu thứ mười một không tròng dây ở cổ, mà tròng ở ngực Muỗng.

Chuyết thấy có mười cái xác treo ở mười cành bồ anh, yên lòng, bảo chôn.

Ngay đêm sau, Chuyết gọi tên hầu thứ mười một ra gốc bồ anh.

-Đào cho ta cái hố.

Nghe Chuyết bảo, tên hầu khóc rống lên.

-Con sống hết lòng với quan lớn, mà quan lớn cũng giết con sao ?

Chuyết bỗng bật cười to.

-Biết ngươi hết lòng với ta, nên ta mới bảo ngươi chết.

Tên hầu bỗng im, cầm xuổng lên. Thoắt cái, hố đào xong. Nó giật lấy tấm vải gấm đen trên tay Chuyết, thắt thành thòng lọng, treo lên cây bồ anh.

-Mày có chữ nghĩa mà ác, ắt bị ma quỉ phanh thây.

Tên hầu thét to. Rồi tự đút cổ vào thòng lọng.

Mỵ lại được vua cho về ngôi nhà ở ngoại thành Xương Quơn. Lần này, Chuyết lâm trọng bệnh thật. Bệnh Chuyết chỉ xảy ra lúc ngủ. Còn lúc thức thì không.

-Vua đã nói với con thế nào ?

Chuyết hỏi.

Mỵ ái ngại thưa :

-Vừa xây quốc đền xong, hoàng thượng đã toan tính việc khai các con đường từ kinh đi các miền biên ải, lúc nào cũng trầm tư nghĩ ngợi, con đâu dám mở lời.

-Ta khất cho mươi hôm nữa phải xong việc. Hãy đi đi.

Chuyết đuổi Mỵ.

Nếu Mỵ không thuyết được Du, thăng mình lên tước quốc sư, Chuyết sẽ dùng số vàng kia mua chuộc vua Vân Muôi đánh chiếm Chang Lang. Thà làm vua chư hầu cho một nước lớn, còn hơn suốt đời giữ tước tể hầu. Chuyết vạch sẵn nước cờ cho mình.

 

THẾ  TRẬN  CỦA  QUAN  PHÁP  HÌNH

Tước quốc sư cùng hình ảnh chiếc ngai vàng chẳng lúc nào rời khỏi tâm trí Chuyết .Đêm, quan tể hầu lại rơi vào những giấc mơ kinh hãi. Cứ chợp mắt là ôg nhìn thấy mấy cái xác lủng lẳng ở mấy cành bồ anh. Đám tôi tớ chết khiếp, vì đêm nào cũng nghe thấy tiếng kêu rú phát ra từ buồng nằm của Chuyết. Quan tể hầu thay đổi rất nhanh. Mắt hõm, da xanh. Vào các buổi chầu, Chuyết cứ ngồi ngây người, vẻ thờ thẫn. Đấy là lúc quan tể hầu lại đắm chìm vào giấc mộng đế vương. Các quan triều thấy thế thì cho là ông đã đến tuổi già nua lẩm cẩm.

Để trừ bỏ vong hồn đám lính hầu, Chuyết đã lệnh moi xác chúng, mang ra khỏi vườn. Đến lúc ấy ông mới biết có một đứa sống sót. Đứa nào? Mà làm sao lại sống được? Đêm, quan tể hầu lại rơi vào những cơn mơ kinh khiếp hơn. Chuyết thấy tên hầu sống sót đội đơn  đến vua, rồi vua lệnh chặt đầu Chuyết..

-Hãy lôi xác chúng lên.

Chuyết lại lệnh đám tôi tớ moi mấy cái xác vừa được chôn lại. Song, lúc chết chẳng vải liệm, áo quan, da thịt đám hầu nhanh chóng tan rữa, Chuyết chẳng  nhìn  được mặt đứa nào.

Ngày trốn, đêm đi, từ kinh thành Xương Quơn, Muỗng ngược về phía Mi Sơn. Rồi men theo chân dãy núi ấy, lần về hướng tây. Đến làng Xuyên Trung, trấn Nam Biên, Muỗng gặp được mẹ. Muỗng làm trai cày. Mẹ Muỗng  quét dọn, giặt giũ. Được mươi hôm, nhà phú hộ ấy biết được tung tích của Muỗng, liền đuổi  mẹ con Muỗng. Chỉ ông Đa Trà ở Xuyên Khê là dám chứa chấp. Xuyên gởi thư thăm cha lại đem chuyện oan khúc của Muỗng ra nói. Trong một lần trò chuyện, Trấp lại đem việc ấy thuật lại với Tố.

Tước tể hầu đáng ra phải trao một trong bốn người là Khưu Chiêu, Vưu Trấp, Hiêu Thâm và Độc Tố. Vì lúc Chuyết giữ sổ bộ ở triều, bốn người ấy đã có nhiều công trạng với tiên triều Hiêu Lịch. Nay, Chiêu đã bỏ về chăn trâu. Trấp thì chán thời thế, thờ ơ với mọi chức tước. Thâm được vua giao chức cơ mật ở triều, song bấy lâu vẫn  hậm hực, vì tước ấy vẫn nhỏ hơn tước tể hầu của Chuyết. Còn Tố chẳng đội trời chung với Chuyết chỉ vì không muốn Chuyết ngồi cao hơn mình. Nay biết được việc làm chẳng kiêng nể ai của Chuyết, Tố quyết ra tay. Quan pháp hình âm thầm đi Xuyên Khê. Ban đầu, Muỗng sợ, chối hết. Nhưng khi nghe Tố nói sẽ trừ đám quan cường bạo, cho Muỗng làm lính triều để nuôi mẹ, Muỗng khai ra hết.

Ông Đa Trà hỏi thử Tố :

-Từ ngày phò vua giúp nước, quan pháp hình  đã trừ được mấy đứa tham quan ?

Tố đáp chưa.

Đa lại hỏi :

-Do sự trị vì anh minh của hoàng thượng, hết thảy đều trung chính, phải không ?

Biết Đa chê khéo mình, Tố rất tức. Song, vẫn gượng đáp :

-Bọn mọt nước sâu dân thời nào cũng có. Hiềm nỗi bấy lâu  ta cứ nghĩ  các quan triều phần lớn đều phò tá tiên triều, chẳng ai dám làm buồn vong hồn tiên đế. Nay xảy chuyện vậy, ta quyết trừ khử.

Tố đi rồi, Đa gọi Xuyên, Giác

-Xem cung cách tra hỏi, ta biết đấy chẳng phải kẻ trung chính. Quan pháp hình chỉ vì thù ghét quan tể hầu đấy thôi. Không khéo, mẹ con Muỗng lại thành vật hy sinh của nạn tranh giành tước vị.

Giác thưa :

-Hay thầy cho con đem mẹ con bà ấy gởi ở chỗ khác.

Đa nói :

-Gởi đi đâu được. Vì quan pháp hình đã giao Muỗng cho ta, chờ ngày đem về triều để đối chấp.

Vưu Xuyên lo lắng, nói :

-Do con đem chuyện Muỗng nói với cha con, nay mới xảy ra cơ sự.

Đa bảo :

-Con không mách với quan vũ hầu, trước sau người ta cũng biết. Chẳng phải nhà phú hộ ở Xuyên Trung đã đuổi mẹ con Muỗng vì  biết rõ sự việc ấy sao.

Khi biết có đứa hầu sống sót, Chuyết lập tức lệnh cho các thủ trấn truy tìm mười một tên quân hầu của mình  với tội danh  lấy cắp châu báu ở dinh quan tể hầu. Truy tìm mười một đứa, nhưng mười đứa đã nằm dưới mồ. Tương Húc sống dở chết dở, vì chuyện xén bớt vàng mà lộ ra, đầu ông ta sẽ rụng trước. Hương trưởng Xuyên Khê có đến nhà ông Đa Trà tra xét theo lệnh  trên dinh, trên trấn. Nhưng Đa khai Muỗng là học trò của mình với tên khác, thành chẳng xảy chuyện chi.Tin quan tể hầu bị mất châu báu đến tai vua. Để chia xẻ với Chuyết, Du xuống chiếu thưởng năm mươi cân vàng cho ai bắt được tội phạm.Vợ Bào Tu là con gái Chuyết, đã chết từ lâu, Tu đã lấy vợ khác. Song, quan lễ nhạc cũng tỏ ra rất đau lòng trước sự mất mát của quan nhạc phụ

-Con sẽ xin vua đốt quân trộm cướp, để lấy mỡ thắp ở đền Cốc.

Mỵ về thăm cha, thấy cảnh nhà như có tang tóc

-Xin phụ thân chớ tiếc của tiền mà sinh bệnh. Quân ác độc trước sau cũng bị triều đình xử tội thôi.

Mỵ khuyên.

-Ta chết mất.

Chuyết bỗng thét. Rồi ngã xuống bất tỉnh. Từ hôm đó, không còn đến triều nổi.

Biết quan cơ chính Hiêu Thâm rất ghét Chuyết, nên Tố quyết định đến gặp Thâm để bàn cách trừ Chuyết.

-Ông cơ chính có biết ai đang làm lung lay cơ nghiệp của tiên vương không ?

Nghe Tố hỏi đột ngột thế, Thâm giật nẩy người

-Có chuyện gì sao ?

-Ông làm cơ chính, lẽ ra phải biết việc này trước ta.

Tố nói móc Thâm, rồi kể ra sự việc.

-Thằng đó loạn. Ta phải tâu ngay hoàng thượng.

Thâm giận dữ, bảo.

Tố cười :

-Ông định thả hổ về rừng ư ? Nếu ông tâu vua, vua sẽ gọi Chuyết hỏi. Thằng ấy có cách để vua cho bọn ta là súc siểm. Chi bằng giữ kín chuyện cho đến khi luận được tội, buộc vua chiếu luật triều để định tội.

Theo kế sách của Tố, Muỗng sẽ đến dinh quan pháp hình tố Húc về tội cắp vàng ở Mi Sơn. Sau đó, quan pháp hình dẫn Muỗng vào chầu vua, xin xét xử. Tức nước vỡ bờ, Húc phải khai ra tội trạng của Chuyết.

Thâm tỏ vẻ phân vân :

-Nếu Húc không chịu khai thì sao. Chi bằng bắt tên hầu sống sót kia khai luôn cả Chuyết.

Tố nghe rất phải. Song vẫn thấy chưa yên tâm.

-Thế nào vua cũng hỏi ông trước khi cho hội triều thần. Chừng ấy ông nói sao ?

-Ta sẽ bảo chém.

Tố hí hửng đến gặp Trấp.

-Kỳ này ta bứng rễ cây trao chỗ đại điện cho ông vũ hầu xem.

Biết Tố nói gì rồi, song Trấp vẫn giả vờ hỏi :

-Ở đại điện có cây trao nào đâu ? Mà ông pháp hình làm thuốc chi lại lấy rễ trao ?

Cứ ngỡ Trấp cũng thù ghét Chuyết như  mình, Tố đáp :

-Biết ông cũng có bệnh như  ta, nên nay quyết làm bằng được bài thuốc ấy.

Trấp cười mỉm :

-Làm sao ông biết ta đang bệnh gì .

Tố sốt ruột nói toạt ra mọi chuyện. Rồi gút lại :

-Kỳ này ta quyết chém Chuyết.nLúc hội triều thần luận tội thằng ấy, ông hãy đồng tình với ta

Trấp buột thở dài .

-Có chi vui hơn làm được việc ấy. Song, theo ta, cây kèo  nhà tranh thay dễ, còn cột đình thần thay rất khó.

Tố lộ vẻ giận :

-Ta thay tuốt hết. Chỉ muốn biết, lúc hội triều thần luận tội thằng ấy, ông sẽ nói sao

Trấp ung dung đáp :

-Nói điều ích nước lợi dân, chứ nói sao.

Cuộc  gặp Trấp làm Tố rất lo. Không khéo, ông không thay được cây cột ở đình thần, như Trấp nói. Chợt nghĩ đến Khưu Luân, Tố quyết đến dò ý.

-Quan pháp hình có điều chi cứ nói.

Thấy Tố  ngập ngừng e ngại, Luân mở lời.

Tố vẫn giữ vẻ bề dưới :

-Lẽ ra, Tố này phải đến viếng quan tân khoa từ trước. Hiềm nỗi, công vụ bề bộn.

Luân cười :

-Tệ xá có chi mà viếng. Gia thất chưa yên bề. Làm quan nhưng vẫn ăn cơm lính.

Tố đâu hiểu điều đó.Vua ban ba chục quân hầu, Luân chỉ nhận hai. Một lo việc bếp núc, một lo chăm bón cây kiểng trong vườn. Đến bữa, thầy trò ngồi chung mâm.

Tố đột nhiên hỏi :

-Thưa, ở triều quan tân khoa nể ai nhất ?

Đến lúc đó, Luân  nghĩ Tố đến mình để lập bè kéo cánh, nên đáp :

-Vua lớn nhất, nên phải nể vua.

Tố có vẻ sợ hãi .

-Đây cũng thế. Nhưng muốn hỏi, trong các quan triều, quan tân khoa nể ai nhất?

-Ta, thì ta nể ta trước hết.

Luân đáp.

Tố không dấu được vẻ bối rối.

Luân cau mày nhìn ông ta hồi lâu, rồi tiếp :

-Quan pháp hình có công minh chính đại, mọi ngươi mới kính phục. Tức, ông phải có cái để ông  nể ông trước đã.

Thấy không đủ sức dò ý Luân, Tố đành cáo lui.

Thống binh Viên Cưu chưa già, nhưng luôn tỏ vẻ an phận. Lúc đánh Vân Muôi, Cưu là cấp dưới của Trấp. Khi Trấp thăng vũ hầu, Cưu  được thăng thống binh. Làm tướng thời bình chân tay lại mỏi mệt hơn lúc lên ngựa cầm cung. Cực chẳng đã Cưu mới đến chầu vua, vì thấy mình thừa thãi. Bao nhiêu năm qua, dường vua chưa có chuyện gì để hỏi quan thống binh. Tố lại muốn dò ý con người thẳng ngay rất ít lời ấy.

Cưu đang bắt sâu nơi vườn hoa. Thấy Tố, ông gật đầu chào, rồi im lặng quay vào nhà. Tố cũng im lặng, bước theo sau.

Nhìn hình quan vũ hầu  Khưu Chiêu treo ở tiền sảnh, Tố bảo :

-Giá còn  con người ấy ở triều thì hay qua, phải không ông thống binh ?

Cưu đẩy chén sối sang phía Tố :

-Uống đi.

Tố mỉm cười :

-Ông là người sung sướng nhất trong bọn ta đấy.

Cưu chỉ im, hớp trà.

Tố chợt hỏi :

-Nếu trong đám quan triều  có đứa dám xúc phạm vong hồn tiên vương , ông thống binh dám cầm gươm chém nó không ?

Cưu cười :

-Ông mới giả sử, làm sao ta nói được.

-Là thật đấy, không giả sử đâu.

-Thì ta cũng  chỉ mới nghe ông nói thôi

Thật ra, Tố chỉ cần Cưu gật đầu  khi nghe vua hỏi « Ai trong các khanh bằng lòng chém đầu tên tham quan Đam Chuyết ? «

 

CHÉM  HỤT

Giữa lúc Chuyết, Húc  chờ đợi tai họa giáng xuống đời mình, Tố âm thầm đi Xuyên Khê để đưa mẹ con Muỗng về kinh.

Buổi chầu  hôm ấy Chuyết vẫn còn cáo bệnh.

Vua hỏi Luân :

-Khanh đã cho ban bố lệnh nộp thuế quốc đền chưa ?

Quan văn vũ khanh cố dấu vẻ mệt mỏi :

-Thưa xong, tâu hoàng thượng.

-Mỗi nhà mỗi năm nộp ngàn cân thóc ?

-Thưa phải, tâu hoàng thượng.

Vua quay sang quan lễ nhạc Bào Tu

-Khanh đã tìm được người làm khúc khải tấu ấy chưa ?

Từ hôm Chuyết bỗng truy hô bị trộm châu báu, rồi ngã bệnh nặng, Tu thấy nghi hoặc trong lòng. Nếu có điều chi gian dối, Chuyết bị giáng chức, tước lễ nhạc của Tu cũng khó còn. Nghe vua hỏi, quan lễ nhạc vừa khóc, vừa dập đầu lạy

-Thần đáng tội chết. Mong hoàng thượng gia ân.

Du nói :

-Ta biết tìm được người làm khúc nhạc ấy là việc khó. Khanh chớ quá lo, nếu chưa tìm được.

Tu chẳng dám nhìn vua :

-Muôn tâu hoàng thượng, thần đã đích thân đi Bắc Biên. Một ông lão ngoài chín mươi, từng làm được nghìn khúc tì tưa, khi nghe thần bảo có lệnh vua triệu về kinh để làm khúc nhạc tế ở quốc đền,  ông ta ngửa cổ , thét  « phải, ta phải về kinh thôi »  Rồi vơ lấy cây đàn gua, gảy lên những khúc dị thường. Lúc thì thần nghe như mắt mình có lửa. Lúc  lại nghe lạnh thấu xương.

-Cuối cùng thì sao ?

Vua ngắt.

-Thưa, ông lão  lại thét to lên « ta phải đập nát thây ngươi, hỡi loài rắn độc «  Rồi nghiêng người, đập đầu vào chiếc đàn gua, óc não phụt trắng nhà .

-Thôi.

Vua nạt, tay vịn lấy ngai vàng. Rồi quay sang quan cơ chính

-Khanh nghĩ sao về kẻ ấy ?

Thâm có vẻ bối rối lắm

-Muôn tâu, quả ông ấy là bậc kỳ tài.

Lúc Du truyền bãi chầu, Trấp ngoảnh sang phía Luân, mỉm cười. Luân cũng mỉm cười đáp lại.Trấp tưởng Luân chia xẻ với mình. Nhưng nào phải. Trấp cười vì thích câu vừa rồi của quan cơ chính. Còn Luân thì thích cuộc tấu bày của Tu.

Tố đã đưa mẹ con Muỗng về đến kinh, chẳng ai hay biết, trừ Thâm.

-Ông là người trong hoàng tộc, nên phải đến báo cho thái hậu biết việc này.

Tố bảo.

Thâm cho là phải. Song, trước khi đi, quan cơ chính gặn hỏi quan pháp hình :

-Ông có chắc kỳ này ta trừ được Chuyết không ?

Tố lộ vẻ giận

-Ông nên hỏi mình trước đã.

-Thôi được. Nhưng lật Chuyết xong, theo ông, ai giữ chức tể hầu ?

Tố không đáp, mà hỏi lại Thâm

-Còn theo ông thì giao ai ?

Thâm ra chìu  nghĩ ngợi

-Vưu Trấp là kẻ chán đời. Có dọa chém đầu, ông ta cũng không nhận nữa là. Viên Cưu thì chỉ hợp với việc binh. Giá lúc này còn Khưu Chiêu ở triều. Ngoài hai ta với mấy người ấy, còn lại chỉ là đám gặp thời nên quan.

-Ông cơ chính liệt Khưu Luân vào hạng này ?

-Không. Luân là kẻ có tài, nhưng còn trẻ quá, đứng kề vua sao hợp đạo. Rốt lại, chỉ còn ông với ta.

-Phải. Cách phán xét của ông rất hợp ý ta.

-Nhưng theo ông, nên chọn ta hay ông, để có lợi cho cả hai ?

Nét mặt Tố chợt sánh lại

-Chọn ai ư ? Ông là chú vua, sao lại đứng sau vua ? Mà thôi. Giờ hãy lo trừ tên xảo quyệt ấy đã.

Nghe nói đi gặp vua, Muỗng khóc, lạy Tố

-Cho con làm đứa hầu hạ ở đây cho trọn kiếp. Vì đến đó quan tể hầu lại treo cổ con lần nữa.

-Ở đó có vua, chẳng ai dám làm gì ngươi đâu. Hoàng thượng là kẻ nhân từ. Sẽ cho ngươi làm lính trong cung không chừng.

Tố cố lựa lời dỗ Muỗng.

Đoán biết người ta sắp đưa con mình đi đâu đó, bà mẹ câm điếc giữ chặt Muỗng. Khó khăn lắm, đám hầu của Tố mới rứt được Muỗng khỏi bà ta.

Buổi chầu hôm ấy Chuyết vẫn còn cáo bệnh. Vua vừa ngồi vào ngai vàng, Tố đã quì.

-Muôn tâu hoàng thượng, có một đứa con trai mười bảy tuổi, tên Muỗng, xưng là đày tớ của quan tể hầu , đã đến xin thần che chở. Sau khi nghe hết sự tình, thần chẳng dám im tiếng.

Bào Tu vội vã quì

-Kẻ trộm đã chẳng thể lọt lưới trời. Xin hoàng thượng xuống chiếu thưởng công quan pháp hình.

Tố vội tiếp

-Thưa, đấy chẳng phải đứa gian, mà ngược lại.

-Thế nghĩa là sao ? Hãy đưa nó đến khai trước triều.

Vua bảo. Bá quan đều ngơ ngác.

Thấy Muỗng cứ rạp xuống sân chầu, run rẩy, Thâm đứng lên, nói :

-Hoàng thượng là đấng công minh, ngươi có chi oan khúc hãy cứ tấu bày. Tiếc là hôm nay chẳng có quan tể hầu.

Nghe bảo không có Chuyết, Muỗng mới dám ngẩng nhìn vua. Nó khai đủ đuôi đầu. Từ việc Chuyết nhặt bọn chúng về nuôi, đến việc Chuyết treo cổ cả bọn chúng.

Đại điện chợt im như chết. Mãi thật lâu vua mới phán :

-Hãy giam nó vào ngục Luân Giao, chờ xét xử.

Chuyện truyền đến hậu cung. Mỵ khóc nói với vua :

-Thần thiếp nào ngờ mình lại là con của kẻ độc ác.

Thấy Mỵ tỏ lời ngay thật, Du cũng cảm động, nói :

-Ai khanh chớ nghĩ quá lẽ. Ở đời còn bao chuyện độc ác hơn.

Hoàng hậu chợt ngất xỉu, làm vua chết khiếp.

-Đừng bỏ ta.

Du lay Mỵ, thét.

Như thế là Mỵ chẳng xin vua, nhưng vua lại âm thầm nghĩ  cách cứu Chuyết.

Tin tức đã bay đến dinh quan tể hầu. Chuyết lập tức mật triệu Húc về kinh.

-Đứa sống sót đã đội đơn đến vua.

Nghe Chuyết bảo, Húc thất sắc. Song, cũng như Chuyết, quan thủ trấn cũng phải giữ lấy cái sống cho mình.

-Chắc vua đã rõ, số vàng kia hiện do quan tể hầu giữ.

Húc điềm tĩnh, nói.

Chuyết thét :

-Quân khốn kiếp. Ngươi muốn đổ hết tội lên đầu ta phải không ?

Mặc Chuyết tức giận, Húc  vẫn cứng :

-Đấy là chuyện thật. Chức tước, quan tể hầu hứa bằng lời. Còn vàng, quan tể hầu giữ  đúng mười vạn cân.

-Được. Ta sẽ nhận hết. Cả việc ta ém nhẹm chuyện mưu sát thủ trấn Nam Biên, sau đó lại cất nhắc một tên đội trưởng kỵ binh  lên cầm đầu một trấn, chỉ vì nó là em rể ta.

Húc vội chạy ôm chân Chuyết

-Xin quan tể hầu bớt giận. Chẳng qua Húc này muốn thử lòng quả cảm của quan anh đó thôi.

-Được. Cứ cho là ngươi thử ta.

Chuyết hậm hực , bảo.

Mươi đứa nằm dưới mồ chẳng thể làm chứng cho lời khai của đứa còn sống. Đấy là chỗ để Chuyết tin đầu của mình chưa rụng.

-Có bỏ vào vạt dầu, ngươi cũng phải giữ một lời. Là không hề biết mười một tên hầu ấy.

Chuyết sắp đặt cho Húc.

Thủ trấn Nam Biên chợt rùng mình :

-Chỉ e, khi ra trước công đình, máu kẻ tội lỗi tảng khỏi gương mặt này. Làm sao dấu được chuyện ấy trước vua.

-Đồ hèn. Nếu sợ thế thì chỉ việc làm cho mặt ngươi dày lên.

Chuyết nạt, tát luôn mấy cái vào mặt Húc.

Du chưa kịp gặp Chuyết, đã bị mẹ gọi đến dinh thái hậu

-Vua nói ta nghe, đứa xén bớt tiền bạc triều đình thì bị tội chi ?

Nghe mẹ hỏi, Du biết Tố đã đến đây trước mình. Bấy lâu vua ngờ Tố, Chuyết hục hặc nhau, nay thì đã rõ. Du nghĩ , rồi trả lời mẹ :

-Thái hậu giả dụ thôi. Chứ vàng bạc triều đình dễ ai cắp được.

-Nhưng nếu có, vua xử thế nào ?

Du bấm bụng đáp :

-Thưa, sẽ chặt đầu.

-Còn nếu làm quan mà chôn sống quân hầu, vua sẽ xử sao ?

-Cũng chặt đầu, thưa thái hậu.

Nói xong lời đó, Du toát mồ hôi.

Bà Tương Linh lặng lẽ bước lại án thờ, nâng thanh bảo kiếm lên ngang mày, khấn :

-Nếu vương nhi buông lỏng việc  triều chính, thì thần thiếp sẽ giữ ngôi cửu ngũ như lời ký thác của tiên vương.

Bà thái hậu lại đặt gươm vào họp, rồi quay lại bảo Du :

-Thôi, vua hãy về đi.

Hoặc đầu Chuyết rụng. Hoặc Du phải mất ngôi. An  lệnh coi như bàTương Linh đã ký xong. Du thấy đầu óc tối sẫm khi bước ra khỏi dinh thái hậu.

Mỵ ăn không ngon, ngủ không yên, thành bệnh nặng. Du lo sợ, phải trì hoãn  việc xét xử Chuyết, Húc.

Một hôm, hoàng hậu bảo vua :

-Ước gì thần thiếp được chết trong lúc này.

-Ai khanh chớ nghĩ quấy.

Du làm ra vẻ vui, khuyên Mỵ, nhưng trong lòng như có lửa đốt, vì đến lúc ấy vẫn chưa nghĩ ra cách cứu Chuyết.

Giọng Mỵ áo não hơn :

-Hoàng thượng làm sao thấu hết nỗi dày vò trong lòng thần thiếp.

-Nhưng đến nay ta đã xuống lệnh chém ai đâu.

Du chịu không nổi, nói toạt ra.

Nước mắt Mỵ chợt đầm đìa :

-Chính vì thế nỗi dày vò kia càng lớn thêm.

-Ai khanh lại muốn cha mình  phải rơi đầu ư ?

Du sững sốt, kêu lên.

Mỵ rúc đầu vào ngực vua

-Chỉ có đứa điên mới muốn đấng sinh thành của mình chết. Nhưng làm sao thần thiếp còn dám ngẩng mặt với đời, khi đi đến đâu cũng nghe người ta bảo, rằng vua vì đắm say thần  thiếp buông lỏng kỷ cương phép nước.

Du đang rối rắm, mà nghe Mỵ bảo thế, nên nổi giận

-Ta sẽ chém đầu bất cứ ai dám đụng đến  uy danh hoàng hậu.

Tố cho quân hầu đi kể cho mọi người nghe tội lỗi của Chuyết, Húc. Cả kinh thành Xương Quơn đều hay tin vua sắp chém quan tể hầu và thủ trấn Nam Biên.

Quan pháp hình nói với quan cơ chính :

-Làm sao hoàng thượng bịt nổi tai mắt cả vạn dân kẻ chợ.

Thâm thiếu điều ôm lấy Tố mà reo.

-Ông pháp hình cao kiến lắm. Chuyến này thì thằng Chuyết đi đời.

-Phải. Có trời cũng không cứu nổi. Nhưng ông cơ chính nghĩ thử ai sẽ cầm đầu  lũ lính đao phủ.

-Ta cũng đang nghĩ chuyện ấy. Kỳ này là chém quan nhất phẩm triều đình.

Cả hai cùng vỗ tay cười, vì họ đã nghĩ được cách buộc vua đứng ra chém Chuyết.

Quan tể hầu Đam Chuyết vờ như chẳng hay biết gì, vẫn cáo bệnh, nằm nhà. Cái chết cũng biết thừa lúc con người ta hoảng sợ mà đến. Do nghĩ vậy, Chuyết đã không thèm đến gặp riêng vua. Hằng ngày, ông sửa sang hoa kiểng trong vườn, rồi nằm dài đọc lại mớ sổ bộ đinh điền thuế má thời Hiêu Lịch, để khỏi nghĩ đến những gì sắp xảy ra.

Trấp đột ngột đến dinh quan văn vũ khanh.

Luân vừa mừng vừa lo :

-Chắc quan vũ hầu có điều chi dạy bảo ?

Trấp vào chuyện ngay :

-Xưa rày Tố nó có đến cháu không ?

-Thưa có. Hôm ấy cháu nghĩ sai. Nhưng sau bữa quan pháp hình đưa Muỗng đến gặp vua, cháu đã rõ.

-Bữa đó Tố đến nói gì với cháu ?

-Hỏi ở triều cháu nể ai nhất. Cháu đáp, trước hết phải nể mình.

Trấp cười :

-Khá lắm. Nhưng cháu có tin là Tố sẽ trị được Chuyết không ?

Luân chẳng hề nghĩ ngợi.

-Một đứa như Muỗng chắc chắn thẳng ngay, Chuyết Húc phải rơi đầu. Song, kẻ sai khiến đám đao phủ lại là vua.

-Phải. Hoàng thượng chỉ chém ai khi có lợi cho ngôi báu của mình.

Luân chợt rùng mình.

-Không chừng, vua lại chém Muỗng, thưa quan vũ hầu.

Trấp thở dài

-Ta tiếc là sao cháu lại không xuất chính vào lúc khác  kia.

Như thường lệ, cứ năm bữa Dật lại mang sang cho bà Tương Linh một bát thuốc. Hôm hội triều thần xét việc Chuyết, Húc là đến  phiên Dật vào thăm thái hậu . Quan nội điện lo sắc thuốc xong từ sáng sớm.Theo lệnh Du, hôm ấy, trước khi sang dinh thái hậu, Dật phải đến gặp vua. Nghe dặn dò xong, Dật run như cầy sấy.

Vua nạt :

-Ngươi có muốn một mình ngồi hai ghế quan nữa không ?

Chuyết Húc  đã được gọi vào chầu vua. Quan tể hầu vẫn ngồi ở ghế phía bên phải vua. Còn Húc ngồi ở hàng ghế dành các quan thủ trấn mỗi khi được triệu về triều.

-Đưa tên Muỗng vào

Vua truyền.

Quan cai ngục liền đẩy Muỗng qua khỏi hàng lính đao phủ đang bồng gươm đứng cuối đại điện.

-Quì xuống.

Quan cai ngục lệnh. Rồi vái chào vua, lui ra.

Dù đã được Chuyết dặn dò trước, Húc vẫn ngoái nhìn vua lúc Muỗng bước vào. Mặt quan thủ trấn tái nhợt.

Vua nói lớn :

-Cho tên Muỗng khai ra những điều nó biết.

Chuyết vẫn thản  nhiên  nhìn  sang phía hàng quan võ có vũ hầu Vưu Trấp.

Lúc Muỗng nói, Du nhìn xuống chỗ Dật, thấy mặt quan nội điện cũng tái nhợt  như thủ trấn Nam Biên, nên rất bối rối trong lòng.

Muỗng vừa dứt lời, Chuyết liền quì.

-Thưa hoàng thượng, nó là một trong muời một đứa quân hầu đã trộm châu báu  ở nhà thần. Nay vì trốn không xong, quay ra nói càn để che lấp tội lỗi. Xin hoàng thượng cho thần mang về tư dinh để sửa trị.

Tuy đã quyết tha tội Chuyết, song , Du vẫn muốn làm cho ông cha vợ hám vàng kinh hoàng một trận.

Vua nói :

-Phải. Nó là tên quân hầu khanh đã chôn bữa ấy. Quan pháp hình cứ chiếu luật triều luận  tội.

Sau câu nói của mình, Du thấy Chuyết vẫn thản nhiên, còn Dật thì run. Quan nội điện nhìn lên vua như muốn nói gì đó. Nhưng thấy vua trừng mình, nên vội cúi gằm mặt để mọi người khỏi nhìn thấy.

Tố đứng lên nói to :

-Lấy cắp vàng xây quốc đền  là chống lại thần Cốc. Chôn sống quân hầu, tức sát hại thần dân Chang Lang, cũng là chống lại thần Cốc. Quan tể hầu Đam Chuyết với thủ trấn Tương Húc đã làm các việc tày đình trên , nên bị tội chém. Xin hoàng thượng xuống chiếu.

Muỗng đang nằm mọp ở sân chầu, nghe Tố nói chém Chuyết, Húc, liền ngẩng mặt nhìn mọi người.

Chuyết chợt bật cười

-Ông pháp hình nói thiệt hay nói chơi ?

Tố tím mặt, nhìn lên vua.

-Thần đã luận tội xong, xin hoàng thượng xuống chiếu.

Chuyết nói to :

-Ông pháp hình bảo vua phán quyết chi? Ta cắp vàng ư ? Ta chôn quân hầu ư ? Chứng cứ của ông đâu ?

Tự bấy nay, mỗi khi có việc hệ trọng  vua đều hỏi Thâm. Nhưng đến việc Chuyết thì chẳng hề đếm xỉa. Thâm đang tức, lại thấy Chuyết có vẻ lộng hành, nên nổi giận, đứng lên

-Tội lỗi của Chuyết đã rành rành, sao hoàng thượng không phán quyết ?

Vua cũng đứng lên . Lát sau, nhìn Muỗng hỏi to :

-Lúc quan thủ trấn sai ngươi mang vàng về cho quan tể hầu, có ai trông thấy không ?

Muỗng vừa run, vừa đáp :

-Muôn tâu, có chín đứa quân hầu kia biết.

Nó nói ra đủ họ tên từng đứa.

Vua hỏi tiếp :

-Lúc quan tể hầu chôn ngươi thì có chứng ai ?

-Muôn tâu, cũng chín đứa đó.

-Giờ thì lũ chúng ở đâu ?

Muỗng  chợt khóc rống lên .

-Muôn tâu, dưới chín cái hố trong vườn nhà quan tể hầu.

Du sụp xuống ghế rồng, chết lặng. Tố, Thâm cũng chết lặng. Bỗng Dật chạy bổ lên bệ rồng, nói nhỏ vào tai vua :

-Tì nữ của thái hậu  đã uống thử thuốc, chết rồi.

-Mẹ ta không sao, có phải không ?

Du chợt hỏi to  trước sự ngơ ngác của triều thần. Đến lúc ấy vua mới thấy Chuyết là kẻ cao kiến. Chuyết biết trước ông không chết, vì không người làm chứng cho lời khai của Muỗng. Còn vua, suýt tí nữa đã giết mẹ để giữ ngôi, vì đã quyết tha chết cho Chuyết.

Sáng hôm sau , dân  kinh thành kéo nhau ra pháp trường xem hành quyết quan nhất phẩm triều đình. Đến nơi, ai nấy đều kinh ngạc. Chuyết đang chễm chệ trên lưng ngựa, bên cạnh ngựa của vua. Một đám thợ đang dựng thêm những giá treo cổ làm bằng gỗ trao. Vua đã thấy được mức quan trọng  của lời tấu bày của Chuyết trong bữa thiết triều hôm qua. Là muốn  yên dân  thì phải sửa sang lại pháp trường.

 

THĂNG  QUAN

«Do dạy dỗ vua từ thuở niên thiếu, nên thần rất rõ tính khí vua. Có thể làm bất cứ điều gì vua muốn. Nay lại thêm bọn tham quan hùa nhau xu phụ. Cơ đồ này đang nghiêng ngửa. Trước khi nhắm mắt, thần  chỉ  muốn thấy thái hậu  giữ quyền trị nước, như lời ký thác của tiên vương « 

Ông Bồ Đài bệnh nặng, tưởng không còn sống nổi, đã mật gởi những lời trên đến  bàTương Linh. Thái hậu gượng dậy đọc thư, nước mắt chảy dài. Bà có hai tì nữ thân tín, cũng dòng họ Tương, thì nay đã chết một. Ai mưu hại bà ? Vua có thể làm bất cứ điều gì, nhưng không thể giết mẹ. Bà Tương Linh chẳng đời nào nghĩ đến điều ấy. Còn việc nhiếp chính, thái hậu đã quyết. Khi khỏi bệnh la bà cho hội triều thần truất ngôi Du.

-Hãy gọi vua cho ta.

Thái hậu truyền bảo.

Lập tức, Du đến hầu mẹ.

Bà Tương Linh vẫn nằm trên giừơng bệnh :

-Vua đã tìm được đứa ám hại ta chưa ?

Du vờ đau đớn

-Con thật đắc tội với mẹ già, vì đến giờ vẫn chưa tìm ra thích khách.

Thái hậu không nhìn vua, nói :

-Theo ta, nó là đứa ở trong đám triều thần.

Vua cố dấu nỗi sợ hãi

-Xin thái hậu chớ nghi nan. Hết thảy mọi ngừơi đều yêu nể mẹ và tiên vương.

-Đứa cắp vàng Mi Sơn cũng yêu nể tiên vương ư ? Chúng muốn ám hại ta, vì biết thần dân Chang Lang còn trông cậy vào ta.

Nói đến đây thái hậu kêu mệt, rồi thiếp đi.

Chuyết lại giả trọng bệnh để gọi Mỵ về.

Thấy cha vẫn khoẻ mạnh, Mỵ cay đắng, nói :

-Con cứ tưởng chẳng còn được về đây để viếng phụ thân.

Biết Mỵ chưa thuyết được vua, Chuyết hỏi sang chuyện tì nữ bà Tương Linh

-Ta nghe nói ở dinh thái hậu có thích  khách phải không ?

Mỵ lại cay đắng đáp

-Thưa phải. Triều đình đã đến hồi gần suy vong.

Chuyết giật mình, rồi liền vờ gắt con gái

-Con là phận sửa túi nâng khăn cho vua, sao dám buông những lời hệ trọng.

Mỵ nói

-Kẻ gian ác bất chấp luật nước, nào xén bớt vàng ở Mi Sơn, nào đầu độc mẹ vua,, thế không phải đến hồi suy vong ư ?

Chuyết nghe đắng họng. Song cũng cố dò hỏi con gái

-Mà con có nghe vua nói ai mưu hại thái hậu không ?

-Vua không nói. Song con biết vua  đã rõ đứa gian ác.

Chuyết đùng đùng nổi giận

-Không thuyết được vua thì chớ trở về đây.

Từ bữa đó đến lúc chết, Đam Mỵ không còn đặt chân trở lại ngôi nhà ở ngoại thành Xương Quơn.

Du có vẻ yên lòng, vì bệnh trạng của mẹ mỗi ngày một nặng.

Cơ chính Hiêu Thâm lại được gọi đến gặp riêng vua như thường lệ.

-Ta quyết khai các con đường đi các miền biên ải. Theo khanh, nên giao ai soạn kế sách ?

Sau vụ vàng Mi Sơn, Thâm chán nản, chẳng còn muốn đem tâm huyết giúp vua, nên nói :

-Ở triều có quan tể hầu việc chi cũng làm được, hoàng thượng nên giao cho ông ấy.

-Còn theo khanh, ai sẽ đứng trông coi việc khai đường ?

-Hoàng thượng cũng hãy giao luôn cho ông ta

Thâm đáp như thễ mắng khéo Du.  Song vua chẵng hề tỏ vẻ tức giận

-Làm cơ chính thâm thuý như khanh rất hiếm.Với lại, là chỗ chú vua, khanh còn phải đem lòng ngay thật đối đãi với ta.

Vua nói, thản nhiên như không.Thâm cũng vờ thản nhiên ra về. Sự thật, sau câu nói của vua, Thâm rất lo. Quan cơ chính không về nhà, mà thẳng đến dinh Tố.

-Ở chỗ hoàng thượng ta đến luôn ông đây.

Tố hỏi

-Vua lại gọi quan cơ chính hỏi han gì đấy chứ gì ?

-Phải. Vua định khai các con đường đi các miền biên ải.Và hỏi ta nên giao ai việc ấy.

Tố cau mày.

-Lại khai đường. Sao ông không bảo giao luôn cho thằng Húc ?

-Không giao cho Húc. Mà ta bảo giao cho Chuyết.

Tố reo :

-Ông khá lắm. Nhưng vua nói sao ?

Thâm thuật lại câu của vua. Rồi hỏi :

-Theo ông, liệu hoàng thượng có đè ta không ?

Tố bật cười to :

-Ông coi thế mà hèn. Có gan chơi, phải có gan chịu chứ .

Vua bỗng gọi Chuyết đến chơi bài so. Chỉ chơi tay đôi. Chuyết lo lắm, vì chẳng hiểu vua có ý gì. Mới mở bài, Du tỏ ra phải thắng cho bằng được. Liền sau đó, Du buông lỏng, để mình thua. Rồi ném bài, vờ bực tức.

-Ván này khanh thắng ta chỉ vì may.

Chuyết buột nói :

-Nhưng ván sau thần cũng thắng nữa đấy.

Từ lâu vua đã rõ Chuyết lắm tham vọng. Khi xảy vụ vàng Mi Sơn, Du muốn tha Chuyết, để Chuyết chịu ơn, trở thành con tốt của mình. Song, qua cuộc bài so, Du  thấy Chuyết chẳng hề thay đổi. Được, ngươi cứ việc kiêu căng. Vua tức giận nghĩ .

-Thôi, gác  chuyện chơi bài lại đã. Giờ ta giao khanh một việc hệ trọng.

Quan tể hầu cố dấu sự kinh ngạc trước quyết định quá lớn  của vua

-Tâu hoàng thượng, đắp đường đi các miền biên ải là phải. Có điều, sẽ hao tốn rất nhiều công quĩ triều đình.

-Ta biềt . Nhưng bao giờ thì khanh thảo xong kế sách ?

-Thưa, chậm lắm là mươi hôm.

Sau khi xóa được án rơi đầu, Chuyết tự thấy mình có thể làm bất cứ điều gì. Sự thật, lúc giao ước mươi hôm, Chuyết chưa nghĩ được chút gì về kế sách ấy. Giờ đây, lúc ngồi ở tư dinh, quan tể hầu mới thấy tóat mồ hôi. Nhưng còn đến những ba mươi bốn năm nữa Chuyết mới đầy trăm tuổi, có nghĩa có thừa thì giờ để gầy nghiệp lớn. Nghĩ đến điều này, quan tể hầu bỗng thấy đầu óc trở nên minh mẫn. Đúng mươi hôm, Chuyết thảo xong kế sách. Cả thảy có bốn ngả đi bốn hướng biên thùy. Đường đi biên thùy phía nam giáp ải Xương Linh. Sửa sang ải Kỳ Cơ trên  dãy Nga Sơn để nối với đường đến biên thùy phía tây. Lập một hào thành  ba mươi ngàn dặm ở trấn Bắc Biên để phòng việc xâm lấn của các nước phương bắc. Đường đi biên thùy phía bắc giáp với hào thành này. Khai thêm một cửa ra vô ở biển Đông Biên. Đường đi biên thùy phía đông nối với cửa biển ấy.

-Ta đã có cửa Xương Quơn rộng lớn, sao còn phải mở thêm cứa Đông Biên ?

Xem xong kế sách, vua hỏi.

Chuyết đáp :

-Mở thêm cứa biển để có thêm tàu vô ra.Việc giao thương phát đạt thì nước mới giàu.

-Được. Kế sách coi như đã thảo xong. Nay ta giao khanh đứng trông coi việc khai đường.

Chuyết tái mặt, khi nghe vua phán.

Du đã có chủ đích khi giao việc này cho quan tể hầu. Nếu Chuyết cúc cung tận tuỵ lo xong việc khai đường, vua sẽ nổi tiếng khắp lân bang. Nhược bằng ngựa quen đường cũ, Du có cớ để chặt đầu Chuyết , trừ hậu họa. Sự thật, vua đâu hề hay biết  Chuyết đang mưu nghiệp lớn. Qua việc đắp đường, Chuyết  dự sẵn  hai ngả tiến binh cho Vân Muôi sau này. Thuỷ binh vô cửa Đông Biên. Còn bộ binh qua ải Xương Linh.

Ngay hôm sau, Chuyết cho quân hầu xe hòm vào chầu vua

-Thần đáng tội chém, vì dám chống chiếu chỉ của hoàng thượng.

Hết thảy triều thần đều ngơ ngác trước cách tấu bày của Chuyết.

Du truyền cho bá quan rõ quyết định khai đường của mình. Rồi hỏi :

-Cớ sao quan tể hầu dám trái lệnh ta?

Chuyết vẫn quì

-Thần nay đã sáu mươi sáu tuổi. Rán lắm cũng chỉ sống vài ba năm nữa. Mà việc khai đường phải mất đôi ba mươi năm, làm sao thần có thể đứng trông coi. Thà chết bây giờ để khỏi chết vì tội bỏ dở việc vua giao.

Chuyết vừa dứt lời, Tố quì tâu :

-Trái lệnh vua là chống lại thần Cốc, tội chém. Xin hoàng thượng phán quyết.

Chuyết ngoảnh sang Tố, mỉm cười

-Ngoài tội chống lại thần Cốc, còn tội nhỏ nhen với đồng liêu, phải không ông pháp hình ?

Tố căm lắm, nói to

-Tội trạng của quan tể hầu đã rõ. Xin hoàng thượng hãy mau  xuống chiếu.

Du muốn nhân dịp này dứt Chuyết cho yên, sau đó cử người khác lo việc khai đường cũng được. Nhưng chưa kịp truyền gọi lính đao phủ, Chuyết đã lạy, nói :

-Thần sợ nhắm mắt không yên, nên trước khi chết xin tiến cử người lo việc khai đường. Xưa, Tương Húc là lính hầu của quan kỵ binh Đam Lữ, từng theo quan kỵ binh đi tuyển ngựa khắp đất nước. Người lo việc khai đừơng phải am thuộc sông núi trong nước. Mà ở triều hiện nay chẳng ai hơn Húc. Theo chỗ thần biết, Húc có trí nhớ khác thường. Nhớ từng tên ngọn  núi trên Nga Sơn, Mi Sơn. Nhớ cả việc quan kỵ binh Đam Lữ đã thúc ngựa qua ngả sông nào để kịp về kinh  nhìn mặt kẻ hãm hiếp người vợ trẻ của mình.

-Thôi, đủ rồi. Lấy công chuộc tội, ta tha chết cho khanh. Kể từ nay, thêm chức quan khai lộ, liệt vào võ ban. Truyền cho đương kiêm thủ trấn Nam Biên là Tương Húc  nhận phẩm tước ấy.

Du tức giận, phán. Ván bài so tiếp theo, vua đã thua thật.

Chuyết lệnh quân hầu xe hòm trở về, lòng nghe phơi phới. Quan tể hầu biết vua cử ông lo việc khai đường  là để tìm chỗ sai phạm của ông mà giết đi.

 

THƯ  GỬI  QUAN VĂN  HẦU  KHƯU  CHIÊU

«Trước hết, con xin thưa về chuyện  anh Vi Gia. Ngày đỗ đạt, về làng, cha có dặn con phải hết lòng giúp Gia thoát khỏi cảnh tù đày. Hiện, Gia chịu năm năm lao lý. Quan pháp hình đã tự ý đặt ra lệ ấy. Phải chờ vua ban luật nước con mới cứu được Gia. Nhưng cha đã rõ, theo luật vua ban, Gia chỉ còn cách đến  đền thần Cốc mà kêu. Vừa qua, vua truyền lệnh khai các con đường đi các  miền biên ải, đã cho thả hết phạm nhân để làm lao dịch khai đường. Do vậy, Gia cũng chẳng thể trở về nhà nuôi dưỡng đàn con.

    Thứ đến là chuyện con định thưa với cha từ lâu. Dụ dự mãi, nay mới dám nói ra. Xin cha vì lòng thương con trẻ mà không chấp. Vả, nay tuổi cha đã cao, đến lúc phải hưởng trọn niềm vui của bậc làm mẹ cha. Nói ra điều này con rất đau xót, vì mẹ con đã sớm lìa trần. Con xin  kể sơ qua công việc ở triều, để cha biết con trai cha đương sống ra sao. Dù không cho, hai lính hầu của con cũng cứ gọi con là quan lớn. Kể cũng phải. Văn vũ khanh là quan nhất phẩm triều đình chứ nhỏ đâu. Hôm từ biệt cha trở lại kinh, con tỏ nỗi bất bình về việc anh Vi Gia bị tù đày.Vua liền giao con sọan luật triều. Kế đến cho hội triều thần tròn một tháng để hỏi ý các quan về những điều mục do con soạn. Chừng nghe ban bố luật nước do chính tay vua thảo, mới biết vua có bảo con soạn thảo cũng như đem ra bàn bạc giữa triều thần, là để cho vui thôi. Vừa rồi lại xảy chuyện xén bơt vàng xây đền thần Cốc. Chắc cha đã rõ quan thủ trấn Nam Biên Tương Húc là em rể quan tể hầu Đam Chuyết. Quan thủ trấn đứng trông coi khai mỏ vàng ở Mi Sơn. Còn quan tể hầu thì cho lính hầu  lên Mi Sơn chuyển  bớt vàng về tư dinh  mình. Lúc lấy được mười vạn cân, quan tể hầu sai chôn sống mươi tên hầu lo việc chuyển vàng. Trời bất dung, có một đứa sống sót. Chuyện lộ ra. Cứ tưởng tể hầu Đam Chuyết với thủ trấn Tương Húc phải rơi đầu. Ai ngờ chuyện ngược lại. Hai người chẳng việc chi, mà thủ trấn Nam Biên còn được thăng lên tước khai lộ ở triều để lo việc đắp đường. Chắc cha cũng biết, chỉ vua với quan nội điện mới được lui tới dinh thái hậu Tương Linh..Vậy mà vừa rồi lại có người vào đấy bỏ độc dược vào thuốc bệnh của thái hậu. Một trong hai hầu gái thân tín của thái hậu đã chết vì bát thuốc ấy. Các quan trong triều xầm xì rằng vua đã đầu độc thái hậu, vì sợ khi khỏi bệnh, thái hậu sẽ dành quyền nhiếp chính. Con nghĩ mãi không ra. Ai đời chỉ vì ngôi vua lại đi giết mẹ. Lúc xảy vụ vàng Mi Sơn  thì quan pháp hình Độc Tố ngày đêm lui tới dinh quan cơ chính Hiêu Thâm. Hình như hai ông ấy muốn chặt cho được đầu quan tể hầu. Đến lúc việc không thành, con thấy hai ông có ý muốn tìm cách xa lánh nhau. Vào các buổi chầu, con gắng thử chủ ý từng người, song, chẳng thể hiểu nổi các quan. Vũ hầu Vưu Trấp thì chỉ im, nghe người khác nói. Thống binh Viên Cưu luôn tựa ghế mà ngủ. Lễ nhạc Bào Tu bao giờ cũng nói theo vua và quan nhạc phụ Đam Chuyết. Còn nội điện Hiêu Dật lúc nào cũng như kẻ mất hồn. Hôm sắp xét xử việc cắp vàng, quan vũ hầu có đến thăm, khuyên con nên giữ gìn lời ăn tiếng nói lúc vào chầu. Con liền nghĩ  đến chuyện bè đảng ở triều. Nhưng thưa cha, nếu có bè đảng thì ai đứng phía vua, còn ai dám chống vua ? Hiện thời thì việc quan của con cũng khá thảnh thơi. Làm quan triều hơn năm, con mới hiểu ra việc nước là việc của vua. Lo việc nước là làm sao cho vua ưng ý. Mà con thì khó làm vua ưng ý. E, sẽ gặp chông gai như cha nói. Chi bằng lo liệu trước thì hơn. Dụ dự mãi, nay con mới dám thưa với cha cho con lập gia thất. Quan vũ hầu Vưu Trấp vốn chỗ thân thiết với cha. Bước tới đó ắt dễ dàng hơn nơi khác. Xảy chuyện này là tại con gái quan vũ hầu quyến luyến con trước. Xin cha vì lòng thương con trẻ mà bước tới đó. Thưa ra điều này con biết mình đắc tội với nghiêm đường. Nhưng giữ mãi trong lòng không được. Cưới Xuyên xong, con sẽ cáo quan, lui về quê cày cuốc, phụng dưỡng cha ngày già yếu. Đứa con thất hiếu của cha : Khưu Luân. »

 

VI  GIA  BÁN  CON

Thời Hiêu Du có lệ khắc vào bắp tay tội nhân ở ngục Luân Giao, nơi giam giữ những người chưa đến tội chém. Dùng que sắt nung đỏ, ép vào bắp thịt, khi lành thì thành sẹo. Bị giam lần đầu, khắc ở tay trái. Bị giam lần hai, khắc ở tay phải. Phạm tội lần ba coi như xử chém. Lần đầu tiên Vi Gia bị đưa về ngục Luân Giao. Quan coi ngục đã sơ ý khắc vào bắp tay phải của Gia.

Đọc thư Luân xong, quan văn hầu Khưu Chiêu bảo Gia :

-Thư thằng Luân là thư hạch tội vua. Kẻ mang thư nếu bị bắt sẽ bị tội chém.

Gia vén ống tay áo, để lộ vết sẹo trên cánh tay

-Giờ phạm bất cứ tội chi con cũng bị chém.

Chiêu vô cùng kinh hãi khi nhìn thấy vết khắc trên  cánh tay phải của Gia

-Ta chẳng tưởng nổi nay đám quan quân coi rẻ mạng sống con người đến  thế.

Gia nén khóc

-Mãi khi ra khỏi ngục tù, con mới biết lệ này.

Lúc vua ban lệnh thả hết tù nhân, Luân đã đến ngục Luân Giao đón Gia về tư dinh. Thư Luân gửi cho cha được Gia dấu ở chỗ miếng vá của quần, nên chẳng bị phát hiện Lũ con Gia mừng, quấn lấy Gia. Chúng nào biết rồi đây cha con lại phải cách xa nhau.

Gia đến đình làng để trình hương trưởng.

Vu Xia nói :

-Trên đã tư giấy về. Ngươi ra tù để đi lao dịch khai đường, rõ chưa.

Gia nói :

-Đã trải qua lao lý, sắp tới lại đi khai đường, chẳng biết bao nhiêu năm. Thân này coi như bỏ. Thầy hương trưởng thương tình, giảm bớt thuế thân cho ba đứa nhỏ nhất chưa biết kiếm cái ăn.

Xia nạt :

-Thuế má là lệnh của vua. Chỉ hạng tù tội ngu tối như ngươi mới dám mở lời gàn bậy.

Đêm, Chiêu gọi Gia sang

-Thằng Xia nó hăm lấy nhà của cháu phải không ?

-Thưa phải. Ông hương trưởng khất cháu nửa tháng. Không trả hết nợ thuế thì tịch biên nhà.

Bốn đứa con lớn của Gia đã biết đi cày.Trâu cày là của Chiêu giúp. Mùa lên  không đủ lúa ăn, Chiêu lại cho lúa. Gia bị lao lý hơn hai năm, lũ con Gia nợ triều đình hơn hai ngàn quan thuế thân.

Chiêu lại hỏi :

-Thằng Xia nói thế, cháu trả lời sao ?

Gia đau đớn đáp

-Con chỉ im.

Khưu Châu không  nén được tức giận

-Vu Xia là quan làng .Có làm chi cũng phải nể mặt cha là quan triều chứ.

Chiêu bảo

-Ngặt nỗi, Xia nó cứ chiếu theo phép nước. Không nộp thuế là chống lại triều đình.

-Lũ con anh Vi Gia đói lên đói xuống mà chống ai. Cha bảo lão ta dẹp chuyện ấy đi.

Chiêu thở dài

-Ta là quan triều, nhưng là quan đã về chăn trâu. Có nói, chúng cũng chẳng thèm nghe.

Châu đứng lên, nói to :

-Phải gọi thằng Luân về để trị thằng Xia.

Đêm ấy quan văn hầu không ngủ được. Trời chưa sáng ông đã dựng Khưu Châu dậy.

-Ta đã có cách giúp thằng Gia.Thấy sao hay vậy, cấm không được hở môi cho thằng Luân biết.

Rồi sang gọi cửa Gia.

-Lúc gửi thư cho ta, thằng Luân có dặn cháu điều gì không ?

-Thưa, chỉ bảo phải trao thư tận tay lệnh thúc.

-Như thế là nó không nói chừng nào sẽ về thăm ta ?

-Thưa không. Nhưng lúc chia tay, cậu ấy bảo « thân này cũng bị tù tội chẳng kém anh «,  con chẳng hiểu nói thế là sao.

Chiêu vô cùng lo lắng. Song vẫn làm ra vẻ thản nhiên, bảo

-Kể từ nay, coi như Vu Xia chẳng còn dám đụng đến nhà cửa con cái của ngươi.

Theo kế sách của Chiêu, Gia làm giấy bán nhà bán con cho Chiêu. Mà con cái của quan văn hầu theo luật lệ đương triều  thì được  miễn sưu dịch. Ông đã cứu được  cha con Gia. Nhưng với Luân thì chưa nghĩ được cách. Lập gia thất cho Luân ? Tức chấp nhận cho Luân cáo quan, về quê. Còn nếu làm ngơ, liệu con trai ông có sống nổi ở triều đình thối nát ấy không ?

 

VI  GIA  GẶP  MAY

Cực chẳng đã, Mỵ mới cùng vua lên Vọng Nguyệt Đài. Đêm giữa tháng, nhưng trăng không tỏ.

-Rán chờ lát nữa thôi, ái khanh.

Vua nói.

Hoàng hậu vẫn im.

Ngay bên dưới chỗ Du và Mỵ nằm là đại sảnh. Đám nhạc công đang tấu nhạc. Cung Nguyệt Khuyết như  chìm trong khúc nhạc tì tưa.

Bỗng vua xoay người, thở dài

-Ta thấy chán.

Hoàng hậu ngồi bật dậy trong nỗi kinh  ngạc

-Thần thiếp có điều chi làm hoàng thượng buồn phiền chăng ?

-Không. Ta buồn phiền là buồn phiền chuyện khác kia.

Du ngồi xềp bằng trên giừơng, ngước nhìn  trời, giây lâu mới tiếp :

-Ngày đêm ta không ngớt lo nghĩ việc nước. Chẳng lẽ ta chẳng có thú vui nào khác với thiên hạ ư ?

Hoàng hậu khẽ nắm mấy ngón tay vua

-Thần thiếp chưa hiểu ý hoàng thượng.

Giọng vua đượm buồn

-Ai khanh nghĩ xem. Ngồi nơi đây để nhìn trăng với nghe khúc tì tưa cổ lỗ, thì ta có hơn gì thiên hạ đâu.

-Thần thiếp có thể biết rõ ý của hoàng thượng không ?

-Đem ruột gan phơi giữa chốn này cho ái khanh vui, ta cũng làm nữa là. Phải. Sau khi khai xong các con đường đến bốn cõi biên thuỳ, ta sẽ cho xây ở các chốn đó những gác xem trăng.

Mỵ bỗng nhoài xuống giừơng.

Vua lật đật ôm lấy hoàng hậu.

-Nghe hết lời ta, ái khanh sẽ khỏi mệt ngay. Là thế này. Ở Vọng Bắc Đài, đêm, ta cùng ái khanh  sẽ nhìn thấy được trăng trôi về từ phương trời lạnh lẽo của nước Bắc Mân. Còn Vọng Đông Đài là nơi để nhìn cảnh giao hòa kỳ thú giữa biển  cả và trời cao.

Hòang hậu  vội bước xuống khỏi giừơng, quì

-Khai đường với xây gác xem trăng phả mất đôi ba mươi năm. Thần dân Chang Lang ắt gặp cảnh đói rét chết chóc. Cuối cùng thiên hạ sẽ bảo  rằng vua vì đắm mê thần thiếp nên mới làm các việc ấy. Xin hoàng thượng nghe lời ngay thật của  thần thiếp, bỏ ý định kia đi.

Vua cười ha hả. Rồi đỡ Mỵ đứng lên

-Ta đâu ngu dại để thiên hạ nghĩ thế. Phải. Thân này dù nát, cũng phải làm bằng được điều ta muốn. Đường đến bốn cõi biên thùy với gác xem trăng là dành cho vua và hoàng hậu. Nhưng ta thì xuống chiếu  trưng dân kiến thiết đất nước.

Ngay hôm sau Du cho gọi Chuyết đến hỏi :

-Sao tới nay vẫn chưa thấy Tương Húc vào chầu ?

-Tâu hoàng thượng, là do chưa có chiếu chỉ ai thay ông ta

-Lại còn việc ấy ư ? Thế, theo quan tể hầu thì ai thay được ?

Húc đã bàn tính với Chuyết. Chỉ chờ vua hỏi là Chuyết nói ra ngay.

-Thưa hoàng thượng, theo như bấy lâu, thủ trấn lên quan triều, thì thủ dinh lên thủ trấn.

-Nhưng trấn Nam Biên có những sáu dinh. Theo khanh, nên chọn ai trong sáu thủ dinh ấy ?

Chuyết vờ ngẫm nghĩ, rồi đáp

-Trong bao lần đi kinh lý, thần được biết thủ dinh Xương Tây là người khá nhất.

-Được. Ta cho nó lên quan trấn

Vua phán

Sau buổi xem trăng ở  Cung Nguyệt Khuyết, Mỵ bỗng khó ở. Du lo lắm. Song, vẫn cho hội triều thần để nghe ban truyền kế sách. Điện đền Chuyên Chiết đi Đông Mân  thuê thợ đo đạc, vẽ họa đồ các ngả đường và các gác xem trăng. Văn vũ khanh Khưu Luân coi xét lại các kho lương thảo ở triều  và ở các địa phương. Tể hầu Đam Chuyết tu chỉnh sổ bộ thuế má, binh dân. Pháp hình Độc Tố kiểm lại số phạm nhân  cũ cũng như số mới được thả. Còn các quan khác thì chia nhau xuống các trấn các dinh hiểu thị thần dân góp sức lo kiến thiết nước nhà.

Vua nói :

-Chang Lang ta đất rộng, dân đông. Hôm nay có được giang sơn gấm vóc này là nhờ các tiên triều đã dày công gầy dựng. Nay ta muốn việc đi lại được dễ dàng, nên mới xuống lệnh khai đường. Thần dân các miền biên ải chỉ biết làm lụng khó nhọc, nên ta mới nghĩ việc lập các vọng đài để các nơi đó cũng hưởng được thú vui chơi như  chốn kinh kỳ. Làm quan phải biết thương yêu dân như thương yêu cha mẹ. Nên các khanh hãy đem hết sức mình phụng vụ cho nước.

Vua vừa dứt lời, tể hầu Đam Chuyết quì tâu :

-Chang Lang ta vốn là nước yếu.Thời tiên vương từng bị Vân Muôi xâm lấn. Các triều trước, xa hơn, thì bị Tây Miêu quấy nhiễu. Nay hoàng thượng xuống chiếu trưng dân  kiến thiết  đất nước  là làm cho các lân bang nể mặt nước ta.

Quan khai lộ Tương Húc cũng quì :

-Thần nguyện dốc hết lòng cho việc nước, để khỏi phụ ơn trời biển của hoàng thượng.

Cơ chính Hiêu Thâm chợt đứng lên

-Tâu hoàng thượng, kiến thiết đất nước là việc lâu dài. Muôn dân có ấm no mới làm nổi. Vừa rồi, thủ trấn Tây Biên mật báo về triều, các bộ tộc trên dãy Nga Sơn liên tiếp bị mất mùa, các tộc trưởng cầm đầu đám dân  mạn ngược đánh đuổi quan quân thu thuế. Thần đã mật tấu lên hoàng thượng. Nhưng đến nay vẫn chưa có chiếu chỉ, bảo ban phải làm sao.

Vua giận dữ đứng lên :

-Việc cơ mật triều đình sao khanh dám đem nói nơi đây ?

Du chưa kịp nói gì thêm, thì nội điện Hiêu Dật hơ hải chạy vào đại điện.

-Muôn tâu, đại sự.

Hết thảy triều thần đều kinh hãi lúc Đam Mỵ tiến lên bệ rồng, đẩy Du ra khỏi ngai vàng.

-Ta nay vâng mệnh thần Cốc trị nước Chang Lang.Truyền cho bá quan dẹp bỏ việc khai đường, xây gác xem trăng. Để muôn dân yên ổn, các khanh hãy vì ta mà lo việc nước.

Mỵ ngồi nơi ngai vàng, nói, giọng sang sảng. Rồi ngã xuống, bất tỉnh.

Tin hoàng hậu Đam Mỵ điên loạn truyền đi khắp nơi. Du cho là thần Cốc đã ứng vào hoàng hậu, nên lập tức  bỏ việc khai đường và xây gác xem trăng. Nhưng để giữ thể diện của vua, Du không bãi bỏ chức quan khai lộ. Do vậy Húc chỉ ngồi chơi xơi nước. Còn Vi Gia thì yên ổn sống với đàn con.

 

THƯ  GỬI  VƯU  XUYÊN

   «Trước hết, Xuyên hãy chuyển lời vấn an của ta đến thầy.Thưa với thầy, dẫu Luân này được làm vua một nước, cũng mãi mãi là học trò của người. Tính đến nay ta rời Xuyên Khê đã hơn năm. Mà cảnh cũ thì chưa phút nào nguôi trong lòng. Cứ ngỡ ra làm quan sẽ thõa chí làm trai. Nào ngơ, được mũ cao áo rộng chỉ khiến ta thêm tủi hổ. Giờ đây, con chim Luông chỉ còn mong ngày quay lại mảnh rừng xưa. Gửi thư cho cha, ta có nói rõ ý định của mình. Là sẽ cáo quan, trở về quê, lo việc gia thất. Song, đến nay vẫn chưa thấy cha ta hồi âm. Bao nhiêu lần muốn thưa với quan vũ hầu  cho Xuyên về kinh thăm chơi. Nhưng cứ đắn đo, chẳng dám. Bỡi thân gái dặm trường là điều khó. Thôi thì đành chịu cách xa nhau ít lâu nữa. Xuyên hãy lấy việc học làm vui. Đã luyện được Tô Lư  u khốc chưa. Nói với Điên Giác gắng giúp cho việc học hành. Phần ta thì chẳng thể lấy việc triều đình làm vui. Buồn, rồi tự giận mình .Tự bé lớn ta nào biết quị lụy ai. Vậy mà giờ đây, mỗi ngày một bận vào lạy vua. Ở triều , có quan ngọai điện Nhữ Bột, vốn là lính nấu cơm thời chống Vân Muôi. Con trai ông làNhữ Đạo cùng ứng thí một lượt với ta. Quan ngoại điện được quan tể hầu cử làm quan khảo, cho Nhữ Đạo học trước lời đáp các bài vấn. Khi chấm sơ khảo ở trường văn, ông cho con trai mình đỗ. Vua ngồi ghế chủ khảo đánh rớt. Quan ngoại điện lo sợ, bỏ ăn bỏ ngủ. Còn Đạo uất ức vì không được làm công việc hằng ngày vào lạy vua, treo cổ quyên sinh. Bạn chí cốt của ngoại điện Nhữ Bột là nội điện Hiêu Dật, cũng xuất thân từ lính nấu cơm. Hằng ngày ông ấy phải gặp vua đến bao nhiêu  lượt. Nên ở triều chỉ mỗi ông ta mới được bận áo cao quá gối để tiện bề quì lạy vua. Hôm đi chơi Ngũ Sơn, ta lại quên kể Xuyên nghe một việc. Là trong lần khảo thí vừa qua, quan tể hầu Đam Chuyết ngồi ghế phụ khảo đánh rớt ta, nhưng vua lại cho đỗ. Là quan nhất phẩm triều đình, lại là cha vợ vua, nhưng ông ấy luôn tỏ ra cung kính ta. Sau, có việc thế này ta mới rõ nguyên do. Vua lâm bệnh, gọi quan tể hầu và ta đến bảo « Nay, nước đái ta có chất lạ, nên sinh bệnh, phải tịnh dưỡng, hai khanh gắng lo việc triều chính » Quan tể hầu liền xin nếm thử nước đái vua, rồi bảo, vừa ngọt vừa  thơm, làm chi có chất lạ. Ta có hỏi riêng quan thái y thì quan ấy bảo do tửu sắc quá nhiều, nên vua đã đái ra chất tinh. Quả tình, quan tể hầu rất giỏi việc làm cho vua vui. Ông có tỏ ra cung kính ta cũng chỉ vì vua đã cho ta đỗ đạt. Ở triều lắm điều bất ngờ lắm. Ví như việc  quan lễ nhạc Bào Tu tế sống vua. Bấy giờ đền Cốc xây xong,

vua cho làm lễ nghinh thần. Lễ nhạc Bào Tu mở đầu bài khải tế như vầy « Muôn tâu hoàng thượng, từ cõi anh minh, xin hãy chứng kiến cho lòng thành của muôn dân «  Vua giận quá, đã sai lính triều lôi ông ấy ra đánh hai chục gậy. Ở triều, hầu hết các quan đều có bệnh quen miệng. Hễ mở miệng là « muôn tâu hoàng thượng ». Do vậy mới có chuyện tế sống vua. Ta may là chưa lây bệnh ấy. Song, lại nhiễm bệnh quen tai. Vua gọi quan bao giờ cũng kèm theo phẩm tước. Mà ở triều, phẩm tước của ta là dài nhất. Lúc đầu nghe gọi tên có kèm phẩm tước, ta cũng ngượng lắm. Sau mới biết ,hầu hết các quan triều đều thích được gọi tên kiểu ấy. Có một lần quan vũ hầu than, sao ta lại xuất chính vào lúc này. Nhưng đến nay ta đã hiểu. Đã triều đình , thời nào chẳng thế. Đồ quan ngu. Đấy là câu vua thường mắng các quan. Ta may, từ buổi vào triều đến nay, chưa hề bị vua mắng. Hôm vinh qui, cùng Xuyên đi chơi Ngũ Sơn gần tháng, lẽ ra bị vua hạch tội. Nhưng không. Lúc trở lại triều, vua chỉ hỏi « Khanh có vui không ? ».Từng nghe cha ta kể, vua vốn thông minh và bạo liệt tự thuở thiếu thời. Không bắt tội ta, chắc là vua muốn mở một nước bài so cao kỳ nào đó. Dẫu gì, lần ấy ta cũng là người thắng vua. Một tháng ở Ngũ Sơn dễ gì ta chịu đổi một đời quan ở triều. Mùa này suối Phù Đan đã cạn nước phải không ? Xuyên chớ lấy làm nóng lòng. Sớm muộn cha ta cũng gửi thư hồi âm, cho ta trở về quê lo bề gia thất. Bạn trăm năm của Xuyên : Khưu Luân »

 

LOẠN  NGA  SƠN

BàTương Linh vẫn nằm liệt giừơng. Bệnh của thái hậu là bệnh già. Hằng ngày quan ngự y vẫn đến bắt mạch, kê đơn. Song, Du đã lệnh cho nội điện Hiêu Dật hằng ngày chỉ mang  cho thái hậu chén thuốc giả.

-Ai đem việc triều đình vào nói ở dinh thái hậu sẽ bị tội chém.

Du phán.

Tì nữ bàTương Linh biết rõ mọi việc, nhưng chẳng dám hé môi.

Quốc sư Bồ Đài có gượng dậy ít hôm, sau đó lại ngã xuống.Tuổi ông đã quá cao, nên cũng khó qua khỏi.

Vua hỏi cơ chính Hiêu Thâm

-Hiện đám dân mạn ngược ở Nga Sơn có sáu mươi tư bộ tộc. Khanh có rõ bộ tộc nào làm loạn không ?

Thâm đáp :

-Theo tấu bày của thủ trấn Tây Biên thì hết thảy đều nổi dậy.

-Làm quan trấn để dân làm loạn không còn là quan. Ta truyền lột chức tước, đuổi về dân

Du nổi giận, phán.

Thâm vội can ngăn

-Cất chức là phải. Song, Tây Biên đương rối rắm, có cử ai tới thay cũng lạ nước lạ non, chẳng vỗ yên  được dân tình. Chi bằng, hãy tạm để đấy, bình định giặc xong sẽ liệu.

-Thế theo khanh, bình định cách  nào ?

Thâm ngẫm nghĩi rồi đáp :

-Dân Nga Sơn làm loạn, cả nước đều biết, không còn là việc cơ mật. Xin hoàng thượng hãy trưng cầu mưu lược của các quan triều.

Du cho là phải, liền hội triều thần.

Khưu Luân tấu bày trước tiên

-Nga Sơn nổi loạn là do mất mùa, đói kém. Trừ xong gốc, ắt loạn sẽ yên.

Vua hỏi

-Theo khanh, thì trừ cách sao ?

Luân đáp

-Vừa rồi vâng mệnh hoàng thượng, thần đi mất tháng trời, thấy các kho lương thảo ở các trấn các dinh cũng đầy ắp ngũ cốc như các kho lương thảo ở triều. Nay, nếu vua xuống chiếu, mở các kho thóc, đem phân phát cho dân Nga Sơn, ắt loạn sẽ yên.

Nội điện Hiêu Dật lật đật lạy vua

-Muôn tâu, quả thật các kho lương thảo triều đình còn đầy. Song, thần  đã tính kỹ, chỉ đủ phân phát cho các quan triều.

Pháp hình Độc Tố cũng quì

-Lời tấu bày của quan văn vũ khanh rất hay. Có điều, lương thảo triều đình có hạn. Chi bằng, lệnh các địa phương, trích mỗi nơi một ít, góp lại thành nhiều, đem lên Nga Sơn phân phát. Xét cho cùng, thóc gạo nơi đầu cũng là của vua.

Lễ nhạc Bào Tu, ngoại điện Nhữ Bột, điện đền Chuyên Chiết cùng quì :

-Muôn tâu, lời quan pháp hình nghe chí phải. Xin hoàng thượng chớ cho mang thóc triều đi nơi khác.

Vua nạt

-Ta đâu đã đụng đến thóc triều, các ngươi làm ầm lên thế.

Rồi quay sang Vưu Trấp, Viên Cưu

-Đây là việc binh, ta muốn nghe ý của quan vũ hầu và quan thống binh

Cưu đang tựa ghế ngủ, nên Trấp nói trước

– Tâu hoàng thượng, theo thiển ý thần, có hai cách bình định Nga Sơn. Một là chia bớt thóc triều cho đám dân đang gặp đói kém. Hai là các quan phải cầm gươm lên ngựa.

Cưu đã tỉnh ngủ, đứng lên, tiếp lời Trấp

-Thần nay già rồi, nếu chết ở sa trường lại đỡ thóc gạo của vua.

Tể hầu Đam Chuyết liền quì

-Muôn tâu hoàng thượng, giả dụ Nga Sơn làm loạn vì đói kém, thì cũng chớ vội đem thóc gạo phân phát. Trước phải trị tội gây rối, sau mới tế độ. Còn có cử binh cũng chỉ đi đánh loài giặc  núi, chưa phải lúc hết thảy quan triều lâm trận. Theo ý thần, phải xem xét kỹ nguyên do làm loạn, sau đó mới định liệu.

Lập tức Hiêu Thâm được vua phái trở lại Tây Biên. Nghe có quan triều kinh lý, tộc trưởng Bơ Man liền cho người đến trấn đường Tây Biên xin gặp. Thâm hoảng sợ, lệnh quan thủ trấn đuổi sứ giả, và đóng chặt các ngả vào trấn đường. Nhưng hôm sau một sứ giả khác đã đột nhập vào chỗ ở của quan cơ chính. Cũng nhờ thế mà Thâm mới rõ tình hình các bộ tộc trên dãy Nga Sơn. Một là do đám quan quân triều đình  giết hại người Nga Sơn lúc khai vàng và đá quí để xây lăng tẩm ở kinh. Lúc rút về lại cướp bóc của cải dân chúng mang đi. Hai là do mất mùa đói kém, các bộ tộc xin miễn thuế rừng thuế thân  không được, còn  bị quan quân Tây Biên bắt bớ đánh đập.

Quan cơ chính đi về, mật tấu với vua. Du nổi giận, sai Chuyết thảo kế sách trừ giặc. Quan tể hầu mừng thầm, vì đây là dịp để trả thù riêng. Chỉ trong hai hôm ông đã nghĩ ra mọi thứ.

Vua cho hội triều thần, nói

-Theo kế sách của quan tể hầu, thống binh Viên Cưu chẳng còn minh mẫn, chớ nên lâm trận là phải. Vũ hầu Vưu Trấp dạn dày trận mạc làm thống binh, văn vũ khanh Khưu Luân làm đốc binh, xét ra cũng phải. Có điều, cơ chính Hiêu Thâm với pháp hình Độc Tố cũng lâm trận thì ta chưa hiểu

Chuyết lật đật quì

-Thưa, đây là dẹp nội loạn, nên phải có quan cơ chính góp mưu lược. Còn quan pháp hình thì giúp giữ kỷ cương trong quân.

Sự thật, vua quá rõ thâm ý của Chuyết, nên chỉ vờ đem ra nói giữa triều thần thế thôi. Theo Du, Thâm, Tố tuy hèn nhát, nhưng trung thành. Trấp già yếu như  Cưu, nếu cử làm thống binh, sẽ mang tiếng với đời. Có hai kẻ nên lâm trận, thắng giậc hoặc bỏ mạng ở sa trường, đều có lợi cho Du.

Sau hồi im lặng, vua phán :

-Nay đám dân Nga Sơn có ý chống lại thần Cốc. Ta truyền cử hai vị quan cao nhất triều thống lĩnh trăm quân  đi trừ giặc. Văn vũ khanh Khưu Luân  kiêm giữ thống, đốc binh. Tể hầu Đam Chuyế lo việc cơ mật trong quân.

Du vừa dứt lời, Chuyết quị ngã xuống sân chầu.

 

CUỘC  GẶP  MẶT  KỲ  THÚ

Trấp nói :

-Ta rất lo, vì mỗi cháu cầm quân ra trận. Mà lại chỉ vẻn vẹn trăm quân.

Luân thưa :

-Cháu may được thầy truyền dạy các cách điều binh. Có lúc lấy đông áp đảo giặc. Mà cũng có khi lấy ít thắng nhiều. Vả, đây đâu phải là giặc.

-Phải, cũng chỗ cốt nhục đồng bào, chỉ không ưng ý mà thành loạn. Ta lo là điều khác kia

-Điều chi, thưa quan vũ hầu ?

Trấp muốn nói toạt ra thâm ý của vua, nhưng thấy không tiện, nên chỉ nói :

-Nay Đam Chuyết lâm trọng bệnh, việc quân chỉ còn  mỗi cháu. Do đó phải hết sức cẩn trọng. Yên  loạn quay về khắc sẽ rõ điều ta lo  lắng.

Lần đầu tiên Vưu Cơ thấy Luân ngồi trên yên ngựa. Con kim mã Luân chọn được trong đàn ngựa chiến của triều, vừa đẹp vừa oai vệ. Cô cháu gái quan vũ hầu cứ thầm ước mình là Vưu Xuyên. Lúc tiễn Luân ra đền cổng, Cơ hỏi :

-Chừng nào thì xuất quân ?

Luân gò cương ngựa

-Sáng mai. Vào lúc mặt trời lên.

-Nhưng đã báo tin cho chị ấy hay chưa ?

Luân vờ nghiêm mặt

-Chị nào ?

Cơ lặng lẽ tiến lên, quì trước đầu ngựa

-Nay anh cầm quân ra trận, là việc hệ trọng. Tuy anh chị chưa thành  phu thê, song, em vẫn tự coi mình là nghĩa muội của anh. Không có chị, em thay, gọi là để tiễn đưa.

Luân vội nhảy xuống ngựa, đỡ lấy Cơ.

Cô cháu gái quan vũ hầu nước mắt rưng rưng

-Anh sắp vào nơi tên đạn, làm sao em không lo.

Trong số trăm binh triều ra trận, có hai lính kỵ binh là quân hầu của Luân. Một giữ cờ. Một mang trống trận. Cờ có hàng chữ vua ban « Văn vũ khanh Khưu Luân kiêm giữ thống đốc binh bình loạn Nga Sơn » 

Đến ngả vào Xuyên Khê, Luân cho dừng quân, im trống. Rồi lệnh

-Đem cờ trận đến cho ta.

Tên hầu giữ cờ khiếp vía, khi thấy Luân lấy bùn đất bôi mất phần chữ bình loạn Nga Sơn.

-Thưa quan thống binh, làm thế ắt bị tội khi quân

Luân nạt

-Ở đây ta là vua của lũ ngươi, rõ chưa

Liền sau đó, Luân lệnh cho tên hầu giữ trống tức tốc phi ngựa đến Xuyên Khê. Việc binh là trọng, chẳng thể ghé thăm, Luân chỉ biên thư báo cho thầy mình hay. Đến ngả vào Xuyên Lâm, Luân lại dừng quân. Rồi cho tên hầu giữ trống mang thư báo tin đến quan văn hầu Khưu Chiêu. Đoàn quân đi mất một ngày đêm thì đến trấn đường Tây Biên. Bấy giờ là vừa rạng sáng. Các cửa vào trấn đường đều đóng chặt. Luân phải cho lính trèo lên cây cao gọi, mới có người ra tiếp

-Thần đáng tội chết. Xin quan thống binh gia ân, dung mạng.

Thủ trấn Tây Biên quì , lạy

Luân xuống ngựa, hỏi

-Cớ sao không tiếp binh triều mà đóng chặt các cửa thành ?

Thủ trấn Tây Biên vẫn còn run

-Thưa, đám dân mạn ngược vừa rút khỏi đây hồi quá nửa đêm. Cả trấn đường chưa hết kinh động.Vì lẽ sống còn của đất Tây Biên, xin quan thống binh ra tay trừ loạn.

Luân nén cười

-Thôi, hãy đứng lên, nói cho ta rõ. Vì đâu Nga Sơn làm loạn ? Và hiện thời quan trấn giam giữ bao nhiêu người ?

Thủ trấn Tây Biên vẫn quì

-Đám dân Nga Sơn u tối, hung hăng. Chúng dám chống lại lệnh thuế của triều đình, nên quan quân trấn đường bắt giam hơn ngàn đứa.Vừa qua cả mấy chục bộ tộc họp lại kéo tới đây đòi thả những người ấy. Xin quan trên minh xét.

Luân nói

-Hoá ra các người còn u tối hung hăng hơn đám dân mạn ngược. Mùa mất, cơm chẳng no, lấy chi nộp thuế. Hãy đưa hết bọn họ đến cho ta

Lúc đám tù nhân đã tề tựu trước đoàn quân đang bồng gươm đứng uy nghi, Luân nhảy lên lưng con kim mã, nói to :

-Xin chào những người Nga Sơn thân thiết.

Đám tù nhân cũng cùng hô

-Xin chào quan triều.

Luân vẫy tay làm hiệu

-Hãy đưa nó đến đây

Lập tức cơ trưởng đội vệ binh của trấn đường Tây Biên được dẫn tới trước mọi người.

-Lột mũ áo.

Luân lệnh

Cơ trưởng vệ binh khóc, nói :

-Thần chỉ làm theo lệnh thuế của triều. Ngặt nỗi, đám dân  mạn ngược cố chống lại quan quân trấn đường, nên buộc lòng phải bắt giam chúng. Xin quan trên xem xét, miễn tội cho thần.

-Triều đình nào bảo ngươi bắt những người không cơm ăn phải nộp thuế ?

Luân nạt. Rồi lệnh giam anh ta vào ngục.

Đám tù nhân nhảy múa, hò reo.

Trước khi lên đường đi Nga Sơn, Luân gọi thủ trấn Tây Biên hỏi :

-Làm quan mà hà hiếp lương dân thì bị tội chi ?

Quan trấn ấp úng

-Thưa, là tội chống lại thần Cốc

-Ta muốn hỏi về hình phạt kia

Quan trấn tái mặt

-Thưa, bị tội chém

Luân ung dung bảo

-Giờ hãy giao tên cơ trưởng ấy cho ta. Còn ngươi thì chờ triều đình xét xử.

Hết thảy các bộ tộc trên dãy Nga Sơn đã tề tựu ở làng Bơ Man. Đám rừng trao cạnh làng dày đặc những người mang gậy gộc dáo mác. Tộc trưởng Bơ Man vai đeo cung tên, đầu đội khăn luýt, đứng trên chòi cao hỏi lớn :

-Xin cho biết, quan triều mang binh lên đây chi ?

Luân lệnh giương cao cờ hiệu, rồi đáp

-Ta là quan văn vũ khanh của triều đình vâng mệnh vua đến thăm những người Nga Sơn thân thiết.

Tộc trưởng Bơ Man tháo  cây cung khỏi vai

-Đến thăm, sao lại đem theo binh lính ?

Luân vẫn ngồi trên yên ngựa

-Là để đem lương thảo giúp cho dân Nga Sơn  lúc mất mùa đói kém.

Lập tức, đám binh triều mang những bọc lớn  đặt xuống trước mặt mọi người. Muối, gạo Luân đã cho lấy ở kho lương thảo của trấn đường Tây Biên.

Tộc trưởng Bơ Man thét

-Coi chừng trúng kế chúng nó đấy.

Luân vội nhảy xuống ngựa

-Mau đem tên cơ trưởng đến đây

Đám dân mạn ngược bỗng thét vang  lúc trông thấy kẻ cầm đầu đám quan quân thu thuế

-Hãy giết nó thôi.

Tiếng thét dội vào ngàn cây.

Luân vội nói lớn

-Con hổ rừng Bơ Man không ăn thịt con hổ rừng Luốc Bưa. Nên người Nga Sơn cũng không nên ăn thịt người dưới xuôi. Nay triều đình xin giao nó cho người Nga Sơn, để người Nga Sơn dạy nó làm nương rẫy. Bớt đi một đứa quan ngu. Nhưng lại thêm một người làm ra hột lúa.

Mấy ngàn dân Nga Sơn ôm nhau hò reo.

Chỉ trong mươi hôm, một trăm binh triều đắp xong đập chắn trên suối Bơ Man

Luân nói với các vị tộc trưởng

-Có đập chắn rồi, tất có nước. Làng Bơ Man không còn sợ nắng hạn, mất mùa. Các làng khác cũng bắt chước mà làm.

Luân cùng đám binh triều lưu lại Nga Sơn tròn nửa tháng. Hôm trở về kinh, sáu mươi tư vị tộc trưởng tiễn đoàn quân ra tận suối Bơ Man. Một trăm lẻ một vò ruợu  nấu bằng củ moi đã được đặt sẵn nơi bến suối.

-Xin uống ruợu núi, để nhớ người Nga Sơn. Kể từ nay, hết thảy đều là anh em một nước.

Các vị tộc trưởng đồng nói. Rồi thay nhau uống với Luân và các binh triều. Ở trong làng, mấy ngàn dân của mấy chục bộ tộc cũng đang uống với dân làng Bơ Man. Tiếng ca hát hoà lẫn với tiếng trống chiêng.

Lúc đoàn quân đã rời xa bến suối, Luân ngoảnh lại nhìn thì thấy tộc trưởng Bơ Man đang đuổi theo, gọi

-Hãy chờ ta

Luân mở thử chiếc bọc ông Bơ Man trao, thì thấy những củ moi đã nấu chín.

 

VIỆN  BINH

Vua hỏi quan cơ chính :

-Nay loạn Nga Sơn đã yên.Theo khanh, có nên  cất chức thủ trấn Tây Biên không ?

Thâm đáp

-Muốn bề tôi hết lòng vì nước, vua phải thưởng phạt công minh. Theo ý thần, đây là lúc hoàng thượng nên phân định công tội những người có trách vụ đối với loạn Nga Sơn.

Vua nghe phải, liền hội triều thần, ban truyền chỉ chiếu.

-Bình định Nga Sơn là công lớn của quan văn vũ khanh và các binh triều. Nay thửơng cho mỗi binh triều năm mươi cân vàng. Riêng Khưu Luân thăng văn vũ công khanh. Thủ trấn Tây Biên để dân làm loạn, bị cất chức đuổi về dân dã.

Đam Chuyết lạy vua

-Thần rủi ro lâm trọng bệnh, không gánh vác được việc nước, mong hoàng thượng gia ân thứ tội

Vua chỉ cười, bảo Chuyết đứng lên

Nhưng quan tể hầu vẫn quì

-Muôn tâu hoàng thượng, thủ trấn Tây Biên là người trong hoàng tộc, cả đời lo phụng sự vua, nay chỉ vì việc rợ Nga Sơn là việc nhỏ mà bị cất chức, thần e sẽ làm náo động bá quan.

Vua chưa kịp nói gì đã thấy Luân đứng lên

-Việc bình định Nga Sơn là trách vụ của thần. Làm tròn việc ấy đâu phải là công lớn đối với muôn dân. Nay bỗng đặt ra phẩm tước mới ban tặng thần, e sẽ bị bá quan cho là hoàng thượng thiên vị.

Chuyết lại lật đật lạy vua

-Có công thì thưởng, có tội thì phạt. Thần xin cúi đầu bái tạ sự công minh của hoàng thượng. Chỉ có điều thần chưa rõ, tước văn vũ công khanh liệt vào đâu trong hàng quan triều .

Vua cười, bảo

-Ta biết khanh đương lo. Mai kia quan tể hầu lập được công to, ta cũng sẽ ban cho tước  tể công hầu.

Lệnh vua chưa kịp truyền đi, thủ trấn Tây Biên đã về đến triều. Là người trong hoàng tộc, nên  Hiêu Căn được đến gặp riêng vua.

-Ngươi vác xác về đấy  ư ?

Du giận dữ hỏi

Căn vội vã quì

-Thần đáng tội chết. Nhưng trước khi chết, quyết không để cho đứa khi quân nhởn nhơ trước mặt vua.

-Ngươi nói ai khi quân ?

Vua nạt.

Căn nâng thanh bảo kiếm lên ngang mày

-Trước khi thọ tội, xin hoàng thượng cho kẻ tội đồ này được giết Khưu Luân, kẻ dám xóa cờ hiệu vua ban.

-Xóa cờ hiệu của ta ?

Du thét, nhảy xuống khỏi giừơng vua.

Căn vẫn quì

-Tâu hoàng thượng, lúc quân triều đến trấn đường Tây Biên, thần lấy làm lạ, vì trên cờ hiệu vua ban chỉ có phẩm tước của Khưu Luân. Hỏi mới biết Luân đã lấy bùn đất bôi mất lệnh bình định loạn Nga Sơn  của hoàng thượng.

-Đã đến lúc phải chết rồi ư ?

Thủ trấn Tây Biên lộ vẻ kinh ngạc, vì vua bỗng mỉm cười, thốt ra lời ấy.

Căn vừa trở lại dịch xá thì Chuyết đến. Thấy quan thủ trấn  có vẻ lo lắng, Chuyết nói liền :

-Ta đến cứu ông đây

Căn lật đật quì

-Thần mang tội lớn với triều đình. Mong quan tể hầu cứu giúp.

Chuyết phẩy tay

-Hãy đứng lên đi. Chuyện  của ông ta gỡ được.

Sau khi đuổi hết quân hầu, Chuyết rút từ ngực áo ra tờ tấu thư chép sẵn

« Thần cả đời nguyện đem máu xương vun đắp cho vương triều họ Hiêu bền vững. Nhưng vừa qua gặp chuyện chẳng may, là cầm quân trấn không chống nổi mấy ngàn rợ Nga Sơn hung bạo, khiến dân tình Tây Biên rối rắm. Đó là tội lớn đối với triều đình. Song, lại có quan văn vũ khanh Khưu Luân dám làm điều xằng bậy giữa lúc đem binh triều đi trừ giặc. Một là, dám xóa cờ hiệu vua ban. Đi trừ loạn, nhưng lại lột mũ áo của quan vệ binh ở trấn đường, người từng mang quân trấn đi dẹp loạn. Hai là, dám đem binh triều lên núi Nga Sơn, đắp đập Bơ Man , dẫn nước về ruộng đồng cho giặc. Khi sắp quay về lại bắt binh triều ngồi chung chiếu uống ruợu cùng giặc. Là dòng tộc họ Hiêu, thần cúi mong hoàng thượng chiếu luật triều trị tội kẻ phản nghịch. Nay tấu trình .Hiêu Căn » 

Chờ Căn đọc xong, Chuyết bảo

-Hãy ký vào đi

Thủ trấn Tây Biên xám mặt

-Nhưng khi vua nghe tấu thư này, cả Khưu Luân lẫn thần đều bị rơi đầu.

Chuyết nạt

-Vua chẳng chém ngươi đâu mà sợ.     

Du cho hội triều thần. Nghe Căn đọc tấu thư  xong, vua phán

-Các khanh đã rõ sự tình. Giờ cứ chiếu luật triều xét xử. Hiêu Căn đang giữ thủ trấn Tây Biên, việc luận tội là của pháp hình Độc Tố.  Khưu Luân là quan nhất phẩm, việc luận tội ta giao cho tể hầu Đam Chuyết.

Triều thần chợt im như chết.. Thật lâu sau, pháp hình Độc Tố đứng lên

-Muôn tâu hoàng thượng, thủ trấn Tây Biên đã tự nhận lỗi lầm. Chỉ còn chờ vua định tội.

Du nói

-Cuối cùng là do ta định đoạt. Song, quan pháp hình phải xét lỗi lầm ấy thuộc tội hình chi

Căn nhìn sang phía Thâm, cầu cứu.

Quan cơ chính liền đứng lên

-Tâu hoàng thượng, làm quan trấn để dân làm loạn, tất phải bị cất chức. Song, xét cho cùng, binh lính trấn đường Tây Biên  chẳng thể chống nổi mấy ngàn rợ Nga Sơn. Nay loạn đã yên, mà Hiêu Căn xưa nay vốn hết lòng với nước, xin hoàng thượng suy xét, giảm khinh.

Chuyết quì mọp trước vua

-Muôn tâu hoàng thượng, triều đình vững chải là nhờ lòng trung kiên của bá quan. Theo thần, thủ trấn Tây Biên vốn dòng hoàng tộc, bấy lâu hết lòng với đương triều.  Nay có thay ai cũng chẳng bằng ông ấy.

-Thôi được. Tội của Căn chờ ta phán quyết.

Vua vừa dứt câu, Chuyết đã tiếp

-Nay Nga Sơn tạm yên. Song, theo thần, việc  im hơi ấy thật đáng lo. Cứ theo tấu thư của thủ trấn Tây Biên thì vừa qua quan văn vũ công khanh đã câu kết với giặc. Biết đâu, việc im lắng hôm nay là để sửa soạn cho cuộc khởi loạn mai sau.

Vũ hầu Vưu Trấp chợt đứng lên

-Tâu hoàng thượng, nếu quả Nga Sơn đang ngầm khởi lọan như  quan tể hầu nghĩ, theo thần, cũng chỉ ông ấy mới biết cách  tảo trừ. Vậy xin hoàng thượng hãy cử quan tể hầu cầm quân tây phạt, sớm chừng nào hay chừng nấy.

Trấp vừa dứt lời, Chuyết đã quị xuống sân chầu. Lễ nhạc Bào Tu phải chạy đến đỡ, ông mới đứng lên nổi.

Khưu Luân dõng dạc nói trước bá quan

-Một trăm binh triều làm sao đương nổi mấy ngàn dân Nga Sơn. Mà gươm đao cũng không thể khuất phục kẻ đói cơm. Xóa bớt chữ bình loạn trên cờ là làm theo binh pháp lấy ít thắng đông. Thần có sửa cờ hiệu vua ban cũng chỉ vì muốn yên loạn như vua muốn, sao lại nói có tội. Đắp suối Bơ Man, dẫn nước về cho trăm họ làm ăn no đủ là làm theo kế sách vỗ yên dân, người Nga Sơn sẽ ngàn đời chịu ơn vua, sao lại nói phản nghịch ?

Thủ trấn Tây Biên vội vã quì

-Theo thần biết, tự ngày vương triều họ Hiêu định lập, chưa có quan triều nào dám đem binh triều ngồi chung chiếu uống ruợu cùng giặc.

Chuyết đã trấn tỉnh lại, cũng vội vã tâu

-Tội khi quân là tội chém. Xin hoàng thượng hãy mau xuống chiếu.

-Đây là việc binh, nên ta muốn nghe ý kiến của  quan thống binh.

Du liếc thấy Cưu đang tựa ghế ngủ. Nhưng lai có quan ngọai điện hối hả vào quì

-Muôn tâu, có sứ giả Di Vang muốn vào chầu hoàng thượng

Du lập tức truyền  cho vào

Chuyện là thế này.Vua Xua Lôi mua súng đạn của Đông Mân trang bị cho binh triều. Đạn nổ đau tai, binh triều bỏ trốn cả. Nhà vua buộc lòng phải dùng lại cung tên, rồi sai người sang mua mũi tên có bịt đồng của nước Di Vang. Đông Mân liền cử binh đánh Di Vang.

Sứ giả lạy Du, rồi nói :

-Nay nước nhà thần gặp đại nạn, thần sang đây là để nhờ giúp cho viện binh. Nếu hoàng thượng thương tình cứu giúp, thì cứ  một trăm quân đổi lấy một thuyền buôn. Binh lính Chang Lang sang giúp Di Vang hưởng lương bỗng y như binh lính Di Vang. Xong giặc, hết thảy sẽ trở về nước. Kẻ còn sống và cha mẹ vợ con những người tử trận sẽ được hưởng bỗng lộc của nước Di Vang cho đến trọn đời. Hai nước chúng ta vốn giao hảo từ lâu, thần nghĩ hoàng thượng không nỡ chối từ lời thỉnh cầu của thần

Hiêu Du từng muốn lân bang nể mặt, nay lại có dịp để thực hiện ý đồ ấy, nên ưng thuận ngay.

-Hãy mang sang đây năm trăm thuyền buôn để đổi lấy năm vạn quân.

Du nói. Rồi truyền cho sứ giả lập khế ước để hai nước  cùng theo đó mà thi hành.

Lệnh trưng binh lập tức được truyền đi khắp nước Chang Lang. Con trai từ mười sáu đến hai mươi đều phải về kinh dự hội tuyển quân. Chỉ trong năm hôm, triều đình đã tuyển được năm vạn  trai tráng khoẻ mạnh nhất nứơc.

Du liền hội triều thần, phán

-Vịên binh của ta nay sang Di Vang, trước giúp nước ấy chống giặc, sau là để tỏ rõ sức mạnh của Chang Lang ta. Nay truyền xóa tội cho văn vũ công khanh Khưu Luân , để nhận chức thống binh cầm đầu năm vạn binh triều sang giúp nước Di Vang. Điện đền Chuyên Chiết cùng ngoại điện Nhữ Bột tức tốc lo việc tu sửa cửa Xương Quơn để đón thuyền tàu nước bạn. Truyền con ta là thái tử Hiêu Thuông thôi giữ thủ trấn Đông Biên, tức tốc trở về triều nhận tước quan khai hải, thống giữ năm trăm tàu thuyền, lo việc giao thương buôn bán. Các khanh hãy đem hết sức mình phụng vụ nghiệp lớn của đương triều.

Kinh thành Xương Quơn đầy tiếng khóc của các bậc cha mẹ sắp mất con. Những người già bất chấp lính cấm vệ, chống gậy xông vào dinh thái hậu Tương Linh. Đã từ lâu, bà thái hậu chẳng còn đi đứng nổi. Nay xảy việc hệ trọng, bà chẳng thể nằm im trên giừơng bệnh.

-Lấy bảo kiếm cho ta. Và đưa ta đến đại điện.

Bà Tương Linh lệnh.

Vua cùng sứ giả Di Vang đang ăn luốc hầm ở Cung Nguyệt Khuyết, thì nghe trống triều thúc. Du hoảng hốt bỏ mặc sứ giả, chạy đến đại điện. Thì thấy đã đủ mặt bá quan. BàTương Linh đang nằm trên giừơng bệnh. Giừơng đặt trên ngai vàng, có hoàng hậu Đam Mỵ đứng hầu bên. Chẳng hiểu chuyện chi, vua đứng chết lặng giữa sân chầu.

Thái hậu  bảo Đam Mỵ đỡ mình ngồi dậy trên giừơng :

-Nay truyền cho bá quan rõ. Hiêu Du con ta bấy lâu ỷ là vua một nước, bất chấp lời răn bảo của ta, làm bao nhiêu điều trái với đạo lý tổ tiên. Làm vua mà để muôn  dân trong nước lầm than, ta oán, thì không thể ngồi thêm ở ngai vàng một khắc một giây nào nữa. Theo lời ký thác của tiên vương, nay ta lên ngôi cửu ngũ, để trị vì đất nước. Truyền bá quan tức tốc làm các việc : Một là trả sứ giả cùng năm trăm tàu thuyền về nước Di Vang. Hai là bãi việc viện binh, cho năm vạn trai tráng trở về quê cũ làm ăn. Kể từ nay, các quan đương triều ai nấy giữ phẩm tước cũ của mình. Việc triều chính nhất nhất phải theo khuôn phép tiên vương đã dày công gầy dựng. Riêng Hiêu Du con ta phải trở lại thọ giáo quốc sư Bồ Đài. Học cả việc làm con cha mẹ, làm dân một nước, và làm vua ở triều. Đến khi ta chết thì con ta mới được lên ngôi kế vị.

Bà thái hậu vừa nâng thanh bảo kiếm lên, vừa nói trước bá quan. Nói xong những lời trên thì ngã xuống giừơng, chết.

 

HỘI  VUA

Hiêu Du làm đám tang mẹ theo nghi lễ vua chết. Chính Du thảo ai điếu, đọc trước quần thần, lời lẽ rất thống thiết. Lúc thi hài bà Tương Linh sắp được đưa xuống huyệt mộ cũng là lúc Du cho hội triều thần  ở đại điện để làm lễ lên ngôi.

-Vừa qua, mẹ ta có truất ngôi ta, đấy chẳng qua là sự thử thách của thần Cốc. Giờ đây, tiên đế, tức mẹ ta, đã về chầu tổ tiên, ta lên ngôi kế vị như lời truyền dạy của ngừơi. Kể từ nay, và mãi mãi, ta là vua nước Chang Lang.

Chuyết quì

-Thần có đọc qua sử sách nhân quần, song, chưa thấy vua nước nào có đế nghiệp như hoàng thượng. Hai lần được truyền ngôi, hai lần kế vị vua cha và vua mẹ. Tiên vương và tiên đế sẽ an vui nơi tiên cảnh, vì đã có hoàng thượng trị vì đất nước Chang Lang. Đế nghiệp của hoàng thượng lớn lao thế, theo ý thần, kể từ nay nên lập thêm vương hiệu.

-Tức  phải đặt thêm tên hiệu của ta ?

-Thưa phải

Chuyết đáp.

Vua ngã lưng tựa ngai vàng, vẻ nghĩ ngợi.

Vũ hầu Vưu Trấp chau mày, nhìn sang Khưu Luân. Rồi thúc cùi vào quan thống

binh đang tựa ghế ngủ

-Hoàng thượng gọi ông kìa.

-Thưa phải.

Cưu mở mắt, đáp. Rồi tựa ghế ngủ lại

Vua chợt thở dài.

Chuyết vẫn còn quì, vẻ lo sợ

-Muôn tâu, thần có lời chi sơ xuất, cúi mong hoàng thượng thứ dung.

-Không. Ta chợt nghĩ đến sự ngắn ngủi của đời ngừơi, nên lại sợ chưa làm hết những điều hằng muốn.

Vua nhìn bá quan, nói.

Trấp thấy Luân nháy mắt ra hiệu, nên đứng lên.

-Xin hoàng thượng chớ nghĩ đến  cái chết. Điều chắc chắn là muôn đời sau  vẫn còn nhớ đến đế nghiệp của hoàng thượng.

Vua trừng Trấp. Nhưng cũng liền tỏ ôn tồn

-Nhưng theo khanh, ta nên  đặt vương hiệu là gì ?

Trấp đáp

-Việc trọng đại ấy, hoàng thượng nên hỏi quan tể hầu

Chuyết nói liền

-Hoàng thượng nay đâu khác chi bậc thánh sống. Nên theo ý thần , hãy lấy vương hiệu là Thánh Vương.

Du cười ha hả. Rồi truyền bãi chầu. Các quan lục đục kéo nhau ra về. Hết thảy đều lặng lẽ như lúc đưa tang bà thái hậu.

Quốc sư Bồ Đài gượng dậy, nói

-Thần nay như chết chưa chôn. Chẳng còn bao lâu nữa sẽ theo chầu tiên vương cùng tiên đế.

Đam Mỵ đỡ quốc sư nằm xuống giừơng lại

-Xin chớ giữ lễ. Nay có điều muốn thỉnh ý quốc sư, nên Đam Mỵ tôi mạo muội đến đây.

Ông Bồ Đài đưa mắt ra hiệu là đang lắng nghe.

Mỵ tiếp

-Triều đình gặp lúc khó khăn, mà quốc sư thì lâm trọng bệnh. Mỵ tôi rất đau lòng, vì thái hậu vừa nhiếp chính lại vội qui tiên.

Vị quốc sư già không cầm được nước mắt

-Giá thái hậu sống thêm mấy năm nữa, đề chờ cho hoàng thượng bớt đi lòng kiêu hãnh.

Mỵ khẽ thở dài

-Quốc sư chớ nghĩ đến điều đó. Thái hậu vừa mất, hoàng thượng đã hội triều thần, tự tôn vương hiệu

-Ta biết. Vua đã vội nghe đứa xu nịnh, tự cho mình  là bậc thánh vương

Hoàng hậu chợt quì xuống bên giừơng bệnh

-Sắp tới, vua các nước lân bang sẽ kéo về đây. Hoàng thượng đã nhất quyết làm hội vua để tỏ sức giàu mạnh của vương triều mới. Rồi đây, tiền bạc thóc gạo của triều đình khánh kiệt. Muôn dân sẽ ta oán vua. Mỵ tôi đã cố sức khuyên ngăn, song, hoàng thượng chẳng nghe. Vì lẽ tồn vong của đất nước, mong quốc sư ra tay cứu giúp.

Hiêu Du cho hội triều thần để nghe chỉ chiếu về việc hội vua.

-Ngoại điện Nhữ Bột, điện đền Chuyên Chiết cầm đầu năm vạn lao dịch đắp năm con đường vào kinh thành Xương Quơn, trên đường có dựng dịch đình, mỗi cái đủ chứa nghìn tân khách. Tể hầu Đam Chuyết xem xét lại việc nộp thuế của dân trong nước và lo soạn thảo văn bài để mừng đón khách. Cơ chính Hiêu Thâm cùng văn vũ công khanh Khưu Luân kiểm tu đền Cốc, Lăng Vạn Tuế và Cung Nguyệt Khuyết, thiếu ngừơi hầu và mỹ nữ thì tuyển thêm, hư hao chỗ nào thì xuất công quĩ triều đình tu sửa, mọi thứ ở các nơi đó phải hoàn mỹ để khách đến quan lãm.

Du đang nói thì bá quan xôn xao có quốc sư Bồ Đài đến. Người hầu của quốc sư quì giữa sân chầu, còn quốc sư thì ôm lấy cổ ngừơi hầu,vẻ rất mệt nhọc.

Du vội bước xuống khỏi ngai vàng, nghiêng ngừơi thi lễ.

-Từ lâu thần quá già yếu, không thể vào chầu, xin hoàng thượng thứ tội.Nay nghe sắp mở hội vua, thần liều đem tấm thân tàn đến tấu bày lên hoàng thượng những điều nghĩ được. Một là thái hậu vừa mất, theo luật lệ triều đình, cả nứoc không được làm các cuộc vui trong ba năm. Hai là Chang Lang vừa bị hạn hán mất mùa, loạn Nga Sơn cũng mới yên, nay bày ra việc đón vua các nước, công quĩ sẽ khánh kiệt, dân chúng sẽ khổ sở vì việc lao dịch. Nước sinh nghèo, dân sinh lòng oán vua, thì vương triều này tất sẽ không bền vững.Vì các lẽ trên, cúi xin hoàng thượng suy xét, bãi việc hội vua.

Quốc sư Bồ Đài vừa dứt lời, Du bước lên ngai vàng, thét

-Nay khanh gần lúc xuống mồ, đầu óc ngu tối làm sao còn dám đến đây luận bàn quốc sự.

Rồi lệnh quân hầu tức tốc cõng ông Bồ Đài trở về tư dinh.

Đã đến ngày đón khách. Ở dịch đình dành cho khách Vân Muôi, Du căn dặn các quan

-Khi tiếp bọn họ, các khanh phải ăn nói thế nào để tỏ rõ quốc hồn quốc tuý của Chang lang ta.

Vua Vân Muôi mũi cao, trán hói, người to dềnh dàng. Vua ấy cỡi ngựa ô, các quan tuỳ tùng cỡi ngựa màu  lam, còn  đám lính hầu cỡi ngựa màu vàng. Đến cổng dịch đình, vua ấy nhảy xuống ngựa, hô phũ, có nghĩa là vào đi. Tức thì, một nghìn quan quân tuỳ tùng đều xuống ngựa. Hiêu Du đã chờ sẵn ở sân. Lúc vua Vân muôi vừa đi tới, Du  nghiêng ngừơi vái chào . Rồi cùng vua ấy tiến vào bên trong dịch đình. Lính cấm vệ Chang Lang đã đứng thành hai hàng ở hai bên cửa vào, liền bồng gươm lên,  hô bằng tiếng Chang Lang « Hoàng đế Vân Muôi vạn tuế » Vua Vân Muôi khẽ gật đầu. Đám tuỳ tùng cũng bắt chước làm theo. Lúc hai vua vào đến bên trong dịch đình, các quan Chang Lang đều cung tay, vái chào. Vua Vân Muôi nhìn mọi ngừơi mỉm cười. Du cũng nhìn vua ấy, nhoẻn cười. Rồi hết thảy tiến vào hai hàng ghế làm bằng gỗ trao, nơi thành ghế có chạm hình mây bay, là biểu tượng của bậc thánh vương.

Từ hôm ra chỉ chiếu về việc hội vua, Du đã bắt các quan học tiếng Vân Muôi. Lúc tiếp vua ấy, Du cũng chỉ nói được  nửa Vân Muôi nửa Chang Lang.

-Xem đền thần Cốc xong, quí khách sẽ ăn luốc hầm ở Cung Nguyệt Khuyết. Rồi sang vườn thượng uyển ngủ.

Du lượt qua những việc sẽ diễn ra trong lúc khai hội.

Chuyết vốn có mưu đồ làm vua chư hầu của Vân Muôi, nên từ lâu đã âm thầm tìm học nhiều điều về nước ấy. Quan tể hầu đứng lên, nói lại lời Du bằng tiếng Vân Muôi rất thành thạo.

Khi Du cùng các quan cáo từ vua Vân Muôi, để sang dịch đình khác, một vị võ quan Vân Muôi chạy bổ đến chỗ Chuyết. Hai người nói với nhau gì đó khá lâu. Rồi vị quan ấy rút từ ngực áo ra mảnh giấy nhỏ, trao Chuyết.

Quan tể hầu bứoc lại chỗ Luân

-Thư của một võ quan Vân Muôi. Vị võ quan ấy đã cho người đem thư đến nhờ vị quan vừa rồi tìm cách gởi cho con trai là Điên Giác, hiện sống ở Chang Lang ta

Luân như đang trong mơ, nói

-Luân tôi có quen với Điên Giác.

Chuyết liền trao thư cho Luân. Rồi vội vã bước theo vua mình.

Ở dịch đình đón khách Di Vang, Luân chỉ nghĩ đến cha con Điên Giác. Mãi lúc ngồi vào hàng ghế dành cho vua quan Chang lang, mới để ý thấy vua Di Vang chỉ bận đồ cụt và không đội mũ rồng.

-Hai nước chúng ta vốn giao hảo từ lâu. Nay lại được quí quốc  mời dự hội vua, thật vô cùng vinh hạnh.

Vua Di Vang nói rất sành tiếng Chang Lang, đoạn lùi ra sau, gập mình sát gối.

Du vội đứng lên, vẻ rất bối rối.

Trong lần đi tìm hiểu cách trị nước của các lân bang, Chuyết ở lại Di Vang khá lâu, nên biết được phong tục nứơc ấy.

-Tâu hoàng thượng, nhà vua Di Vang muốn bày tỏ sự biết ơn triều đình ta đấy.

Nghe Chuyết nói, Du lật đật cúi gập ngừơi để đáp lễ.

Các quan tuỳ tùng vua Di Vang chợt cười ồ, khiến  vua ấy lại phải đứng lên

-Ở bản quốc, vua với quan như anh em một nhà, vui đùa với nhau là chuyện thừơng.

Du có vẻ bất ưng, song, liền nói

-Ở bản quốc cũng vậy. Vua yêu bầy tôi như con yêu cha mẹ.

Bấy giờ thì Đông Mân đã giảng hoà với Di Vang. Nhưng để lấy lòng vua Di Vang, Du đã nói dối về chuyện viện binh

-Nay bản quốc vẫn còn lấy làm tiếc ngày ấy đã không giúp  được quí quốc. Song, chắc quí quốc cũng lượng thứ, vì viện binh sắp lên đường  thì thái hậu ngã bệnh, mất.

Vua Di Vang lật đật đứng lên, cung tay xá liền ba cái

-Lẽ ra ngày ấy bản quốc phải sang đây viếng vong linh thái hậu. Ngặt nỗi nước nhà còn đang trong chiến chinh.

Vua năm nứơc đã đến đủ. Du liền cho khai hội ở Cung Nguyệt Khuyết. Đại sảnh ngập ánh đèn hoa.

Lúc  các vị vua khách đã an tọa, Du bước lên ghế chủ hội đan bằng dây trua đỏ thắm, nơi thành ghế có thắt hình mây bay.

-Hoàng đế nước  Chang Lang, vương hiệu Thánh Vương năm thứ nhất, xin chúc mừng  các vị quóc khách là hoàng đế của năm nước lân bang.

Du vừa dứt lời,  nhạc tì tưa trổi lên. Năm mỹ nữ bận áo màu hồng , đội năm mâm rượu chạy đến  quì trước năm vị vua khách. Liền sau đó, hằng trăm mỹ nữ bận áo màu xanh bưng những mâm rượu đầy chen vào đám quan quân tuỳ tùng của năm nước.

Rượu nấu bằng hoa via, hái ở đỉnh Mi Sơn. Chén rượu làm bằng vỏ lưa, một loài vỏ ốc quí, lấy ở biển Đại Hải.

Trong lúc khách uống rượu lễ, Du muốn nhân cuộc , lên giọng kẻ cả trong việc hoà hiếu.

-Từ ngày lập quốc đến nay, Chang Lang mới được các hoàng đế các lân bang đến viếng.. Sử sách của bản quốc sẽ ghi chép điều này. Bản quốc nghĩ, kể từ nay, bốn biển đều là anh em, các nước sẽ không còn xâm lấn nhau nữa.

Vua Di Vang và vua Đông Mân nhìn nhau, vẻ áy náy.

Vua Bắc Mân chợt nâng chén rượu lên cao, hỏi

-Nghe vua trị nước đã lâu, sao vương hiệu là năm thứ nhất ?

Hiêu Du đã cho tuyển năm người vào chức quan phụ thuyết để lo việc giao tiếp vua năm nước lúc mở hội . Quan phụ thuyết sành tiếng Bắc Mân bước đến cạnh Du, nói lại bằng tiếng Chang Lang điều vua Bắc Mân hỏi. Sắc mặt Du chợt đổi. Nhưng liền lấy lại bình thừơng

-Chang Lang vốn chưa có lệ ấy. Song, nay bản quốc xét thấy nên lập vương hiệu như các lân bang để tiện việc giao hảo.

Nói xong, Du liền cung tay xá liền ba lần để tỏ cám ơn sự lưu tâm của khách.

Vua Bắc Mân nhìn đám quan quân tuỳ tùng, mỉm cười, rồi lại quay sang Du

-Hai nước chúng ta như hai nhà liền vách. Nay quí quốc bày việc giao hảo thế này thì không gì đẹp bằng. Lại nghe Chang Lang dùng phép chăn dân của Bắc Mân, bản quốc càng vui sướng hơn.

Du nháy mắt cho quan phụ thuyết lui ra, rồi vờ như chẳng hiểu lời kia, bước  xuống ghế chủ hội, bưng chén rượu màu hồng, tiến đến từng vị vua khách.

Đãi xong một trăm lẻ một món ăn, mất mười bảy ngày. Riêng món lảo xảo, tức đuôi trâu nướng, mất bảy ngày. Do quan quân các nước rất thích món đó, nên Du đã

xuống chiếu bắt dân trong nước chặt tất cả đuôi trâu đem nộp triều đình để đủ đãi khách.

Sau khi uống cạn mấy nghìn vò rượu via, khách rút hết về các dịch đình. Quan nội điện Hiêu Dật chẳng thấy mống mỹ nữ nào ở tửu sảnh, sai lính cấm vệ đi tìm, mới hay cứ  một quan quân Di Vang dắt theo một mỹ nữ , nghênh ngang khắp nẻo kinh thành.

Du bảo Dật :

-Thôi, cứ xem như đấy là cách tỏ rõ quốc tuý của Chang Lang.

Rồi đích thân đến dịch đình dành cho khách Vân Muôi để mời vua nước ấy thưởng trăng.

-Quí quốc chỉ dành cho mỗi bản quốc ư ? Vua Vân Muôi hỏi. Hoá ra vua ấy cũng nói được tiếng Chang Lang.

Du rất vui, đáp :

-Thưa, chỉ dành cho quí quốc thôi.

Lúc đầu vua Vân Muôi tỏ vẻ không thuận. Nhưng sau đó cũng theo Du lên Vọng Nguyệt Đài. Đêm giữa tháng, trời trong, trăng tỏ . Bên dưới chỗ hai vua nằm là đại sảnh, ngập tiếng nhạc tì tưa.

-Nghe rất êm. Vua Vân Muôi nói.

Du mỉm cười trong trăng

-Đấy là khúc giao hòa. Bọn nhạc công có ý dành riêng cho hai ta đó.

Thấy khách im, vua tiếp

-Giá tình thâm giữa hai nước đời đời bền chặc.

Vua Vân Muôi trở người trên chiếc giừơng lót lông chim

-Bền chặc hay không là do ở quí quốc.

Phải. Chính Du đã hiểu điều đó, nên liền đem chuyện  mở đường và xây vọng đài ra nói với khách

-Bản quốc có ý định làm các việc ấy. Ngặt nỗi, công quĩ triều đình eo hẹp.

VuaVân Muôi chợt bước xuống khỏi giừơng, đến tựa ngừơi vào bức lan can. Du cũng bước xuống theo.

-Chỗ có ánh đèn kia là gì vậy ?

-Thưa, Lăng Vạn Tuế đấy.

-Lăng  ư ? Bên Vân Muôi, lăng vua to lớn hơn nhiều. Còn đường quan với vọng đài thì vô kể.

Du liền chợp lấy cơ hội

-Quí quốc có thể giúp Chang Lang  các thứ ấy chăng ?

Vua Vân Muôi chợt cừơi xòa

-Sao lại không. Bản quốc sẽ cho không Chang Lang khỏan tiền làm các thứ ấy .Đáp lại, quí quốc phải làm các điều sau. Một là, để các thương nhân Vân Muôi thảnh thơi qua lại ải Xương Linh, tức  khỏi phải nộp thuế bán buôn. Hai là, Chang Lang nhường cho Vân Muôi cửa biển Xương Quơn, để Vân Muôi  trọn quyền dùng trong việc giao thương buôn bán. Ba là, mỗi khi Vân Muôi có giặc xâm lấn, Chang Lang phải gởi sang giúp một vạn binh lính, yên giặc thì quay về.

Du rất mừng, song, cũng rất lo. Sau hồi nghĩ ngợi, vua đáp

-Thưa, được.

Sáng hôm sau, Du đưa quan  quân năm nước đi xem Lăng Vạn Tuế.

Vua Tây Miêu có vẻ kinh ngạc lắm

-Lăng xây bằng vàng ư ?

Du gật đầu

-Phải. Gần hai vạn rưởi cân đấy.

Vua Bắc Mân chợt hỏi :

-Bản quốc muốn xem lăng tiên đế Hiêu Lịch, chẳng biết có gần đây không ?

Du rất bối rối. Nhưng tể hầu Đam Chuyết đã mau miệng đáp

-Thưa, cách đây khoảng hai ngày đường. Xa thế, là do tiên vương muốn yên nằm nơi đất tổ.

-Quê vua là ở đâu vậy ?

Chuyết lại đáp thay Du

-Thưa, ở trấn Tây Biên, sát chân dãy Nga Sơn

Vua Bắc Mân biết Chuyết nói dối, vì từng nghe dòng họ Hiêu là ở Nam Biên, nên nói gài chơi

-Xa mấy cũng được. Phiền quí quốc cho bản quốc đến đó cho biết

Lúc quan quân năm nước xem hát rố ở Hí Khúc Đình, Du gọi riêng Thâm, hỏi

-Vua Bắc Mân nó đòi đi xem mộ cha ta, làm sao bây giờ ?

Thâm vò đầu, bứt tai

-Giá ngày ấy quốc sư Bồ Đài đừng ngăn cản tiên vương

-Thôi, chớ nhắc chuyện cũ. Hãy nói ta nghe giờ phải làm sao ?

Thâm nghĩ ngợi hồi lâu, rồi đáp

-Cứ giả ngơ là thượng sách.

Du cười ha hả. Chợt có tiếng rú chỗ đám quan quân đang xem hát rố. Ở Hí Khúc Đình, đang diễn đoạn cọp moi gan thợ săn, còn vua Khoanh Khoách thì xông vô đánh cọp. Du chen mọi ngừơi bước vào thì thấy vua Tây Miêu nằm sóng soài dưới đất, đám quan quân tuỳ tùng đang vây quanh vua ấy.

-Thôi, cả cọp lẫn vua lui hết.

Du thét

Tiếng trống hát im bặt. Trên sân Hí Khúc đình  chỉ còn lại mấy vệt máu  làm bằng nước trái choi, vốn có màu đỏ chói.

Vua Đông Mân hỏi Du

-Cọp vồ ai ? Còn ai đánh cọp ?

Du đáp

-Kẻ thợ săn nước Khoanh Khoách bị cọp vồ. Còn người đánh cọp là vua nước ấy.

-Vua đánh thắng cọp ư ?

-Phải. Đã là vua, thì san núi lấp bể. Sá chi chuyện thắng cọp.

Thấy vua Đông Mân thích chí cười to, Chuyết liền xen

-Là do hoàng thượng của bản quốc soạn đấy.

Đêm ấy,  Du mời quan quân năm nước ngủ lại ở các cung phòng trong vườn thượng uyển.

Du đang nằm với Mỵ, thì nghe trống triều thúc, vội nhảy xuống khỏi giừơng, chạy đến  đại điện, thì thấy bá quan  đủ mặt.

Nội điện Hiêu Dật đang quì  mọp ở sân chầu

-Vì chuyện nguy cấp thần chẳng biết làm sao, nên phải nổi trống triều, xin  hoàng thượng tha cho tội chết.

-Đã xảy chuyện chi ?

Du thét

Dật vẫn còn run

-Vâng mệnh hoàng thượng, thần đã cho các sơn nữ vào các cung phòng. Bỗng quan quân nước Tây Miêu ùa ra vườn thượng uyển. Lớp rơi xuống Ngư Hồ, kêu cầu cứu. Lớp dẫm nát các loài kỳ hoa ở Hiên Lãm Thuý. Chuyện xảy quá dị thường. Xin hoàng thượng bảo ban thần phải làm sao.

-Đồ quân man di. Chớ nói nữa, làm ta thêm tức.

Du nạt Dật. Rồi truyền cho bá quan lui về nghỉ.

Một trăm lẻ tám sơn nữ ở vườn thượng uyển vừa đẹp vừa khoẻ, vốn được tuyển lựa từ các miền rừng núi trong nước. Những năm đầu, Du luôn đến vui vầy cùng bọn họ. Nhưng về sau lại chán, bỏ mặc đám gái núi. Nay bỗng gặp đám đàn ông từ các nước đến, bọn họ vui mừng đến lồng lộn lên, làm đám quan quân Tây Miêu kinh hãi.

Sau đêm chơi hoa dỡn nguyệt, quan quân năm nước đều mỏi mệt, nằm mẹp ở các dịch đình.

Du lại hội triều thần truyền chỉ chiếu

-Vừa rồi, các lân bang đã rõ sự giàu mạnh của Chang Lan ta. Nay ta lại muốn bọn họ thấy binh lực của triều đình. Văn vũ công khanh Khưu Luân, vũ hầu Vưu Trấp cùng thống binh Viên Cưu  xem xét hào thành, bãi luyện, kiểm lại đàn voi đàn ngựa, để sáng ngày mai cho các nước xem các thứ ấy.

Du đang nói, chợt  có quan  điện đền hơ hải chạy vào

-Lại chuyện chi ?

Vua thét

Quan điện đền khóc

-Sau khi uống rượu và vui vầy cùng các sơn nữ, quan quân nước Đông Mân kéo sang quốc đền xô ngã tượng thần Cốc. Thần có ra sức giảng giải, song, bọn họ chẳng nghe, cứ cho đó là ma quỉ. Cúi mong hoàng thượng tha chết cho kẻ bề tôi này.

Du gục xuống ngai vàng. Hồi lâu  lại ngẩng lên nói, như chẳng có gì hệ trọng xảy ra

-Vì nghiệp lớn của đương triều, các khanh hãy gắng lo cho hội vua chu tất.

Qua hôm sau Du đưa quan quân năm nước đi xem bầy ngựa chiến

Thấy thống binh Viên Cưu ngồi tựa tàu ngựa ngủ, vua Bắc Mân hỏi

-Ngừơi ấy làm chức  chi trong quân ?

Để giữ thể diện triều đình, Du phải nói dối

-Thưa, một chức quan nhỏ trong kỵ binh. Vừa khỏi ốm đau, nên còn mỏi  mệt.

Rồi bước lại, lay gọi Cưu

-Quan quân các nước đã đến, dậy đi.

Cưu mở mắt nhìn vua

-Thần đã kiểm lại đàn ngựa chiến của triều đình. Cả thảy là hai trăm con. Một trăm hăm chín con già yếu , không cỡi được. Hai mươi con thì đương đẻ.

-Được rồi. Hãy lệnh bọn kỵ binh đưa ngựa ra bãi luyện.

Cưu vơ lấy chiếc tù và, rúc lên mấy tiếng. Tức thì đám lính kỵ từ căn trại gần đó sắp hàng dài, kéo đến tàu ngựa.

Lúc đám lính kỵ cho ngựa phi trên bãi luyện, vua Vân Muôi nhìn Du cười, bảo

-Ngựa của quí quốc khoẻ quá.

Còn vua Tây Miêu thấy ngựa lớp trong tàu lớp ngoài bãi, nên hỏi

-Ngựa chiến của quí quốc có cả thảy là bao nhiêu ?

Biết nước ấy mạnh về kỵ binh, nên Du đáp

-Bản triều có năm trăm tàu ngựa chiến. Tính gọp lại là hai vạn con.

Vua Bắc Mân nói

-Bên bản quốc chỉ có tượng binh, nên muốn xem cho biết cách diễu kỵ binh của quí quốc.

Thấy vẻ lo lắng lộ rõ trên gương mặt Du, Chuyết liền tương kế, gọi to

-Ngự y đâu

Tức thì Du vờ ngã người cho Chuyết đỡ. Khi vua đã được đưa vào long xa, quan tể hầu nói với quan quân năm nước

-Vì vất vả việc hội vua, hoàng thượng của bản quốc bất ngờ ngã bệnh. Giờ đến lượt mời quí quốc đi xem ngựa chiến vượt hào thành.

Theo lệnh Du, Khưu Luân phải đóng vai kỵ binh vượt chín mươi chín hào thành cho các nước xem, vì ngoài Luân chẳng ai làm nổi.

Đã đến giờ hành sự, Luân còn nói với vũ hầu Vưu Trấp

-Khi có giặc, vua cứ cho lũ ngựa già với đám sơn nữ ở vườn thượng uyển lâm trận, việc chi phải đem ngựa chiến vượt hào thành ra dọa lân bang ?

Trấp khuyên

-Thấy việc quân của ta mạnh, kẻ có dã tâm xâm lấn cũng chùng bước. Đây là việc nước việc dân, chứ nào phải của riêng vua.

Do có lời tâm huyết của quan vũ hầu, Luân đã gác mọi nỗi bất bình. Lẽ ra chỉ diễu qua một lượt, Luân đã cho ngựa vượt chín mươi chín lượt qua chín mươi chín hào thành . Lúc đưa ngựa vào tàu, ngang qua chỗ Chuyết, Luân nghe vua Bắc Mân hỏi

-Ngừơi ấy giữ chức chi trong quân ?

Thì Chuyết đáp

-Là lính kỵ đấy. Hơn hai vạn lính kỵ của bản quốc đều thế cả.

Ngày hôm sau quan quân năm nước đi xem đàn voi chiến. Hôm sau nữa, xem cỡi ngựa bắn cung. Rồi thăm ngôi mộ chung của những người đã chết lúc xây Lăng Vạn Tuế. Quan tể hầu vẫn thay vua tiếp các nước, vì Du vẫn chưa rời giừơng bệnh.

Thấy Luân  tự dưng bặt dạng trong mấy ngày ấy, Trấp phải thân hành đến gặp

-Có điều chi làm cháu buồn phiền phải không ?

Luân thuật lại cuộc đối đáp giữa Chuyết và vua Bắc Mân. Rồi nói

-Nếu bận áo quan đi đưa đón  lân bang, thế nào vua Bắc Mân cũng nhận ra cháu. Chớ để người nước ngoài nghĩ  vua quan nứơc ta đều giả dối cả.

Không can gián được vua, hoàng hậu Đam Mỵ buồn rầu, nằm ở hậu cung. Giờ Du lâm bệnh, Mỵ lại lo cha mình cậy quyền lực, làm điều chẳng lành. Mãi khi việc hội vua sắp mãn, Du mới nói thật với Mỵ

-Ta phải giả đau để tránh vua ấy

Mỵ lấy làm lạ

-Tránh vua nào ? Mà sao phải tránh ?

Du lộ vẻ tức giận

-Lần đầu đòi ta đưa đi xem lăng tiên đế. Sau đó nghe ta bảo Chang Lang có hai vạn ngựa chiến, con trai con ma thú Bắc Mân lại đòi được xem cách diễu kỵ binh.

Mỵ vô cùng ngạc nhiên

-Sao hoàng thượng lại đi nói dối với vua ấy ?

Du nạt

-Đồ đàn bà. Vua nước này nói dối với vua nước kia là lẽ thường.

Rồi cho hội triều thần để nghe chỉ chiếu

-Vừa qua các lân bang đã rõ sự giàu có và binh lực của ta. Trước lúc các vua quay về, ta muốn cho  bọn họ biết kỷ cương phép nước của Chang Lang. Pháp hình Độc Tố hãy đưa tội nhân  ra trước lân bang để ta xử chém

Tố sợ hãi, quì tâu

-Xin hoàng thượng xem xét, vì hiện thời chẳng có tội nhân nào bị tội chém

Du nạt

-Đồ ngu. Đây là xử chém để quan quân các nước xem cho biết, rõ chưa ?

Chuyết liền nhớ đến vụ án Mi Sơn, lật đật quì

-Thưa hoàng thượng, nước yên định là nước có kỷ cương. Do đó hoàng thượng hãy xuống lệnh chặt đầu mấy đứa, để lân bang nể vì phép chăn dân của vua Chang Lang.

-Phải. Nhưng theo khanh , nên chặt đầu ai để sáng danh ta ?

Chuyết nói liền

-Việc Muỗng ngày nào vẫn chưa xét xử. Nhân đây, hoàng thượng hãy xuống lệnh chặt đầu  nó, để lân bang biết pháp luật của ta là rất nghiêm minh.

Biết Chuyết cố hại Muỗng để trừ hậu họa, Tố lật đật quì

-Theo thiển ý thần, nên tìm kẻ khác để chém. Vì  vốn quan tể hầu chưa có bằng cứ buộc tội Muỗng

Du chưa kịp nói gì, Chuyết đã lớn tiếng với Tố

-Ta biết rõ quân hầu của ta lấy cắp châu báu nhà ta, ông còn đòi bằng chứng chi ?

Cơ chính Hiêu Thâm giận dữ đứng lên

-Thế nếu ta nói ta biết rõ quan tể hầu  Đam Chuyết, đồng liêu của ta, đã lấy cắp châu báu nhà ta, thì ông cũng bị tội chém sao ?

Chuyết cười xòa

-Nếu là quân hầu của quan cơ chính, Chuyết này tất rơi đầu

Qua cuộc hội vua, Luân ngán ngẫm việc triều chính. Nhưng đến lúc ấy không thể nín được

-Thưa hoàng thượng, nếu phải chặt đầu kẻ vô tội để lân bang xem cho biết, Luân này xin chết thay cho Muỗng

Du vỗ bàn, thét

-Chém Muỗng xong, ta sẽ xử tội nhà ngươi

Rồi truyền bãi chầu.

Từ lâu Tố nghĩ sẽ tìm được bằng chứng về việc cắp vàng để trừ Chuyết, nên đã lưu mẹ Muỗng ở tư dinh. Hằng ngày lại mật sai quân hầu mang đồ ăn thức uống đến ngục Luân Giao cho Muỗng. Mãi hôm lính đao phủ đến dẫn đi, Muỗng vẫn nghĩ là mình được tha.

Hôm ấy quan quân năm nước chẳng thiếu mặt nào, vì muốn xem cho biết cách xử án của Chang Lang

Tố phải đắng cay ngồi ghế pháp hình luận tội Muỗng

-Tội nhân tên là Muỗng, tuổi vị thành niên, đã lấy cắp châu báu của nhà quan tể hầu Đam Chuyết. Chiếu theo phép nước, tội ấy bị chặt đầu. Xin hoàng thượng phán quyết

Du ngồi ghế chủ tòa, hỏi tội nhân

-Tên kẻ cắp kia, ngươi có gì để nói nữa không ?

Nhưng Muỗng đã gục xuống sân chầu, bất tỉnh tự lúc nào

Thấy quan quân năm nước chợt xì xào bàn tán, Du liền nói lớn

-Ta vâng mệnh thần Cốc anh minh , truyền chặt đầu đứa cắp , để răn kẻ khác.

Tức thì lính đao phủ xông vào, lôi Muỗng đi.

Cuộc xử án coi như đã xong. Quan quân năm nước lục đục kéo ra khỏi đại điện. Các triều thần Chang Lang cũng lục đục kéo theo sau, chẳng ai nói với ai lời nào

Khi nghe Muỗng bị chém, hoàng hậu Đam Mỵ than với người hầu gái

-Nay vua lấy việc giết người mua vui thiên hạ, cơ nghiệp họ Hiêu coi như sắp đổ.

Còn quốc sư Bồ Đài thì nằm nơi giừơng bệnh nấc lên mấy cái liền, rồi chết.

 

RA  ĐI

Lúc Hiêu Du còn ban lệnh trưng dân đắp đường và xây vọng đài, vua Vân Muôi đã cho mấy trăm tàu buôn  cập bến Xương Quơn. Kinh thành đầy những người mũi to, tóc nâu. Chỉ trong mấy hôm, dân kẻ chợ đã quen với tiếng  phũ, tức vào đi, phát ra từ cửa miệng của đám thương nhân Vân Muôi. Những nhà buôn  nón trúng to, vì đám khách thương đua nhau mua nón gởi về cho vợ con. Tàu Vân Muôi cập bến chưa đầy tháng, kinh thành Xương Quơn  mười phần khác trước. Phố chợ bày bán la liệt các thứ  phẩm vật Vân Muôi. Từ giày gai, yếm gai, trâm lượt bằng lõi trấp, đến dầu xức tóc, sâm ô môn. Sáng ra, bến Xương Quơn đầy bọn con gái mười lăm mười bảy. Do chuyện xuống tàu đùa dỡn với đám lái buôn mà được tiền, nên bọn chúng đua nhau tới dó. Ban đầu cha mẹ chúng còn ngăn cấm. Sau, thấy làm chơi lại có ăn, thành buông lỏng.

Nghe Trấp lâm bệnh, Luân đến thăm. Gặp Cơ ở tiền sảnh, Luân hỏi liền

-Bệnh tình quan vũ hầu có nặng lắm không ?

Cơ lộ vẽ lo lắng

-Dường bác ấy đau buồn hơn là đau bệnh.

Thấy Trấp tiều tuỵ, nhưng đi đứng bình thường, Luân nghĩ ngợi rất nhiều.

-Cháu đến thật hợp lúc. Trấp vừa nói vừa vói lên tường phòng, gỡ bức tranh vẽ Khưu Chiêu lúc chống giặc Vân Muôi.

Luân chưa hiểu đầu đuôi, Trấp đã tiếp

-Khi nào về Xuyên Lâm, cháu mang về cho cha cháu. Nay giặc là bạn của vua, ta còn treo tranh ấy làm gì.

Luân bồi hồi, nói

-Cuộc bể dâu chưa biết xoay chuyển ra sao. Quan vũ hầu chớ nghĩ ngợi nhiều.

-Còn chưa biết gì nữa. Xưa,vua cha Trắc Khắc xua quân chiếm đất. Nay, vua con Trắc Mạ quỉ quyệt chiếm người.

-Chiếm người ?  Ý quan vũ hầu cháu chưa rõ ?

-Chúng đang xua quân sang chiếm lũ con gái Chang Lang mười lăm mười bảy, cháu không thấy sao ?

-Thưa, đấy chỉ là bọn lái buôn dưới tàu làm càng làm bậy

Trấp nghiến chặt răng, nước mắt đầm đìa

-Hơn vạn thương nhân  tràn vào kinh thành là đám binh lính Vân Muôi đội lốt con buôn, cháu rõ chưa ?

Hơn mươi vạn dân phu  đã được đưa về kinh thành Xương Quơn. Luân tìm được Gia trong đám lao dịch gốc phạm nhân.

Người anh họ quan văn vũ công khanh vừa mừng vừa sợ

-Cứ tưởng không còn gặp được lệnh đệ. Vì kẻ tù tội này vừa đến kinh  lại mắc tội.

May có quan quản dịch nhân từ, chỉ đánh năm mươi roi

Luân kinh hãi

-Anh vừa phạm tội chi ?

-Thưa, tội dám muốn gặp quan văn vũ công khanh.

Viên quản dịch lập tức đựơc gọi đến. Nhưng sau khi nghĩ ngợi, Luân bảo

-Ta có chém ngươi cũng vô ích

Viên quản được tha, vội vã tháo lui.

Đám binh triều canh ải Xương Linh không chịu nổi sự ngạo mạn của các lái buôn Vân Muôi, một hôm đã ngăn  bọn họ lại

-Muốn  qua ải, các người phải xuống ngựa thưa trình.

Đám lái buôn nói

-Đến vua lũ ngươi cũng không  dám cản  bọn ta nữa là

Rồi cho ngựa chạy bừa qua, dẫm chết mất mấy binh triều.

Chôn cất đồng đội xong, bọn lính canh ải bàn nhau

-Nay vua bán rẻ mạng sống bọn ta cho giặc, nên hãy lo giữ thân mình

Rồi kéo hết lên núi Mi Sơn, sống với đám dân mạn ngược.

Hiêu Du liền sai mấy trăm binh triều khác đến canh ải. Rồi họp triều thần hỏi :

-Nay Vân Muôi giúp ta kiến thiết đất nước, mà đám lính canh ải Xương Linh lại làm tổn hại tình giao hảo giữa hai nước, có phải là làm giặc không ?

Thấy mọi người đều  im lặng, Khưu Luân đứng lên, nói

-Thần xin đi Mi Sơn  bắt bọn chúng về cho hoàng thượng

Du có vẻ cảm động lắm

-Làm vua có lúc nặng lời với bầy tôi. Song, ta biết cơ nghiệp này bền vững hay không là nhờ ở các quan. Nay khanh vì nước nhà đi bình loạn, ta cấp cho một trăm binh lính cùng lương thảo đủ ăn trong một tháng. Ngày giờ xuất quân do khanh định liệu.

Nửa đêm hôm ấy, nội điện Hiêu Dật nhận được mật thư của Luân, lập tức đem trao cho vua

« Ngày trước, mấy vạn dân Nga Sơn còn yên nổi, huống hồ nay chỉ có một nhúm binh linh.Thần chỉ mang theo hai tên quân hầu giúp mình bấy lâu. Và phải lên đường ngay đêm nay để cột tay chân lũ sâu dân mọt nước » 

Thấy Luân tận tuỵ với mình, Du hài lòng lắm.

Lúc đầu, quan khai lộ Tương Húc định hưởng một mình. Sau, nghĩ không xong, phải bàn với Chuyết

-Cho kẻ ốm yếu và già nua trở về quê quán làm ăn, ta được tiếng là nhân từ. Dân phu giảm mà khẩu phần ăn không giảm, thì lợi tức ấy không phải nhỏ

Quan tể hầu có vẻ không vui

-Ngày ấy ta quyết giết hết lũ quân hầu để công việc êm xuôi, thế mà cũng bại lộ. Nay làm sao bịt nổi tai mắt hằng vạn dân phu

-Trước là nhờ lũ quân hầu. Còn nay , chỉ mỗi Húc này xoay xở, quan anh chớ lo

-Ta biết. Nhưng ai cấm bọn còn lại không ganh tị với bọn đuợc cho về. Việc mà đến tai vua, ắt phải có chuyện  đem sổ bộ lao dịch ra đối chiếu. Nếu xảy thế, ngươi sẽ tính sao ?

Húc đáp

-Thì thú thật với vua

Chuyết ngửa mặt cười khan

-Ngươi định đùa giỡn với kẻ bạo ngược  ư ?

Quan khai lộ nghiêm mặt

-Húc này đã tính kỹ. Nếu dân phu giảm còn nửa, mà ta đòi Vân Muôi tăng khẩu phần ăn gấp đôi, thì khoảng lợi ấy phải đến mấy vạn cân vàng. Làm vua thì không hám lợi ư ? Ngày trước, xén bớt của cải của đất nước ta, vua còn cho qua được. Nay lấy của Vân Muôi đem chia cho vua, làm sao vua không ưng bụng.

Niềm vui lộ rõ trên gương mặt Chuyết. Song, quan tể hầu còn vặn Húc

-Lỡ sứ Vân Muôi đòi đem sổ bộ đối chiếu thì làm sao ?

Đến lượt Húc cười to

-Ta có trăm ngàn cách để lừa chúng. Nhưng theo Húc này, chẳng đời nào chúng làm việc đó. Bỡi tiền của chúng bỏ ra chẳng đáng gì so với khoảng lợi tức kiếm được khi chúng có trong tay cửa bể Xương Quơn với được thảnh thơi qua lại ải Xương Linh.

Chuyết nghĩ ngợi hồi lâu, rồi nói

-Thôi được. Ngươi cứ thử làm xem sao.

Chang Lang Sử Lịch  có đoạn :

« Bấy giờ đang mùa nóng bức. Dân phu mở đường ra biên thuỳ phía bắc cực khổ trăm bề. Từ kinh đến đó phải qua trấn Cha Man có đất Cuôi toàn cát trắng. Tiếp đến là trấn Cha Gung có sông Gất lắm thác ghềnh với đồng Cừa đầy sên vắt. Còn trấn Cha Lung tiếp giáp với trấn Bắc Biên thì núi đá chập chùng.

Quan khai lộ Tương Húc vào tận giừơng vua nói

-Xưa, tiên đế lên tận Mi Sơn ăn nằm với ba quân, cuối cùng đuổi được giặc Vân Muôi. Thần trộm nghĩ, giá nay hoàng thượng thân hành ra biên thuỳ phía bắc một chuyến để vỗ về dân phu thì hay không biết mấy.

Du vỗ đùi, vẻ đắc ý

-Khanh có bụng yêu dân, rất hợp với ta

Rồi cho hội triều thần nói

-Cho đến nay ta mới hiểu làm vua là khó. Bưng chén cơm ăn lại nghĩ đến muôn dân còn nghèo hèn, u tối. Đêm qua ta nằm mơ  thấy mình cùng dân phu đắp đường qua đất Cuôi. Cát nóng cháy da. Ta khóc. Sực tỉnh, thấy áo đầm nước mắt. Do vậy mới có chuyện quyết ra phương bắc một chuyến, để chia xẻ nỗi lao khổ của muôn dân.

Quan khai lộ quì, nước mắt chảy dài

-Vừa qua thần có lặn lội với dân phu mở đường ra phương bắc. Nay thấy vua quá đỗi nhân từ, thần cảm động khôn cùng.

Quan tể hầu cũng đứng lên nói

-Làm vua mà nhân đức như hoàng thượng là tột cùng trong thiên hạ. Đường đi nghìn trùng hiểmtrở. Mong sao long thể vẫn an khang.

Vua vắt vạt áo bào lên vai, để tỏ lòng mình đã quyết

-Đi chuyến này dẫu gian nan mấy, ta cũng bằng lòng. Nay truyền quan khai lộ Tương Húc lo việc tuần du. Sáng ngày mai, vào lúc mặt trời lên, thì sẽ khởi hành. Tể hầu Đam Chuyết hãy thay ta lo mọi việc ở triều.

Vua đòi đi ngựa. Tương Húc ra sức can ngăn

-Từ kinh đến đó xa nghìn dặm. Làm sao hoàng thượng đi ngựa cho nổi

Du có vẻ giận.

Húc vội  dập đầu, lạy

-Khi đường đắp xong, hoàng thượng có đi ngựa cũng chẳng sao. Còn giờ đây, vào lầy ra cát. Hoàng thượng rủi  lâm bệnh  thì đất nước này thiệt mất bao điều.

Nghe nhắc đến lợi ích muôn dân, Du mới chịu lên kiệu.

Nội điện Hiêu Dật, ngoại điện Nhữ Bột, lễ nhạc Bào Tu đều đòi theo hộ giá, liền bị vua mắng. Rốt cuộc, tuỳ tùng vua chỉ có Tương Húc với hai nghìn quân ngự lâm để làm các việc khiêng kiệu vua, nấu ăn cho vua , và phòng chống bất trắc dọc đường.

Vừa ra đến ngoại thành Xương Quơn vua thấy có hai kẻ phi ngựa đằng trước, liền lệnh dừng kiệu, hỏi

-Có chuyện chi xảy ra phải không ?

Húc vội nhảy xuống ngựa

-Muôn tâu hoàng thượng, đấy là lính tiền trạm, thần sai đi báo cho các trấn các dinh biết.

Vua tỏ vẻ không vui

-Khanh lại bày ra to chyện rồi đấy.

Rồi lệnh kiệu tiếp tục đi. Lúc thì xuyên qua làng mạc. Khi vượt cả đồng rộng mông mênh. Cứ vài chục dặm thì có một đám phu đắp đường khỏang năm ba mươi người dưới sự cai quản của quân lính địa phương. Khi vua đến, cả phu lẫn lính quì mộp xuống ven đường, hô « hoàng thượng vạn tuế ». Vua lại bước xuống khỏi kiệu, lúc ngõ lời thăm hỏi, khi thì chỉ im lặng nhìn  đám phu khổ nhọc, rưng rưng nước mắt, rồi đi.

Qua sông Gất, đám lính khiêng kiệu vấp phải đá, kiệu nghiêng, nước ngập tận ống chân vua.

Húc thét

-Ta sẽ chém hết lũ ngươi

Qua khỏi sông, Húc làm thật. Mười hai cái đầu rơi. Lúc xác bọn lính được đặt xuống mộ huyệt chung nơi bờ sông Gất, vua òa khóc

-Ta rất đau lòng. Nhưng biết làm sao. Cuộc tuần du còn dài, nếu kỷ cương buông lỏng, ắt sinh loạn trong quân.

Đồng Cừa là đồng hoang lầy lội, nằm giữa hai trấn Cha Gung và Cha Lung. Những ngày đầu dầm mình trong bùn lầy, đám phu làm đường cứ nghe quặn đau trong ruột,  rồi lăn ra chết. Ai nấy đều nghĩ do dẫm lên chốn đất thiêng nên bị thần linh quở trách. Rồi có ngừơi đau trong ruột, đi đại tiện, thấy có xác vắt trong phân.

Vua lệnh quan khai lộ xuất cho đám phu ở đấy mỗi người một thước vải gai. Trước khi lên đường đi tiếp, vua gọi bọn họ phủ dụ

-Chang Lang ta phía nam phía tây đến tận Mi Sơn , Nga Sơn, phía bắc phía đông trải tận Bắc Biên, Đại Hải. Nay nhờ hồng phúc đương triều, muôn dân được an cư lạc nghiệp. Song, sự thông thương giữa các miền  chưa có. Do vậy mới có việc khai đường. Vì hạnh phúc muôn nhà, lũ ngươi hãy góp hết sức mình cho công cuộc kiến tạo  dất nước.

Mãi khi kiệu vua đã chuyển, hai ba dân phu liều mình quì trước đầu ngựa quan khai lộ, lúc ấy đang đi sau cùng

Húc hoảng lắm, vội đỡ mấy người ấy đứng lên

-Ta biết bọn ngươi đang thiếu thốn. Đi về sẽ lập tức tâu lên hoàng thượng cấp thêm cho quần áo tiền bạc. Còn bây giờ, chớ để vua nghe chuyện, e người thương cảm mà sinh bệnh, lỡ cuộc tuần du.

Lúc gần đến trấn đường Cha Gung, vua thấy đám nông phu  đang è cổ kéo cày, liền lệnh dừng kiệu hỏi

-Trâu đâu, bọn ngươi phải khổ nhọc thế ?

Nhìn thấy cờ tiết của vua, đám nông phu đến nằm mộp bên đường

-Muôn tâu hoàng thượng, trước chúng thần ai nấy đều có trâu cày. Nhưng vừa rồi, quan thủ trấn xuống lệnh  phải nộp tất cả trâu cho triều đình giết thịt đãi vua các nước lân bang.

-Nộp cả trâu ?

Vua chợt thét. Nhưng liền ôn tồn bảo

-Ta sẽ bắt quan trấn đền cho bọn ngươi.

Thủ trấn Cha Gung đem thuộc hạ ra khỏi trấn đường ba trăm dặm để đón vua

Du bước xuống khỏi kiệu

-Ta rời triều đã mươi hôm. Đi đến đâu bọn thủ trấn thủ dinh cũng muốn ta ở lại nghỉ ngơi. Song, lòng dạ ta lại để cả nơi đám dân phu khổ nhọc.

Quan trấn quì

-Từ đây đến biên thuỳ phía bắc còn rất xa. Xin hoàng thượng nghỉ lại mấy hôm để lấy sức đi tiếp

-Ngươi cho việc tuần du khó đến mức ấy ư ?

Nghe giọng bất bình của vua, quan trấn có vẻ lo sợ. Song vẫn cố nói

-Thần nào dám giữ chân hoàng thượng. Có điều, chúng dân ở đây mong gặp vua như cỏ cây mùa nắng hạn  mong mưa.

Du  chau mày một lúc, rồi bảo

-Lời của ngươi, ta nghe phải.

Lính trấn Cha Gung được lệnh giết trăm con trâu để tiếp đãi vua

Vợ cả của quan trấn ngăn

-Vua ăn một miếng, đám tuỳ tùng vua ăn  đến ngàn miếng, của đâu cho phỉ.

Quan trấn cười

-Trâu của chúng dân chứ của gì ta mà tiếc. Với lại, đãi vua thì chả lỗ lã mà lo.

Lúc ăn món cật trâu hấp hoa via, Du nói

-Giá có hoàng hậu cùng đi, để thấy sự giàu  có của thần  dân  nơi biên thuỳ phía bắc.

Biết vua buồn nhớ hoàng cung, thủ trấn Cha Gung  đã lệnh năm mươi ngừơi con gái đến hầu rượu vua.

Uống xong tuần rượu đầu, Du bảo

-Vậy là các ngươi lại làm khổ thần dân của ta.

Quan trấn mỉm cười

-Muôn tâu, thần đã cho tuyển lựa tự hôm được tin hoàng thượng tuần du phương bắc.

Sợ vua đi đường mệt, đám gái ấy phải cởi hết áo quần, nằm làm nệm cho  vua nghỉ. Do uống  nhiều nên vua say, mãi gần sáng mới chọn được người trẻ nhất trong bọn để giao hoan.

Gần tháng trời, vua tôi mới đến  trấn Bắc Biên. Quan trấn đã lệnh đám phu  đắp đường cùng hết thảy thần dân trong trấn  họp sẵn ở trấn đường để đón vua.

Du rất xúc động, nói

-Bao năm ở ngôi, ta ao ước có được ngày hôm nay.

Thủ trấn Bắc Biên quì

-Muôn tâu hoàng thượng, từ ngày có luật vua ban, nơi biên thuỳ này được sống trong cảnh thanh bình, nhà nhà no ấm. Nay nghe hoàng thượng ngự giá, chúng dân trong trấn  gọi nhau họp về đây để chiêm ngưỡng thiên nhan..

Nói đến đây, quan trấn hô to « hoàng đế nước Chang Lang  vạn tuế « . Tức thì, hết thảy đều hô theo.

Lúc vua đã vào nghỉ trong dinh đường, đám dân vùng Hoắc Sơn  đến quì cả trước mặt quan khai lộ Tương Húc.

Người già nhất bọn nói

-Vừa rồi, nắng hạn kéo dài, nương rẫy không làm được, cơm bữa có bữa không. Đường xa ngàn dặm.

Húc ngắt ngang

-Bọn ngươi là dân mạn ngược ở tận cực bắc trấn Bắc Biên phải không ?

-Thưa phải. Chúng thần chỉ đủ cơm ăn cơm vỡ đến đây. Xin quan triều xót thương cấp cho lộ phí, chúng thần mới có thể quay về quê quán.

Húc ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi nói

-Lương thảo mang theo chỉ đủ cho cuộc tuần du của vua. Bọn ngươi là dân trấn Bắc Biên, nên việc ấy để quan trấn lo.

Nghe tiếng kêu khóc bên ngoài, vua gọi thủ trấn Bắc Biên hỏi.

Quan trấn run

-Thần đáng tội chết. Vì để chúng dân làm kinh động đến hoàng thượng.

-Nhưng là việc chi ?

-Muôn tâu, đám dân núi Hoắc Sơn tủi phận khóc than, vì vừa rồi hoàng thượng không nhắc đến bọn họ

Du vỗ trán, vẻ bứt rứt

-Lỗi tại ta. Dân yêu vua như cha mẹ yêu con là thế.

Quan trấn lập tức lệnh thuộc hạ nấu cơm, cấp cho đám dân Hoắc Sơn mỗi người một nắm. Rồi đuổi hết bọn họ ra khỏi trấn đường.

Trước khi trở về triều, vua gọi hết quan quân trong trấn  đến phủ dụ

-Chúng dân chốn biên thuỳ tựa cây cối ở nơi xa ánh mặt trời. Vậy mà vừa rồi ta được biết, đạo lý mới vua ban  nhuần gội cả Hoắc Sơn muôn trùng xa cách. Ta yêu dân vô cùng. Mà người Bắc Biên cũng yêu ta vô hạn. Có được thế là nhờ tài đức chăn dân của các ngươi. Lẽ ra ta còn đi đến nơi đang xây Bắc Vọng Đài. Song, vọng đài là cho chúng dân vui hưởng. Ta được gặp hết thảy thần dân miền biên thuỳ phía bắc như thế là mãn nguyện rồi.

Về đến kinh, Du liền cho hội triều thần.

Đam Chuyết tâu bày

-Lúc hoàng thượng tuần du phương bắc, chúng thần đã chu tất công việc ở triều. Trước hết là tiếp sứ Vân Muôi để nhận lương thảo cho dân phu đắp đường. Tiếp đến là lệnh các địa phương sớm thu xong các sắc thuế. Quan điện đền đã cùng đám thợ xây vọng đài đi Đông Biên cách đây mươi hôm. Còn lễ nhạc Bào Tu  thì đang lo trưng tập nhạc công để bổ sung cho Cung Nguyệt Khuyết. Chỉ còn hai việc phải chờ hoàng thượng phán quyết. Một là, vua Vân Muôi có ý muốn cử người trong đám tàu buôn đi Nga Sơn xem thử lượng trầm ở đó nhiều không. Hai là, quan văn vũ công khanh vẫn chưa về.

-Khưu Luân vẫn chưa về ?

Du lộ vẻ kinh hãi

Quan tể hầu tiếp

-Muôn tâu hoàng thượng, thần đã cho người đi Mi Sơn xem thử. Điều chắc chắn là Khưu Luân không hề đến đó.

-Ta đã để sổng mất con ngựa hoang

Vua buột kêu trước vẻ ngơ ngác của triều thần.

Ngay sau buổi chầu, tể hầu Đam Chuyết vâng lệnh vua khám xét dinh quan văn vũ công khanh. Cổng chẳng đóng. Cửa không cài. Cảnh  nhà vô cùng hoang vắng.

Chưa tới cửa, bọn lính cấm vệ đã tháo ra

-Chúng thần như vừa trông thấy quan kỵ binh trong ấy

Chuyết thét

-Ông ấy chết mục xương, còn trông thấy nỗi gì.

Rồi xách gươm xông vào nhà.

Mũ cánh chuồn đã bị dẫm bẹp. Còn áo cẩm thêu thì bị băm thành nhiều mảnh, vung khắp tiền sảnh.

Quan tể hầu đứng ngớ người một lúc, rồi hô

-Lục xét.

Ở trung sảnh và hậu sảnh chẳng có chi ngoài những vật dụng thường ngày. Cuối cùng, bọn lính đã nhìn thấy mảnh thư cài ngay cửa vào, do sợ hãi, chúng đã không nhìn thấy từ đầu.

Thư đề gởi đương kiêm hoàng đế Hiêu Du. Nhưng bên trong chỉ có mỗi trang  nhuộm đỏ, chẳng có chữ nào.

Chuyết mang thư vào tận giừơng vua

-Muôn tâu hoàng thượng, đây chính là huyết thư

Du nghiến chặt răng

-Ta biết »

 

TỪ  TẠ

Thấy Luân một mình một ngựa trở lại Xuyên Khê giữa đêm hôm, ông Đa Trà nghi hoặc trong lòng

-Đã xảy việc gì chăng ?

-Thưa, con đến để từ tạ thầy

-Từ tạ ta ?  Nhưng con định đi đâu ?

Luân quì, cầm lấy tay thầy

-Con nay bắt chước Sưng Chu nước Bắc Mân  dẫm nát U Sơn, diệt mầm u tối cường bạo.

Đa giật mình, nhìn đứa trò yêu. Hồi lâu mới bảo

-Ta may lúc trẻ đi nhiều, chứng kiến bao đổi thay của thế cuộc. Nay con bắt chước Sưng Chu là phải lẽ. Có điều, con nên hiểu, chí Chu lớn thế, nhưng đến lúc chết cũng chỉ mới tìm được rễ tần.

Luân đứng lên, vặn cao bấc dầu lim

-Lòng con đã quyết. Hoặc làm nên điều ước nguyện. Hoặc nát với cỏ cây.

Đa chợt khỏa tay, bảo Luân im. Ông đi đóng cổng vườn. Rồi lập tức quay vào.

-Trời hãy còn chưa sáng. Con cứ nói hết cho ta nghe.

Hơn hai năm mới quay về chốn cũ, chẳng thấy Xuyên mừng đón, Luân nóng nảy bồn chồn.

-Thưa, con trở về đây cốt để nghe lời chỉ giáo của thầy.

Đa vân vê chòm râu bạc

-Là Mi Sơn với Nga Sơn, đất nào tốt hơn chứ gì ?

Luân kinh hãi, sụp xuống chân Đa

-Thầy đã thấu tỏ ruột gan của đứa học trò nông nổi.

Đa đỡ Luân đứng lên

-Phải. Hăm mấy tuổi đầu đòi làm Sưng Chu, người đời tất cho là nông nổi. Song, ta  biết con đã chọn Nga Sơn làm đất dung thân

-Nhưng con muốn nghe lời dạy bảo thật cặn kẽ của thầy.

Đa trìu mến nhìn đứa trò yêu

-Mi Sơn tiếp giáp Vân Muôi. Nay nước ấy ngoài mặt giao hảo với ta, nhưng thâm ý là để lập lại việc thuở trước. Nếu chọn nơi đó làm đất dụng võ là rơi vào chỗ trong nanh ngòai vuốt. Nga Sơn muôn phần hiểm trở. Phía đông có sông sâu ngăn cách hai miền xuôi ngựơc. Phía tây có người Miêu đôn hậu, vốn chẳng mấy phục đương triều Chang Lang. Nhưng điều cốt yếu là mấy vạn dân  Nga Sơn từng đứng lên chống lại cường quyền. Chọn Nga Sơn con được cả địa lợi lẫn nhân hòa. Song, đấy chỉ mới là chuyện binh thư. Xưa nay biết bao bậc cao minh đứng ra lo việc nước. Có kẻ làm nên đại nghiệp. Nhưng cũng lắm người bị cường bạo làm tan xương nát thịt.

-Thưa, đắc thất là lẽ thường trong mưu toan đại sự. Con đi lần này chẳng biết bao giờ mới trở lại. Xin  thầy cho con được làm lễ báo đáp công ơn dạy dỗ của thầy.

Luân nói xong lời ấy, liền lạy thầy hai lạy

Đa rơm rớm nước mắt

-Nhưng con trở về đây chỉ để tạ từ ta thôi ư ?

Luân chỉ chờ thầy hỏi điều ấy, liền đáp

-Thưa, trước từ tạ thầy, sau từ biệt bạn cũ

-Ta biết con đương nóng lòng gặp Vưu Xuyên. Nhưng nay hết thảy người già phải ra cày ruộng, để trai tráng đi đắp đường cho vua. Làng có trăm người già thì đau ốm hết chín chục. Xuyên, Giác ngày đêm chia nhau đi hái thuốc cứu người. Mà con đi đây là trốn đi phải không ?

-Thưa không. Nói với vua là đi dẹp loạn ở Mi Sơn

Đa lộ vẻ lo âu

-Tức chẳng ai hay biết con rời bỏ triều đình ?

-Trừ hai quân hầu con đã cho về quê quán. Nhưng khi tìm thấy huyết thư ở dinh quan văn vũ công khanh, mọi người sẽ rõ.

-Huyết thư gởi vua ?

-Thưa phải

Đa thất sắc nhìn Luân. Nhưng liền điềm tĩnh, bảo

-Việc cũng cấp bách. Song, con phải chờ gặp Xuyên, Giác rồi mới lên đường.

 

CẮT  MÁU  ĂN  THỀ

Trông thấy Luân, Giác nói liền

-Làng có người đau quá nặng. Chị Vưu Xuyên giành chữa trị. Sớm muộn  cũng về trong sáng nay.

Luân  nói

-Ta nóng lòng trở về đây là cũng để gặp em

Rồi trao cho Giác thư của quan đốc binh Bồn Nhương

Con trai người bán chiếu mừng đến nỗi chẳng cầm nổi tờ thư của cha mình

Chờ cho bạn qua cơn xúc động, Luân nói

-Theo lời vị võ quan Vân Muôi đưa thư này thì quan đốc binh chỉ nhờ người đem thư đến nhờ ông ta mang sang Chang Lang.

Giác chùi nước mắt

-Việc gặp lại cha mình vẫn là chuyện trong mơ. Nhưng làm sao kẻ tội lỗi còn dám quay về quê kiểng ?

Luân cau mày, bảo

-Vì chuyện tình duyên, quan đốc binh mới theo giặc. Tội lỗi này người đời còn dung được. Nhưng hiện thời chính  vua rước giặc ấy về dày xéo Chang Lang ta

Giác  có vẻ kinh ngạc

– Khưu huynh nói thế là sao ?

-Rồi em sẽ rõ.

Luân đáp. Rồi cùng Giác vào gặp thầy.

-Con về kinh đã hơn hai năm.Việc quan chỉ làm hỏng thân này. Nay xin thầy xem xét lại đường côn kiếm của con.

Nghe Luân thưa, Đa rất vui. Lập tức ba thầy trò cùng trở lại vườn cũ Tô Lư.

Luân đang múa thế chém rắn, Đa bảo dừng

-Ta thấy bảy phần khác trước. Đấy là của riêng con ?

Luân vội sụp lạy thầy

-Bao năm xa cách nghiêm sư. Nay con có điều chi sai trái , xin thầy lượng thứ.

Đa đỡ Luân đứng lên

-Thuở ấy ta dạy con cầm côn kiếm như chim mẹ tập chuyền cho con. Nay thấy con chim con  đã cất cánh bay cao, ta lấy làm vui sướng trong lòng.

Rồi lệnh Giác cùng Luân thử lại thế Tô Lư  u khốc.

Đến lượt thứ một trăm, hai người vẫn khoẻ, cùng đến quì trước thầy

Đa bỗng rớm nước mắt

-Kiếm pháp các con  đến thế là tột cùng. Chỉ lo, rồi đây trong cuộc đao binh, thanh gươm ấy sẽ vấy máu bao người.

-Thưa, thầy bảo cuộc đao binh nào ?

Giác lại lộ vẻ kinh ngạc, hỏi

Đa không đáp, chỉ tiếp

-Diệt cường bạo, xem thế mà khó hơn việc Tô Lư san núi. Xưa nay, cường bạo nào cũng bị người đời tru diệt. Song, phải tốn bao  máu  xương. Điều ta muốn nói với các con, là một người chẳng thể làm nên đại nghiệp

Nói đến đây, Đa bảo Luân, Giác hãy tiếp tục luyện gươm. Còn mình thì quay vế nhà.

Hiểu  ý thầy, Luân lập tức thổ lộ cùng Giác.

-Từ lâu, ta muốn bỏ quan. Ngặt nỗi, cha ta vẫn  mong ta làm nên nghiệp lớn. Nhưng không có trời cao, con chim bằng chẳng hơn chi con chim cưu. Nay ta quyết rời bỏ triều đình.

-Nhưng Khưu huynh đã hỏi ý quan văn hầu chưa ?

-Tất nhiên, cha ta chẳng cản ngăn. Có điều, chỉ lo tai ương sẽ đổ xuống đầu cha già

-Xưa nay từ quan là việc thường, sao lại tai ương ?

Luân không đáp, quay hỏi bạn

-Nếu Luân này dựng riêng một cõi, để chống lại cường bạo, thì em có giúp ta không ?

Giác sửng sờ trong giây lát, rồi đáp

-Từ ngày theo đòi kinh sử, em có  ý nguyện khi thành tài sẽ ra phò vua giúp nước. Nhưng nay thế sự đổi xoay. Vua lo dựng cung vàng điện ngọc. Quan lo vơ vét của dân. Chẳng ai dám nói ra, nhưng hết thảy đều oán giận đương triều. Đêm, nghe thầy thở vắn thở dài, ruột gan  em càng rối rắm. Nay nghe Khưu huynh quyết đem chí lớn trang trải cho đời, Giác này như bước ra khỏi đêm đen.

Nói đến đấy, Giác rút gươm cứa lên cánh tay mình, rồi quì xuống trước bạn. Lập tức, Luân cũng rút gươm cứa lên cánh tay mình, rồi cùng quì với Giác

-Hai chúng tôi nguyện thề cùng trời đất, hoặc trừ được lũ vua quan tham tàn độc ác, hoặc cùng chết nơi chiến địa

Cả hai cùng nói

 

TỪ  BIỆT

Sợ binh triều đến Xuyên Lâm truy tróc, Đa cho Giác theo ngả Nam Biên đến báo tin cho Khưu Chiêu biết. Luân thì theo đường Ngũ Sơn qua Thiên Sơn, rồi chờ Giác ở Mân Sơn.

Vưu Xuyên tiễn Luân đi. Qua khỏi suối Phù Đan, Xuyên òa khóc

-Biết bao giờ hai ta mới gặp lại

Luân đỡ Xuyên xuống ngựa

-Em từng cầm gươm thử thế Tô Lư, thì chớ như những kẻ tầm thường.

Con gái quan vũ hầu vội lau nước mắt

-Anh đi đây là đi xoay lại thế nước, chống lại muôn binh của triều đình, tử sinh chẳng ai lường được, làm sao em không lo

Luân nén lắm mới khỏi bật khóc

-Ta rất đau lòng phải xa em. Nhưng chỉ còn cách ấy mới mong chuộc lại lỗi lầm bấy lâu. Nay ta như  con chim tìm được bầu trời cao rộng . Chỉ thương cho quan vũ hầu  phải tiếp tục sống  giữa chốn ấy.

Mặt Xuyên bỗng biến sắc

-Cách đây không lâu, cha em gởi thư có nói, vua vốn không ưa quan văn hầu, giờ xảy việc thế này, e người sẽ bị hại.

Luân nắm lấy tay Xuyên

-Em lo cho cha ta là phải đạo. Có đìều phải hiểu, bạo chúa thì chẳng từ việc gì

Xuyên ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi nói

-Xưa nay biết bao bậc hào kiệt phải chết vì lưỡi gươm của kẻ bạo tàn. Chi bằng, anh cứ lui về quê, giả lo cày cuốc, âm thầm chiêu tập nghĩa sĩ, khi đã đủ sức thì đứng lên diệt đám vua quan độc ác. Như thế, quan văn hầu được yên ổn, còn anh cũng đỡ hiểm nguy.

Luân trìu mến nhìn Xuyên

-Điều đó ta có nghĩ đến. Nhưng vua là kẻ bạo liệt khôn ranh, sẽ chẳng để yên cho ta

Biết chẳng lay chuyển được Luân, Xuyên đánh liều nói

-Nay Điên Giác đã nguyện sống chết cùng anh, sao không nghĩ  đến Xuyên này.

Rồi vục vào ngực Luân khóc

Thấy bóng đêm ập xuống, con kim mã dậm chân hí vang. Luân giật mình nhớ ra là phải lên đường trước khi mặt trời lặn, để kịp gặp Giác vào sáng hôm sau ở Mân Sơn.

-Thôi, giờ ta phải lên đường cho kịp hẹn. Em ở lại gắng lo đèn sách. Khi thầy cho phép, mới trở về kinh

Xuyên đi dắt con kim mã.

Rồi cả hai cùng cầm lấy cương ngựa.

Luân đắm đuối nhìn người bạn đời

-Giá ta cùng đi với nhau. Yên giặc, quay về, nên duyên chồng vợ. Còn có chết thì cùng da ngựa bọc thây.

-Nhưng Nga Sơn muôn trùng xa cách. Khi nhớ nhau thì làm sao ?

-Hãy nhìn con chim khưu bay về từ phương trời tây

Trăng thượng tuần tựa mảnh lá khô vắt ngang đỉnh Ngũ Sơn.

Bỗng Xuyên buông cương, thò tay vào ngực, bứt lấy chiếc yếm đang mặc.

-Để anh làm gối gối đầu những đêm nghỉ việc can qua.

Xuyên trao yếm cho Luân.

Rồi oà khóc.

Luân, tay ôm chặt chiếc yếm vào lòng, tay cầm lấy dây cương, nhảy lên ngựa.

-Xin  từ biệt Vưu Xuyên ngàn đời yêu dấu của ta.

Luân chỉ nói được chừng ấy.

Rồi cứ cắn chặt răng cho khỏi bật ra tiếng khóc.

 

CHA  CON

Quan văn hầu vờ giận dữ hỏi con trai

-Ngày ta dẫn con về cày ruộng, con đòi trở lại kinh. Giờ ta cho con ăn học, đỗ đạt làm quan, lại đi làm giặc, là cớ sao ?

Luân vẫn quì

-Thưa, cha từng dạy tôi trung chỉ hết lòng với minh chúa. Nay, con muốn làm tôi trung, ngặt nỗi chẳng có minh chúa để thờ.

Thấy Chiêu tỏ ý không thuận, Giác lo sợ, vội quì cùng Luân

-Thưa, vua bảo vì muôn dân ban bố đạo lý với luật triều. Lại bảo cũng vì muôn dân xây cung này gác nọ. Nhưng đến nay muôn dân vẫn khổ cực lầm than. Xin quan văn hầu cho Giác này được chia xẻ nỗi niềm với người đã cùng con thề nguyền sống chết có nhau.

Nơi cha con gặp nhau nằm trên đoạn suối Từ Lâm hiểm trở. Bên này là vách  đá cheo leo, bên kia là đường thông sang Thiên Sơn. Binh triều có truy tróc cũng chẳng thể tìm ra bọn họ.

Thấy Chiêu có vẻ nghĩ ngợi, Giác tiếp

-Giờ huyết thư đã đến tay vua, Khưu huynh là kẻ chống lại triều đình, ngoài việc ra đi, chẳng còn cách chọn lựa nào khác. Trước khi hai con lên đường, xin quan văn hầu ban lời dạy bảo

Chiêu bảo cả hai đứng lên. Rồi rút thanh bảo kiếm đang đeo cắm xuống lòng suối

-Tổ tiên họ Khưu người cày ruộng, kẻ thợ mộc thợ nề, lấy sức chân tay làm ra chén cơm ăn. Đến khi được làm quan, ta đem lòng trung liệt trang trải cho non sông để có áo mặc. Đã bao đời, dòng họ Khưu nhà ta chưa có ai dám lấy không của thiên hạ nửa hạt thóc để làm của riêng mình. Đến chết con cũng không được quên điều này.

Luân vội thưa

-Con cứ tưởng đỗ đạt làm quan để xả thân cho nước. Nào ngờ, nay ở triều, tiếng nói kẻ trung chính tựa hòn sỏi ném xuống biển khơi. Con lấy làm tủi hổ với tiền nhân, vì ngày ngày phải nghe những lời nhân nghĩa buông ra từ lỗ miệng ông vua vô đạo. Bận áo quan chỉ thấy bầm gan tím ruột. Con đi đây là để trừ khử đám vua quan ruỗng mục, chứ nào phải mưu toan tranh giành thiên hạ.

Quan văn hầu tra gươm vào vỏ

-Ta biết. Xưa nay bao trang hào kiệt đứng lên chống lại cường quyền. Việc hợp lòng người, cuối cùng tất phải thắng. Song, đến khi đã được thiên hạ trong tay, hào kiệt không biết giữ mình cũng nhuốm bệnh vua quan. Mà thôi. Đấy là chuyện mai sau. Còn giờ đây, hãy nói ta nghe làm sao trừ được cường quyền ?

Luân cung kính nâng thanh kiếm của mình lên ngang mày

-Thưa, một là chọn đất khởi binh. Hai là phải được muôn dân trong nước đồng tình.

Chiêu có vẻ ngẫm nghĩ, rồi bảo

-Điên Giác đã nói cho ta biết rồi. Con chọn  Nga Sơn làm đất khởi binh là phải. Còn muốn muôn dân hưởng ứng  không phải chuyện ngày một ngày hai. Xưa thầy ta nói có loài chim luông bay hoài không biết mỏi

-Thưa, thầy con cũng nói, chim luông bay hoài, vì  muốn tìm cho đồng loại chỗ trời cao để bay lượn.

Chiêu chợt rơm rớm nước mắt

-Ta sinh chỉ mỗi con và Khưu Châu. Anh con chọn việc cày cuốc để an thân. Đời trai như nó coi như bỏ đi. Nay con trong tay chỉ nửa thước gươm đứng ra gầy cuộc can qua với ông vua từng uống máu người, làm sao ta không lo

-Thưa, rồi đây triều đình sẽ ghép cha vào tội phản nghịch. Làm con mà để cho cha mình phải chịu nhục, thật đáng chết.

Luân nói.

Rồi oà khóc.

Chiêu nạt

-Chớ làm ô danh nhà họ Khưu. Con dám đem thân trai dâng hiến cho non sông, thì sao lại đi tiếc mạng sống một ông già ?

Tuy chưa biết tình phụ tử là sao, Giác cũng thấy đau lòng trước cảnh cha con ly biệt, nên vội nói

-Hay quan văn hầu cùng về Nga Sơn  luôn thể. Trước giúp lũ con làm nên đại sự. Sau để cha con khỏi phải chia ly

Chiêu nhìn con trai

-Ta còn anh con với lũ cháu, biết không ?

Luân cố gạt nước mắt

-Xin cha tha tội cho đứa con bất hiếu này

-Thôi, chớ nói thêm gì nữa

Chiêu chợt thét.

Rồi rút thanh bảo kiếm ném cho Luân

-Hãy để tên con được ghi vào sử sách.

Bấy giờ là giữa ngọ. Chim lư  kêu rộn suối Từ Lâm. Chờ cho cha mình đi khuất dạng, Luân mới ra hiệu bảo Giác lên đường.

Khi ra khỏi rừng núi Mân Sơn, Luân chợt gò cương, quày ngựa

-Chẳng phải theo ngả Thiên Sơn  ư ?

Giác ngạc nhiên hỏi

Luân lặng lẽ nhảy xuống ngựa, chống gươm đứng nhìn về phía quê nhà, nước mắt chảy dài.

 

LỜI  THỀ  TRÊN  NÚI

Từ Thiên Sơn, Luân, Giác  qua Mi Sơn. Ngựa lúc cỡi lúc dắt. Mất ba ngày đêm hai người mới vượt khỏi dãi núi rừng ngăn cách hai nước Chang Lang, Vân Muôi. Luân chọn đi ngả ấy để tránh sự truy tróc của binh triều. Nhưng cốt yếu là để sửa soạn cho đường hành binh sau này. Mi Sơn là đất trắng. Còn Nga Sơn là đất đỏ. Nên khi trông thấy dòng suối ngầu đục, hai người biết đã đến được Nga Sơn.

Bấy giờ là giữa hạ. Hoa voan nở trắng các bờ suối. Chim khưu kêu rộn, khiến Luân lại nhớ đến Xuyên.

-Khưu huynh tạm lánh mặt, để mỗi em đi dò thử

Giác nói. Rồi giả làm kẻ lái buôn, vào làng Bơ Man.

Không một bóng người. Nhà nào cũng cửa ngõ trống trơn. Nhiều nhà đã bị cháy, chỉ còn trơ nền cũ. Giác vội trở lại, kể rõ sự tình. Luân đoán biết lính trấn Tây Biên đã đến đây gây nên sự thể.

-Ngày lên đây bình loạn, ta có biết một số tập tục Nga Sơn

Luân nói. Rồi leo lên một ngọn trao, dùng dây cột mảnh vải đen, thả bay lên trời

Hai người lại ăn gạo rang, uống nước suối, nằm chờ

Qua hôm sau thì nghe ba tiếng hú từ phía đầu suối Bơ Man. Lập tức, Luân hú lại ba tiếng. Lát sau, khoảng vài ba mươi người Nga Sơn có mang cung tên dáo mác, tiến về phía Luân, Giác

-Các người ở đâu đến đây gặp nạn ?

Luân đáp

-Bọn ta là quan triều mắc tội, trốn lên đây để nhờ tộc trưởng Bơ Man che chở

Đám người Nga Sơn liền giương cung tên, hô to

-Quan triều thì phải chết

Giác toan tháo lui. Nhưng Luân bảo hãy đứng im. Rồi nói

-Hai ta là bạn của tộc trưởng Bơ Man. Anh em không tin thì hãy bắt cả hai giao cho ông ấy

Luốc Bưa cách Bơ Man hai ngày đường. Đấy là nơi cao nhất trên dãy Nga Sơn. Tộc trưởng Bơ Man đã dẫn dân làng mình chạy lên đó, ngay khi được tin lính trấn Tây Biên  sẽ đến bắt lao dịch

Ông Bơ Man vẫn chưa tin lời Luân, nên hỏi

-Chỉ có quan bắt tội dân, chứ làm sao quan triều mắc tội ?

Luân liền đáp

-Tộc trưởng nói rất phải. Quan dưới làm bậy, quan trên che. Nhưng riêng ta, vua ghép vào ba tội. Thứ nhất là đem lương thảo giúp Nga Sơn lúc đói kém. Thứ hai là đắp đập chắn nước cho Nga Sơn làm ruộng. Thứ ba là đã ngồi cùng chiếu uống rượu với người Nga Sơn.

Ông Bơ Man cũng vẫn chưa tin, hỏi

-Binh triều hằng vạn, làm sao lại trốn được ?

Luân đáp

-Binh triều có đứa xấu đứa tốt. Mấy đứa tốt đã mở ngục cho bọn ta trốn lên đây. Anh em ta muốn có lời thề, để tộc trưởng không còn nghi hoặc.

Ông Bơ Man liền phất tay làm hiệu. Tức thì, dân làng mang chín ngọn đuốc và chín ngọn dáo đến cắm trước mặt Luân, Giác.

-Con là Khưu Luân, hăm hai tuổi, quê ở Xuyên Lâm, bị triều đình bắt tội, nay xin lên đây ăn ở cùng người Nga Sơn. Nếu có lòng dạ nào thì thân này bị ngọn dáo của thần núi Nga Sơn đâm nát, ngọn lửa của thần rừng Nga Sơn đốt cháy

Luân quì, khấn to. Đoạn cúi xuống, liếm đất chín lần.

Ông Bơ Man cùng dân làng hô lớn

-Người anh em của ta

Rồi đích thân đến mở trói cho Luân

Giác vội quì, làm y như Luân

Ông Bơ Man lại mở trói cho Giác

 

TRUY  TRÓC

Vua nghe lời Chuyết, sai quan cơ chính đi Xuyên Lâm để dò tin tức Luân

Trông thấy Thâm, Chiêu liền hiểu mưu lược của Du

-Ông cơ chính đi công cán sao chẳng lệnh đám quan địa phương nghênh tiếp ?

Chiêu hỏi

Thâm cố dấu bối rối

-Nói không công cán không phải. Mà bảo công cán cũng chẳng phải. Ta vâng mệnh hoàng thượng đến thăm ông đây

-Thăm ta ?

-Phải. Ông vì tuổi cao sức yếu phải lui về. Bấy lâu triều đình thiếu đi bề tôi rường cột. Hoàng thượng mỗi lần nhắc đến ông lại thở vắn thở dài, luyến tiếc.

Chiêu chợt ngửa cổ cười to

-Ta thật cảm động vô cùng. Ông hãy tâu giúp lên vua là Chiêu này đã không cầm được nước mắt

Thâm vờ cúi xuống, ôm chân kêu đau, để dấu sự bực tức

Chiêu cũng vờ tỏ vẻ khổ tâm

-Tội thân ông quá. Chừng ấy tuổi, phải một mình một ngựa lặn lội đến đây

Thâm ngồi lại, vặn lưng mấy lượt, rồi nói

-Hoàng thượng bảo đi kiệu. Nhưng ta muốn thế

Phải. Chiêu biết, từ lúc theo phò Hiêu Lịch, đến khi làm cơ chính cho Du, Thâm chẳng dám tơ hào công quĩ nửa xu. Cả đời cúc cung tận tụy thờ vua, cốt chỉ để vua tin, cho giữ tước trọng. Quan cơ mật có thể làm bất cứ điều gì ngay cả việc sát hại trung thần. Nghĩ thế, Chiêu bừng bừng lửa giận

-Này, ta hỏi thiệt ông cơ chính, làm quan với hoàng thượng, ông thấy có thú không ?

Thâm nhìn Chiêu, mỉm cười

-Nói không thú, ông văn hầu cũng chẳng tin. Có điều ông đã rõ, kẻ trị nước phải yêu dân như yêu cha mẹ. Nên làm quan cốt phụng sự dân, chứ nào phải chỉ phụng sự vua

Chiêu vỗ đùi, cười ha hả

-Giá ta là hoàng thượng, ta đã nhường ngôi cho ông từ lâu

Thâm lộ vẻ sợ hãi

-Chớ đùa thế, ông văn hầu

-Ta nói thật đấy. Bỡi ông nhuần gội đạo lý vua ban còn hơn cả vua nữa kia

Vừa lúc ấy, đứa con út Khưu Châu dẫn chó đi ruộng về. Thấy kẻ lạ, con chó chồm lên

-Hỗn

Nghe đứa nhỏ la, con chó cụp tai, thôi sủa

-Chào quan lớn đi

Chiêu bảo cháu

Đứa nhỏ lập tức vòng tay, nói «xin mừng quan lớn »

Thâm hứng thú, bảo

-Nhà ông lắm điều hay. Cả cháu lẫn chó đều ngoan

-Phải. Cháu ta rất ngoan. Còn loài chó, như ông biết, nó là chó săn, nên rất trung thành với chủ

Thấy Thâm bỗng lảo đảo đứng lên, Chiêu nói

-Ta thật có lỗi với cố tri. Khách đến nhà chỉ chuyện trò suông. Nhưng ông cơ chính chỉ đến ta chốc lát thế ư ?

-Ta chửa về đâu

Thâm đáp, lật đật ngồi xuống lại

Chiêu vờ hỏi

-Thằng Luân ta có biết ông đến đây không ?

Thâm cũng vờ lộ vẻ ngạc nhiên

-Vậy ra, quan văn vũ công khanh không về đây sao ?

-Nó bảo với ông thế ?

-Không. Ta đến ông chỉ vì việc ấy. Khưu Luân đã bỏ triều , đi cả tháng nay

-Bỏ triều ?

Chiêu chợt thét. Rồi vờ ngất ngã.

Thâm vội chạy đến, đỡ Chiêu

-Hoàng thượng sai ta đến đây xem thử. Nào ngờ Khưu Luân vẫn chẳng về đây

-Ta phải về triều ngay thôi. Để hỏi vua, làm vua thế nào, để con ta muốn làm gì thì làm

Chiêu nói cốt dọa Thâm. Sự thật, quan văn hầu cũng lo đến toát mồ hôi

Không dò được chút gì về Luân, Thâm đành cáo từ Chiêu

Do không có chỉ chiếu của vua, ông Đa Trà đã tiếp quan cơ chính như tiếp một khách bình thường

Thâm giận lắm, song, vẫn gắng giữ lịch thiệp

-Nghe tiếng ông bấy lâu. Nay mới diện kiến

Thâm nói

Đa hỏi

-Quan cơ chính nghe tiếng  Đa tôi thế nào ?

-Đi nhiều. Hiểu rộng. Cả nước đều biết

-Có đi nhiều đấy. Nhưng hiểu rộng, Đa tôi chẳng dám nhận

Thâm ngẫm nghĩ, rồi hỏi

-Thiên hạ đồn ông viết sách, có không ?

Đa cười

-Quan cơ chính nghe đồn Đa tôi viết sách chi ?

Thâm có vẻ lúng túng

-Ta cũng nghe nói thế. Nhưng học trò ông nay được mấy mươi ?

Đa đáp

-Lúc đầu, đến học cả ngàn. Sau, thấy nhiều kẻ chẳng học cũng làm quan được, chúng bỏ về cả

Thâm thở dài

-Đại nạn

Đa nói

-Kẻ u tối làm công việc trị nước chẳng khác đem đá đè lên đầu dân. Ông cơ chính đến Đa tôi chắc có điều chi dạy bảo ?

Sự thật, vua chỉ sai Thâm đến Xuyên Lâm. Nhưng ở đó chẳng được chi, Thâm mới đến đây để may ra kiếm chút công trạng với vua

Quan cơ chính bỗng rút bảo kiếm đặt lên bàn

-Ta vâng mệnh hoàng thượng đến hỏi ông về việc Khưu Luân

Đa vân vê râu

-Thằng Luân trước có học tôi. Nhưng ông cơ chính muốn hỏi điều chi về nó ?

-Thứ nhất, về phẩm hạnh. Thứ hai, điều nó ham muốn

Đa bật cười

-Phẩm hạnh nhất định là cao, vua mới ban tước trọng. Còn điều ham muốn thì ở trong lòng nó, làm sao Đa tôi biết được

Thâm dằng giọng

-Ông là thầy dạy Luân, phải biết điều đó

Đến lúc ấy, Đa mới rót ra hai bát sối

-Mời ông cơ chính uống nước

Biết Đa chê khéo sự bất nhã của mình, Thâm càng thấy tức thêm

-Làm thầy để học trò làm loạn, ông biết mắc tội chi không ?

Đa đáp

-Đa tôi biết chi điều đó. Bỡi học trò Đa tôi chẳng ai làm loạn

Thâm nói to

-Nay, Khưu Luân đã bỏ triều đi, biết chưa ?

Đa lại vân vê râu

-Khưu Luân học hành thành đạt, vua ban đến tước văn vũ công khanh. Còn việc nó bỏ triều đi là việc vua quan các ông, can chi đến Đa tôi

Qua sông Thạch Thuỷ, ngựa vấp đá, ngã. Thâm ướt như chuột lột

-Đồ bất tài, chết đi

Quan cơ chính trút hết bực tức lên đầu con ngựa

Đi hái thuốc về, nghe thầy thuật lại chuyện, Xuyên rất lo

-Vua sẽ khép thầy vào tội khi quân mất

Đa cau mày

-Ta đâu lo chuyện ấy. Chỉ lo lương dân không ngóc đầu lên nổi, để sánh mặt cùng nhân  quần trong bốn bể

 

ĐẠI  THIẾT  TRIỀU

Vua hỏi hoàng hậu

-Ta đãi Khưu Luân là đãi kẻ hào kiệt, cớ sao nó bỏ ta ?

Mỵ im, không đáp. Lát sau hỏi vua

-Thần thiếp nghe nói lúc Luân mới vào triều  hoàng thượng đã giao cho việc thảo luật nước, có phải vậy không ?

-Phải. Đấy là cách đãi hào kiệt của ta

-Còn lúc hội vua, Luân đã xin chết thay cho Muỗng ?

-Phải. Đấy là nó đem lòng bất trung ra báo đáp ta

Mỵ thở dài, lộ vẻ buồn bực

Du không kiềm được tức giận

-Ai khanh đi bênh đứa phản nghịch ư ?

Hoàng hậu khẽ nắm tay vua

-Ngày ấy, thần thiếp có nghe triều thần bàn tán, rằng vua giao Luân thảo luật nước là để thử chơi. Còn Luân can ngăn việc chém Muỗng, vì Muỗng vô tội. Thần thiếp trộm nghĩ, đã hào kiệt trên đời, thì chẳng đời nào chịu ở lại với ông vua đối xử với mình như thế

-Đồ đàn bà

Du nạt, đẩy Mỵ ngã nơi Hiên Lãm Thuý

Qua hôm sau, trong buổi đại thiết triều, vua giận dữ truyền phán

-Qua cuộc tuần du phương bắc, ta mới thấy cả nước một lòng vì vua. Vậy mà, có kẻ dại khờ, muốn chống lại muôn dân. Nay, ta truyền lột hết chức tước Khưu Luân. Pháp hình Độc Tố cấp tốc tra xét các mưu đồ lâu nay của nó, để triều đình luận tội. Tể hầu Đam Chuyết mau phát cáo tri cho thần dân cả nước hay, để cùng truy bắt đứa phản nghịch

Thấy triều thần chợt lặng im, Du thét

-Các khanh cho lời ta là không minh chánh hay sao ?

Cơ chính Hiêu Thâm lật đật đứng lên

-Thưa hoàng thượng, việc bỏ triều ra đi của Luân tất chẳng thể dung tha. Nhưng hiện thời, Khưu Luân cũng chưa làm gì gọi là chống lại triều đình. Theo ý thần, hãy xuống chiếu chiêu an, gọi Luân về. Nếu Luân không nghe, chừng đó mới xuống lệnh truy nã.

Tể hầu Đam Chuyết dập đầu, lạy

-Thần biết Khưu Luân là đứa có lòng dạ bất trung tự lúc mới vào ứng thí. Giá hồi ấy, hoàng thượng nghe theo ý thần thì hay không biết mấy

Lễ nhạc Bào Tu vội vã quì

-Khưu Luân có ý phản nghịch tự buổi mới vào triều. Xin hoàng thượng tha cho tội chết, thần mới dám nói ra

-Nhưng là việc chi ?

Vua nạt

Tu lạy vua mấy lượt, rồi tiếp

-Hôm ấy, thần mang sắc chỉ của hoàng thượng đến dịch đình thì bị Khưu Luân hạch hỏi đủ điều, nào văn vũ khanh là tước chi, nào tại sao không được thụ phong ở đại điện. Thần bảo đấy là lệnh vua, thì Khưu Luân lập tức ném áo mũ vua ban. Lúc đến dinh quan kỵ binh Đam Lữ, Khưu Luân lại dọa giết thần, bỡi thần không chịu nói ra lai lịch  ông quan xấu số ấy.

-Thôi, đủ rồi. Làm lễ nhạc nói năng luộm thuộm như ngươi chỉ làm ta thêm xấu hổ

Du chưa hết lời, Chuyết lại quì

-Bào Tu đã không dám tâu lên vua vì sợ đứa hiếu sát. Nay tội Luân đã rõ, xin hoàng thượng xuống chiếu chém đầu

Vũ hầu Vưu Trấp chợt đứng lên

-Việc vua chém bề tôi là chuyện thường tình. Có điều, ở đây là chém quan đại thần của một triều đình có luật nước hẳn hoi. Theo thần nghĩ, Khưu Luân vâng mệnh vua đi dẹp loạn Mi Sơn, chứ nào phải bỏ triều mà đi. Còn việc chưa trở về, đến nay cũng chưa ai biết vì sao. Tai họa ở dọc đường ? Hay bị kẻ thù sát hại ? Sao các quan không nóng lòng đồng liêu ra đi vì việc nước không về, lại xúm nhau cho là phản nghịch ?

Lời Trấp tựa nhiếc móc Du. Song, vua lại lập tức tỏ vẻ ôn tồn

-Lời quan vũ hầu nghe cũng phải. Vậy trong các khanh, ai là người đi tìm quan văn vũ công khanh ?

Hiêu Dật lật đật quì

-Xin hoàng thượng đừng bắt kẻ bề tôi này phải chết chốn núi rừng xa thẳm

-Ngươi nói thế là sao ?

Vua nạt

Dật run

-Đêm ấy, sau khi mang mật thư của quan văn vũ công khanh trao cho hoàng thượng, thần đã rơi vào cõi chiêm bao kỳ dị. Thần trông thấy Khưu Luân cỡi con kim mã đứng nơi đỉnh Nga Sơn, trước mặt quan ấy là hàng hàng lớp lớp binh lính mang cung tên dáo mác. Nay xảy việc quan ấy đi bình loạn không về, thần liều chết đem chuyện mộng mị tấu bày lên hoàng thượng xét xem.

Vẻ lo âu hiện rõ trên gương mặt Du. Song, vua liền điềm tĩnh, bảo

-Biết đâu, thần linh mách bảo Khưu Luân lưu lạc ở chốn ấy

Sợ vua sai mình đi Nga Sơn, Tương Húc vội quì

-Mộng triệu là chuyện đàn bà trẻ con. Giả như Khưu Luân gặp rủi ro, đã chết, triều đình đành mất một công thần. Còn như Luân có lên Nga Sơn làm giặc, như mộng triệu của quan nội điện, cũng chẳng đáng lo. Triều đình ta binh hùng tướng mạnh lại đi sợ một gã thanh niên hăm mấy tuổi đầu làm loạn ư ? Thần trộm nghĩ, hoàng thượng nên để tâm sức cho việc kiến thiết đất nước thì hơn.

Du im một lúc, rồi truyền bãi chầu

Lập tức sau đó, cơ chính Hiêu Thâm được triệu đến gặp vua

-Khanh phải tức tốc lên Tây Biên, hiệp cùng Hiêu Căn, truy tầm thằng phản nghịch ấy. Biết đâu chuyện mộng mị của Dật lại là chuyện thật

 

TỘI  ĐI  THẲNG  LƯNG

Phái bao quan triều đi dò la, chẳng ai tìm được tung tích của Luân. Ở trong nước cũng chẳng có chuyện gì xảy ra. Du cho là Luân đã chết thật

Bấy giờ là đầu mùa đông. Vua lệnh xa giá đi Đông Biên để xem Vọng Hải Đài.

Tương Húc sợ gặp mưa, đã tức tốc lệnh cho dân chúng làm những nhà trú mưa ở dọc đường

Thấy việc khác thường, vua hỏi

-Người Đông Biên làm những nhà ấy để chi ?

Húc đáp

-Nghe hoàng thượng tuần du, dân chúng địa phương đã đua nhau xây dịch đình để hoàng thượng trú mưa.

Du liền trách Húc

-Sợ thần dân của ta bỏ công ăn việc làm đi đưa đón, ta mới bảo ngươi giữ kín chuyện tuần du. Nay xảy ra thế này, tốn hao công của muôn dân, làm sao ta vui được

Đến đất Nông thì gặp mưa lớn. Điện đền Chuyên Chiết vội rước xa giá vào nhà trạm, sau đó mới làm lễ tiếp nghinh.

Thấy đám thợ xây Vân Muôi cùng quì với Chiết, vua vội bước xuống kiệu

-Dẫu gì , các người cũng là khách của Chang Lang ta, xin chớ quá giữ lễ

Du phân trần. Rồi mời bọn họ cùng dự tiệc rượu với mình

Đến món vi cá sức, vua hỏi Húc

-Từ Vân Muôi gởi sang phải không ?

Húc vội tấu bày

-Muôn tâu, thủ trấn Đông Biên tiến dâng món mỹ vị ấy là để đền ơn mưa móc của hoàng thượng

Ở biển Đại Hải, cá sức là loài vừa quí hiếm, vừa hung dữ. Phải hằng trăm thợ lặn mới vây bắt được cá. Muốn giết một con cá sức đôi khi phải mất đôi ba mạng người.

Nếm xong món vi cá sức hấp hoa via, Du hứng thú nói với đám thợ Vân Muôi

-Nghe ta đến đất Nông, thủ trấn Đông Biên đã sai thợ lặn ra biển Đại Hải săn bắt cá sức để ta đãi các người đó. Chuyện săn bắt cá có thiệt đi một số mạng người. Song, việc ấy có nghĩa gì so với tình thân giữa hai nước Vân Muôi, Chang Lang còn sâu hơn Đại Hải.

Lúc rượu ngà say, vua khều Húc, bảo

-Ngôi ta có bền không là nhờ bề tôi như quan trấn Đông Biên

Đá quí Mi Sơn chuyển về chưa tới. Việc xây vọng đài chỉ mới ở công đoạn trưng tập dân phu

Thấy chỉ toàn bọn con trai mười tám, hai mươi, vua hỏi Húc

-Ở đây có bao nhiêu lao dịch ?

Quan khai lộ cố dấu sự lo lắng

-Thưa, bảy vạn

-Tức khanh đã trưng thêm về đây hai vạn nữa ?

-Thưa phải

Vua xem sổ bộ, thấy đúng bảy vạn người, nên khen

-Làm quan  hết lòng vì nước như khanh thật hiếm

Nhưng khi nhìn họa đồ, thấy vọng đài quá nhỏ, vua liền nổi giận

-Ta truyền bảo quan điện đền,  vọng đài phải cao lớn đàng hoàng, sao nay chỉ có chừng ấy. Chém

Đám thợ Vân Muôi vội giải bày

-Đây mới là họa đồ. Tức chúng thần nhìn theo đó mà làm. Vọng đài cao nghìn trượng, xây bằng gỗ quí đá quí Mi Sơn, tất cả mọi chi tiết đã được ghi rõ

-Thế thì được

Vua vui vẻ bảo cởi trói cho Chiết. Rồi truyền hết thảy dân phu đến nghe phủ dụ.

Vua ở lại đất Nông mươi hôm. Đi thị sát dân phu mươi lần. Yến tiệc cùng đám thợ Vân Muôi ba mươi cuộc

Hôm vua tôi sửa soạn trở lại kinh, đám thợ xây Vân Muôi đã gặp riêng quan tể hầu, nói

-Bấy lâu bọn chúng tôi nghe tiếng, nay mới rõ vua nước ông

Chuyết hỏi rõ thế nào, thì bọn họ bảo vua Chang Lang có ba cái được. Một là khéo ăn nói. Hai là giỏi việc yến tiệc. Ba là biết cách làm cho bề tôi khiếp sợ

Chuyết chỉ im lặng, mỉm cười

Nghe tin vua hồi triều, quan cơ chính phi ngựa ra tận ngoại thành Xương Quơn đón

Biết có chuyện khẩn cấp, Du nhảy xuống khỏi kiệu, lệnh hết thảy đám tuỳ tùng tránh đi nơi khác

Thâm vừa thở dốc vừa nói

-Khưu Luân đã khởi loạn

-Thằng Luân khởi loạn ở đâu ?

Vua thét

Thâm kể lại những gì do miệng Dật kể

Vua ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi bảo

-Thằng gan thỏ đó, coi chừng ta lột hết chức tước

Chang Lang Sử Lịch  có đoạn

« Mùa đông năm ấy Hiêu Du xuống chiếu, thu thêm thuế kiến thiết đất nước.

Quan cơ chính vào tận giừơng vua, nói

-Dân đang khổ cực vì việc đắp đường và xây vọng đài. Nay lại đặt thêm thuế mới, e trăm họ ta thán triều đình.

Du bảo

-Làm đường đi với xây vọng đài là cho dân hưởng. Nên dân phải nộp thuế kiến thiết đất nước là phải

Vua tôi Chang Lang chưa ngã ngũ chuyện khai trầm Nga Sơn, nhưng Vân Muôi vẫn cho thêm mấy chục tàu cập bến Xương Quơn. Kinh thành đầy đám lái buôn mới đến. Gạo ăn mỗi đấu nhảy lên ba mươi tiền, tức gấp mười lần so với trước. Hạng giàu có nhất kinh thành cũng phải ăn cháo xen cơm để phòng đói. Còn bọn  nhà nghèo thì đói thật, ngày ngày phải cho vợ con  ra bến tàu Xương Quơn chờ chực sự bố thí của đám lái buôn Vân Muôi. Buổi làm ăn khó, lại thêm sưu cao thuế nặng, ai nấy đều ngửa cổ kêu trời.

Đến lúc này, Hiêu Dật vẫn lo việc hầu trầu cho vua. Đám tôi tớ Dật ngày nào cũng ra chợ mua trầu. Bọn chúng đem chuyện mộng mị của Dật nói với những người buôn trầu. Chẳng mấy chốc, dân kẻ chợ bàn tán với nhau, rằng Khưu Luân đã dấy binh ở Nga Sơn. Tiếng đồn mỗi ngày một thêm ra. Nào Khưu Luân họp được ba vạn nghĩa binh. Nào quân nghĩa sắp xuống núi. Du tức tốc sai Thâm đi Nga Sơn. Quan cơ chính đi trong hai hôm, quay về, mật báo với vua, rằng các bộ tộc nằm dưới chân dãy Nga Sơn đã dời hết lên đỉnh cao, còn Khưu Luân vẫn bặt vô âm tín.

-Đám rợ dời làng để trốn xâu thuế đó

Du bảo. Rồi xuống chiếu cấm mọi người không được nhắc đến tên Khưu Luân. Ai không tuân sẽ bị khắc lên cả hai tay

Một hôm, vua đang xem hoa ở Hiên Lãm Thuý, thì Dật hơ hải chạy đến

-Muôn tâu hoàng thượng, đại nguy

-Nhưng là việc chi ?

Du nạt

Dật thuật lại những điều  nghe đám tôi tớ thuật lại , rằng nghĩa binh Nga Sơn sắp xuống núi, cầm đầu đám quân nghĩa là một người cao to, mày xanh, mắt sáng, luôn đi thẳng lưng

Lập tức, Du sai lính triều  lùng bắt hết thảy những người buôn trầu, đưa vào ngục Luân Giao

-Ta thấy lo

Vua nói với quan cơ chính

Thâm không dấu được nỗi lo sợ

-Thần cũng nghĩ đấy là chuyện thật

Du im một lát, rồi bảo

-Đồ đảng nó ở đây

Thâm hỏi

-Nhưng làm sao bắt chúng ?

Du đáp

-Cứ đưa hết vào ngục Luân Giao những đứa đi thẳng lưng

Kinh thành náo động, vì ngày nào cũng có năm bảy người bị bắt vì tội đi thẳng lưng

Tương Húc đi biên thuỳ phía bắc về, mật tấu với vua

-Từ Cha Man đến Cha Gung, Cha Lung, ở đâu cũng nghe phu làm đường bàn tán chuyện nghĩa binh Nga Sơn

Du thở dài

-Thế thì đồ đảng thằng Luân ở khắp nơi

Rồi lệnh Thâm đem binh triều ra phía bắc. Phu làm đường hầu hết là lũ trai tráng khoẻ mạnh, nên đứa nào cũng đi thẳng lưng. Do vậy mà ngục Luân Giao đầy ắp tội nhân

Quan pháp hình tra hỏi

-Có phải đồ đảng chúng bay nhận ra nhau khi thấy đi thẳng lưng không ?

Bị khảo đến dập xương, song, người nào cũng nói chẳng biết chuyện gì cả.

Ngày nào cũng có tội nhân đi thẳng lưng từ các trấn giải về kinh. Còn Khưu Luân thì từ vua đến các triều thần, chẳng ai biết là đang ở đâu

Hôm Du đem bảy nghìn tội nhân đi thẳng lưng ra chém, hoàng hậu Đam Mỵ cầm tay người hầu gái khóc ròng »

 

CON  ONG  CÁI  KIẾN

Chang Lang Sử Lịch  chép

“Vua Vân Muôi sai sứ sang Chang Lang thôi việc khai trầm Nga Sơn, nhưng xin mua hoa thia, trái thia.

Sợ Vân Muôi lại thôi luôn việc đắp đường với xây vọng đài, Du liền xuống chiếu cho không cho Vân Muôi giống cây ấy. Dân Chang Lang đang đói áo cơm, nên cũng chẳng mấy tiếc thứ cây trái chẳng mấy quí hiếm này.

Nghe đồn Khưu Luân làm loạn, Khưu Châu hỏi cha. Quan văn hầu phải nói thật mọi chuyện cho con trai biết

Châu thở dài, than

-Công danh làm khổ thân em con

Khưu Chiêu chẳng buồn giảng giải cho đứa con trai chỉ còn biết vui thú với đám ruộng con bò

Còn Vu Xia thì dấu mộc hương trưởng vào thắt lưng, lặng lẽ ra đi

Vợ Xia hỏi

-Nhà nó ra đình làng?

Xia đáp, tựa lệnh vợ

-Ta lên dinh, trả ấn tín. Ngay từ bây giờ, nhà nó không còn là bà hương trưởng, rõ chưa?

Tưởng Xia đùa chuyện hứa hảo của Tương Hất, vợ Xia bảo

-Đấy có thăng quan triều, đây cũng chẳng màng

Xia liền rỉ tai vợ

-Thằng Luân sắp đánh chiếm kinh thành. Triều đình này sắp đổ, biết không?

Sau hồi nghĩ ngợi, vợ Xia kéo Xia vào nhà

-Giặc chưa đánh tới đã trả chức tước, tất quan trên nghi nhà nó có liên can  với giặc. Chi bằng, cứ mang lễ vật đến lấy lòng quan văn hầu Khưu Chiêu. Như  thằng Luân thắng vua, nhà nó đã có Chiêu che chở. Còn chẳng xảy việc chi, nhà nó cứ làm hương trưởng như cũ

Xia nghe phải. Liền mổ cặp heo, lấy hai đầu hai nọng đem biếu Chiêu

Thấy vợ chồng hương trưởng mang lễ vật tới, Chiêu đóan biết bọn họ đang mưu tính gì

-Nay ông hương trưởng làm thêm nghề mổ heo nữa sao?

Chiêu vờ hỏi

Xia nháy mắt, bảo vợ nói

Vợ Xia liền khom mình

-Chúng con nuôi được cặp heo. Vợ chồng bàn tính, đây là dịp để báo đáp ơn quan văn hầu. Bỡi ở trong làng, nhà con được làm hương trưởng là nhờ uy danh quan lớn.

Xia đem đầu heo nọng heo đặt lên bàn. Rồi tiếp lời vợ

-Đây là của vợ chồng con làm ra. Mong quan văn hầu nhận cho

Vợ Xia tiếp

-Ở đời sống thảo thơm với nhau mới quí. Mà quan văn hầu đã thương, thì nhất định quan sẽ che chơ, khi chúng con gặp họan nạn

Thấy vợ chồng Xia thay nhau nói, Chiêu không nhịn được cười. Nhưng liền nghiêm mặt

-Bà hương trưởng nói lầm rồi. Một là nhờ thủ dinh Tương Hất, ông được làm hương trưởng, chứ không phải nhờ ta. Hai là ta chẳng che chở được, nếu ông hương trưởng có tội với dân với nước. Thôi, mang thịt về đi

Ra khỏi nhà Chiêu, Xia bảo vợ

-Ta đi, làng xóm có bề chi, nhà nó gắng bảo bọc lũ con

Vơ Xia thất sắc

-Giờ nhà nó đi đâu?

-Lên trấn. Thằng Hất cử ta làm hương trưởng, nay trả lại cho nó.

Ở trấn đường Nam Biên vừa có lệnh nội bất xuất, ngoại bất nhập. Xia phải thế mộc hương trưởng cho đám lính canh, mới được vào.

Hất đang rầu rĩ, nằm khoèo, nghe Xia đến, vội ngồi dậy, hỏi

-Ở quê có biến rồi phải không?

Thấy quan thủ trấn có vẻ sợ hãi, Xia càng nẫu ruột

-Thưa, lúc Xia này ra đi thì không có chi

-Thế, ông lên đây có việc gì?

Xia liền quì

-Nhờ ơn quan trấn, Xia này giữ chức hương trưởng bấy nhiêu năm. Nay vì tuổi cao sức yếu, không kham nổi việc nước, nên xin trả lại

Hất gục xuống hồi lâu, rồi ngẩn lên, nói

-Ta cũng đang nát ruột vì chức thủ trấn đây.

Xia cố nài nĩ

-Nay Xia này ngót nghét sáu  mươi. Tới tuổi ấy mà còn làm quan làng, chỉ có hại cho dân  cho nước.Mong quan trấn vì việc công, xóa tên Xia này trong sổ bộ

-Được. Để ta lệnh cho thủ dinh Xương Tây

Biết tính Xia nói dai, Hất hứa cho qua chuyện

Mặc lính canh cổng gọi, Xia cứ vờ không nghe, đi thật mau, để khỏi phải nhận lại mộc hương trưởng

Nghe chuyện Xia đến trấn trả chức hương trưởng, vợ Hất hối Hất

-Nhà nó cũng về triều gấp đi, còn đợi chừng nào?

Hất than

-Ta còn mặt mũi nào để gặp Tương Húc nói chuyện trả chức

-Chết đến nơi, còn mặt với mũi

Nghe vợ mắng, nước mắt Hất trào ra

-Giá hồi đó ta đừng tham, chỉ giữ chức thủ dinh, thì đỡ biết bao

Cuối cùng, Hất cũng về kinh gặp Húc

-Chừng đó tuổi trên đầu, còn ngu. Thằng Luân mà thắng, ông có làm chức chi cũng bị nó giết, rõ chưa?

Nghe Húc mắng, Hất càng thêm kinh hãi

-Thế giờ phải làm sao?

-An ngủ đường hoàng.  Nếu chuyện xảy ra, đến vua cũng phải chịu, nữa là

Húc thật lòng khuyên  Hất. Rồi đi lo công việc với Chuyết

Quan tể hầu bảo

-Con ngươi là cháu ta. Còn con ta là cháu ngươi. Nên của cải của ta, cũng là của ngươi.

Đến lúc ấy Chuyết mới thú thật với Húc, là ông đã gom góp được mấy vạn cân vàng

Húc bảo

-Có chuyện chi, bọn ta chắc chết. Quan anh đã được chừng ấy, thôi thì, mấy ngàn cân vàng cướp được của Vân Muôi, để trọn cho Húc này

-Đồ tham. Cứ đem chia đôi, rồi hẳn tính

Chuyết nói

Vàng của Chuyết đựng túi da. Vàng của Húc đựng túi vải

Quan tể hầu nói

-Giờ ta và ngươi phải đích thân đi chôn

Húc nói

-Phải. Lũ con cháu ta mà biết, thì lộ chuyện, cả hai ta đứt đầu như chơi

Bỗng Chuyết giật mình

-Nhưng ngộ lỡ thằng Luân thắng, cả hai ta đều bị giết, thì làm sao?

Húc cũng giật mình

-Thằng Luân mà thắng, nhất định nó chẳng tha bọn ta

Cuối cùng, quan tể hầu nói

-Của cải không thể rời người. Vàng của ta , ta giữ. Vàng của ngươi, ngươi giữ. Chừng nào chết, hẳn liệu.

Tính toan xong công việc của mình, Chuyết còn phải lo toan cho ông quan rể.

-Nhà con xấu số qua đời. Nay, quan tể hầu còn đàn cháu ngoại. Tu này cứ sợ có bề chi thì bỏ lũ chúng

Tu thở than với quan nhạc phụ.

Chuyết hỏi

-Nhưng bọn chúng đã làm gì ngươi?

-Thưa, làm gì thì chưa. Nhưng cứ thấy bọn chúng nhìn, thì Tu này chết khiếp

Chuyết nói

-Bọn chúng thù ngươi là phải. Đàn hát không bỏ buổi nào. Nhưng khẩu phần ăn thì ngươi xén bớt. Thằng Luân mà thắng, chúng sẽ lột da ngươi

Quan lễ nhạc quì

-Xin nhạc phụ chỉ cho cách, để Tu này vẹn tòan mạng sống

Chuyết nạt

-Ngày ngày phải cho lũ ca công ở Cung Nguyệt Khuyết no đủ nghe chưa

Ngày ngày vào hầu vua, thấy vua tỏ vẻ bình thường, Dật lấy làm lạ, đến hỏi Thâm

-Sao hoàng thượng vẫn như không?

Thâm trừng

-Hãy im mồm, kẻo mất mạng. Ngày nào vua cũng phải đem lũ tội nhân đi thẳng lưng ra chém để bớt lo sợ. Thằng Luân mà thắng, họ Hiêu nhà ta chẳng còn mạng nào, rõ chưa?

Lời thành thật của Thâm khiến  Dật lo lắng đến sinh bệnh, chỉ năm hôm thì chết”

Cuối đoạn trên có lời bình của sử quan như vầy

”Đám quan ấy, lúc thường thì bòn rút của lương dân, như lũ ong chuyên hút trộm mật các loài hoa. Đến khi nước sắp có biến thì tính đường tháo chạy, tựa đàn kiến sợ cơn mưa lũ”

 

CHẤN  CHỈNH

Tương Húc đến than với Chuyết

-Đường đắp xong, tất vua bỏ chức quan khai lộ. Húc này chẳng biết sẽ ngồi đâu?

Quan tể hầu lộ vẻ giận dữ

-Ta biết tỏng ngươi đã toan tính ngồi ở đâu rồi

Húc vội chạy ôm chân Chuyết

-Trăm sự đều nhờ ở quan anh

-Đồ lừa vua, phản bạn. Chẳng phải ngươi ton hót hoàng thượng, rằng ta đã già, phải thay người khác ư?

Chuyết nạt

Rồi đi gặp vua

Thấy quan tể hầu có vẻ vui, Du hỏi

-Khanh có tin gì về Khưu Luân chăng?

-Thưa không. Nhưng theo thần nghĩ, hết thảy chỉ là đồn nhảm

-Ta cũng nghĩ thế

Quan tể hầu chợt u sầu

-Có điều, thần lấy làm đau buồn, vì mất quan nội điện là triều đình mất đi một bậc trung thần nghĩa khí

Vua thở dài, nhìn Chuyết, có ý dò xét

Im trong giây lát, quan tể hầu nói

-Thần  cũng đang nóng lòng muốn biết hoàng thượng cho ai thay Dật

Vua lắc đầu

-Chưa. Ta định hỏi ý khanh đấy

Chuyết vờ nghĩ ngợi

-Người thay Dật, ít nhất phải bằng Dật. Mà hiện nay thần thấy có một người có thể thay Dật

-Ai vậy?

-Thưa, Tương Húc

-Quan khai lộ kiêm luôn tước cũ của Dật có tiện không?

-Thưa, khi đường đắp xong, tước khai lộ tất không còn. Húc thì thừa sức ngồi ghế văn hầu kiêm luôn nội điện, như Dật

Vua mỉm cười, bảo

-Khanh quả là kẻ biết nhìn xa

Rồi cho đại thiết triều để nghe truyền chỉ chiếu

-Vừa qua, các khanh ai nấy đều hết lòng vì nước , mà chưa được ban thưởng lần  nào. Ta đương kiêm hoàng đế Chang Lang nay truyền cho các khanh rõ. Thống binh Viên Cưu, vũ hầu Vưu Trấp đều là những bề tôi có công lớn với tiên triều, nên ta cho Cưu thăng đại thống binh, Trấp thăng vũ công hầu, cả hai đều được hưởng thêm bốn trật bỗng lộc. Văn vũ công khanh Khưu Luân chưa biết sống chết thế nào, nên cơ chính Hiêu Thâm phải kiêm luôn tước ấy, lại phải kiêm luôn tước thống binh, thống lãnh hết thảy binh lính trong nước. Thủ trấn Tây Biên có công trong việc dẹp loạn Nga Sơn, nay thăng tước vũ khanh, thống lãnh binh lính mạn biên thuỳ phía tây của nước

Có tin sứ Vân Muôi sang, nên vua ngừng việc ban thưởng, lệnh Thâm

-Khanh thay ta, tức tốc đến dịch đình tiếp sứ giả

Đến lúc ấy, Chuyết mới khều Húc, bảo

-Ta đã tâu vua, cho ngươi ngồi ghế văn hầu kiêm luôn nội điện rồi đấy

Vua bỗng đầm đìa nước mắt

-Ta buồn vì nghĩ đến quan nội điện Hiêu Dật, bỗng sớm lìa trần. Nay truyền cho Hiêu Thuông, con ta, thay cho quan ấy, và kiêm luôn tước vũ hầu

Rán lắm, Chuyết mới khỏi quị xuống sân chầu, vì lần này thì ông đã thua vua

Du tiếp

-Việc ban thưởng đã xong. Nay ta thay thần Cốc, truyền cho muôn dân được rõ. Bất cứ thần dân Chang Lang nào, ngày ngày đều phải hít thở, đi đứng trên đất nước của thần, nên mỗi người từ lúc sinh ra đến lúc chết phải nộp thuế dưỡng sinh và thuế đi lại, mỗi người mỗi năm là một nghìn quan. Pháp hình Độc Tố kiêm luôn tước tổng thâu, lo tu chỉnh sổ bộ dân, đến cuối đông này, không còn ai là không nộp thuế mới

Tố liền quì

-Điều thần chưa rõ, là những người ốm đau, nằm một chỗ, với những người sắp chết, có nộp thuế mới không?

Vua đáp

-Chẳng chừa ai. Đến vua như ta cũng phải nộp

Lúc ra khỏi đại điện, Trấp khều Cưu, cười

-Ta với ông gặp may

Cưu cũng cười

-Phải. Không họ Hiêu mà cũng được thăng. Từ nay, tất bọn ta được ngồi chơi xơi nước

Việc thu thuế mới chẳng gặp trở ngại. Vì trấn nào dinh nào cũng đưa lính về giúp đám quan địa phương ốp thúc việc thuế.

Riêng việc tuyển thêm lính, quan tân thống binh Hiêu Thâm phải đến than với vua

-Vừa qua, trai tráng trong nước lớp chết vì tội đi thẳng lưng, lớp lo đắp đường và xây vọng đài. Thần e không tuyển được vạn lính như ý của hoàng thượng

Du thở dài

-Ta biết. Nhưng chống bạo loạn chẳng gì hơn dùng binh.

Cuối cùng, vua Vân Muôi đã thõa thuận với Du. Vân Muôi cho cả người và của trong việc đắp đường và xây vọng đài. Đổi lại, Chang Lang phải cho Vân Muôi tuyển lũ con gái mười bảy mười tám sang nước ấy làm nghề dệt gấm.

Lập tức, đám trai tráng Chang Lang đang đắp đường được sung hết vào lính. Và đám lái buôn Vân Muôi ở dưới tàu đã kéo đến thay cho đám trai tráng ấy

Hôm năm nghìn đứa con gái Chang Lang xuống tàu sang Vân Muôi, Du  vui vẻ bảo Mỵ

-Ta đã có trong tay đám quan trung thành, với năm vạn binh lính, thì còn sợ chi thằng Luân

Hoàng hậu chỉ im lặng, nhìn vua

 

LŨY  NGA  SƠN

Nghe Du sát hại bảy nghìn dân vô tội, Luân ngửa cổ , than

-Trời hại nước Chang Lang ta

Điên giác nói

-Sách Dụng binh thư  chép, loài cá mực yếu mềm mà giữ được dòng giống là nhờ biết thả ra thứ chất đen để ngăn lũ ác ngư. Khưu huynh thử gẫm ý thầy xem sao

Mất mươi hôm, Luân mới nghiệm ra chỗ ấy

-Phải lo việc ngăn giặc trước. Sau mới chiêu tập nghĩa binh

Luân bảo. Rồi cùng Giác đi gặp tộc trưởng Bơ Man

-Từ ngày lên đây, người Nga Sơn cho anh em ta cái ăn. Anh em ta bày cho người Nga Sơn biết giữ nước trên suối để làm nương rẫy, biết lấy vỏ trao làm guốc, biết lấy dây rưa bện làm chiếu, chẳng ai làm mắc lòng đám vua quan dưới trung nguyên. Vậy mà vừa qua, vua bảo anh em ta cùng người Nga Sơn làm loạn, đem chém bảy nghìn người trung nguyên cho là đồ đảng của bọn ta. Một ngày chẳng xa, vua sẽ xua quân lên đây sát hại người Nga Sơn. Nay xin bảo cho tộc trưởng biết

Luân vừa dứt lời, ông Bơ Man thét

-Vậy thì ta phải đem hết dân Nga Sơn đi trừ lũ vua quan độc ác

Giác từ tốn bảo

-Binh triều hơn năm vạn. Ta đánh không lại đâu

Ông Bơ Man cắm ngọn dáo xuống đất

-Vậy các anh tính sao?

Luân bẻ cành khô, sắp thành hình sông núi Nga Sơn, rồi nói

-Tộc trưởng xem đây. Xưa, dân Nga Sơn sống ở nơi ngủ dậy thấy mặt trời. Nay, do

không có tiền  nộp thuế cho vua, phải chạy đến nơi lúc ngủ dậy chẳng thấy mặt trời. Nếu nay mai vua xua quân lên đây, thì biết chạy đi đâu ?

Ông Bơ Man rút ngọn dáo lên. Rồi cắm lại xuống đất

-Thế sao các anh không cho bọn ta đánh trước ?

Luân nói

-Đánh trước là thất sách. Mình chỉ giữ làng giữ nương cho kỹ. Đến lúc đủ sức rồi, mà họ đánh mình, thì mình đánh lại. Hãy lấy sông suối làm hào, lấy cây rừng, vách đá làm thành lũy. Theo Luân này, ta phải làm một lũy dài ngăn cách Nga Sơn với trung nguyên. Chỗ có vách đá thì làm máy đá. Chỗ suối giáp suối thì làm bẩy, làm mang cung. Có hào lũy rồi, dân Nga Sơn  mới yên tâm làm ăn. Có giặc, thì kéo hết ra hào lũy chống giặc

Ông Bơ Man rút ngọn dáo lên, nói

-Ta phải đi hết sáu mươi tư bộ tộc  để nói cho mọi người biết chuyện này

Đi một tháng về, ông gặp Luân, bảo

-Ngày mai hết thảy dân Nga Sơn đi xây lũy

Thủ trấn Tây Biên gởi mật thư cho vua

Từ ngày hoàng thượng giao cho Căn này canh giữ biên thuỳ phía tây, thì cứ năm mười bữa là cho lính lên tuần tra vùng núi Nga Sơn. Hết thảy đều bình yên. Chỉ vừa rồi mới xảy việc đào hào, đắp lũy. Phía nam đến tận Mi Sơn. Phía bắc trải tận Hoắc Sơn. Nghe đâu bọn rợ Nga Sơn đem cả đàn bà con nít đi xây lũy, nên mới làm mau chóng đến vậy. Thần đã tức giận mang hết lính trấn đi phá lũy. Mới hay lũy vừa dài vừa hiểm trở. Nghe lệnh thần, đám binh lính xông lên, thì lớp chết vì máy đá, lớp chết vì mang cung.Kẻ thất trận này đáng lẽ phải về triều chịu tội. Song, lại sợ có biến xảy ra, chẳng ai cầm đầu đám quan quân ở đây, nên phải bằng thư tấu bày lên hoàng thượng. Cúi mong hoàng thượng sớm bảo ban phải làm sao .”.

Hiêu Du hoảng hốt cho đại thiết triều

-Rợ Nga Sơn nay đắp lũy ngăn chia hai miền xuôi ngược là có ý đứng riêng một cõi, chẳng còn nể triều đình. Các khanh từng chịu ơn tiên vương, giờ phải hết lòng với ta.

Vua nói đến đây thì tuôn rơi nước mắt. Đại điện chợt  im như chết.

Thật lâu sau, quan tể hầu mới đứng lên, dáng mỏi mệt

-Thần lấy làm hổ thẹn với bá quan, vì lúc xảy cơn nước lửa thì chẳng còn đủ sức cầm cung lên ngựa. Làm quan đến tuổi bảy mươi, coi như thừa. Xin hoàng thượng cho thần được lui về.

Du kéo vạt áo bào lau mắt

-Giữa lúc thế này, khanh lại bỏ ta ư  ?

Bào Tu vội dập đầu, lạy

-Quan tể hầu tuy tuổi cao, nhưng bấy lâu là cột trụ triều đình. Theo ý thần, lúc này hoàng thượng nên ban thêm phẩm tước cho người đứng đầu văn võ ban, để điều khiển bá quan, lo trừ đại loạn

Vua liền gật đầu, bảo

-Lời khanh rất phải. Nay cho tể hầu Đam Chuyết được thăng tể công hầu, bỗng lộc được thăng năm trật. Quan lễ nhạc lo chọn ngày lành tháng tốt để quan tể hầu thụ phong tước phẩm mới

Chuyết sụp xuống sân chầu

-Ơn hoàng thượng to như trời biển, Chuyết này nguyện đem thân già hiến dâng cho nước

Chuyết chưa kịp ngồi, pháp hình Độc Tố đã quì

-Nhờ ơn hoàng thượng, vừa rồi các quan được thăng phẩm tước, nhưng một số được tăng bỗng lộc, một số thì chưa. Cúi mong hoàng thượng xét xem

Vua gật đầu, bảo

-Lời khanh rất phải. Nay truyền ban thêm bốn trật lương bỗng cho các quan được thăng phẩm tước mà chưa thăng lương bỗng. Quan tể công hầu cấp tốc tu chỉnh sổ bộ quan triều, để các quan được hưởng bỗng lộc mới

Vua vừa dứt lời, quan điện đền đã quì

-Vừa qua, thần cùng quan ngoại điện Nhữ Bột khi Vân Muôi lúc Chang Lang, xông pha sương gió, lo việc đắp đường. Điều may cho chúng thần là được vua giao cho việc đại sự. Nhưng rủi là chúng thần không có trong số các quan được ban thêm phẩm tước. Cúi mong hoàng thượng soi xét

Vua tỏ vẻ ân hận, nói

-Ta thật là sơ xuất. Nay truyền cho điện đền Chuyên Chiết được thăng điện công đền, ngoại điện Nhữ Bột được thăng ngoại công điện, cả hai đều được tăng bốn trật lương bỗng

Quan cơ chính chợt đứng lên

-Nay các quan đều được tăng phẩm tước và bỗng lộc, nên là lúc phải hết lòng phò vua, cứu nước. Theo Thâm này, hết thảy các quan đều phải đưa ra kế sách trừ nạn cát cứ Nga Sơn

Chuyết lập tức quì

-Đây là việc quân, xin hoàng thượng cho quan tân thống binh được đưa ra kế sách trước

Vua đưa mắt ra hiệu, bảo Thâm nói

Thâm liền đứng lên

-Theo ý thần, ta nên cử người đi Nga Sơn chiêu dụ tộc trưởng Bơ Man, kẻ trước đây từng cầm đầu các bộ tộc nổi loạn. Nếu không xong, sau đó mới tiến binh

Chuyết lại quì

-Muôn tâu hoàng thượng, rợ Nga Sơn xây trường lũy là đã quyết tách khỏi triều đình. Theo thần, việc chiêu dụ ắt chẳng thành

Quan khai lộ cũng lật đật quì

-Xưa, thần từng tuyển ngựa ở Nga Sơn, nên rất rõ nơi ấy. Suối thì sâu, còn vách đá chập chùng. Đường đi, lúc xuyên qua ghềnh thác, lúc chui vào rừng gai rậm rạp. Trên đầu, dưới chân, có rắn rít nằm chờ. Trước mặt, sau lưng, thì thú dữ rình rập. Bọn rợ đã biết lấy chốn hiểm trở dựng riêng một cõi. Nay các quan định đưa kế sách bình định Nga Sơn, nên thần phải tấu bày cho hoàng thượng rõ.

Thái tử Hiêu Thuông đứng lên

-Thần đọc qua sử sách nhân quần, thấy bao nhiêu nước cũng xảy nạn cát cứ. Lẽ đời hợp chia, chia hợp là thường. Xin hoàng thượng chớ quá lo lắng mà sinh trọng bệnh

Điện đền Chuyên Chiết, ngoại điện Nhữ Bột dập đầu, lạy vua

-Lời thái tử chí phải. Xin hoàng thượng giữ gìn long thể, để lo đại sự hôm nay là việc kiến thiết đất nước

Thấy Thâm có vẻ trầm ngâm suy nghĩ, vua hỏi

-Quan cơ chính thấy sao ?

Thâm lại đứng lên

-Kế sách của thần đã nói ra. Giờ còn chờ các quan

Chuyết lại quì

-Thần trộm nghĩ, muốn tiến binh giành lại hai vạn rợ Nga Sơn, ta cũng phải mất chừng ấy quân triều. Chi bằng, chẳng chiêu an, cũng chẳng tiến binh, mà chỉ bủa vây. Không chịu nổi đói khát, tất bọn rợ phải qui thuận triều đình

Vua có vẻ phân vân

-Chúng sẽ tìm lấy cái ăn ở trên núi, sao khanh bảo là đói khát ?

Chuyết đáp

-Bao đời qua, rợ Nga Sơn ăn muối, mặc vải của trung nguyên. Bủa vây lâu ngày, tất bọn chúng sẽ không chịu nổi cảnh lạt cơm, thiếu áo

Vua bước xuống khỏi ngai vàng, đỡ Chuyết đứng lên

-Khanh quả là bề tôi rường cột của triều đình.

 

CON   CHIM  KHƯU  LẺ  ĐÔI

Ông Luốc Bưa hỏi

-Liệu anh Luân có chịu được cực khổ mãi không ?

Luân đáp

-Phải cực khổ mới làm nên đại sự

-Ta hiểu

Ông Luốc Bưa nói. Rồi đem đàn khuyết ra dạy Luân. Học năm hôm thì gảy được khúc Linh Lang. Nghe tiếng đàn của Luân, con gái ông Luốc Bưa đem lòng yêu

-Ở làng này không ai đàn hay bằng anh Luân

Mưng nói

Luân vừa gảy đàn vừa hát “chim khưu chim khưu mày bay về đâu?”

Con gái ông Luốc Bưa hỏi

-Anh Luân cũng làm được bài hát sao ?

Luân đáp

-Đâu phải bài hát. Lời con chim khưu lẻ đôi đấy

Tộc trưởng Bơ Man nói

-Muối sắp hết. Người Nga Sơn sắp nguy

Luân bảo

-Ta đã có cách

Rồi cùng Giác đi hái lá thít để đốt lấy tro

Dân làng ăn, thấy giống muối, mừng nói

-Vậy là bọn  ta khỏi chết

Ông Bơ Man liền đi khắp sáu mươi tư bộ tộc Nga Sơn để nói cho biết cách làm ra muối

Làng Nậm Nang ở sát dãy Mi Sơn. Tộc trưởng làng ấy đến nói với Luân

-Hết mùa đông này thì áo bận rách hết

Luân bảo

-Đừng lo

Rồi đi hỏi ông Bơ Man

-Tộc trưởng biết người nào biết lấy trầm không ?

Ông Bơ Man đáp

-Ở Nga Sơn chỉ có bảy người biết lấy trầm. Năm ấy, quan triều lên đây bắt bảy người ấy đi khai trầm cho bọn họ. Được bao nhiêu trầm đem hết về kinh. Còn bảy người kia không thấy trở về

Điên Giác nói

-Ngày ấy, em có nghe thầy kể chuyện đi lấy trầm ở nước Tân Tang. Giờ, cho Giác này đi thử

Nghe dân Nga Sơn đem trầm sang Tây Miêu đổi lấy muối, gạo và vải, Hiêu Du rất tức giận

-Ta xem chúng như nước anh em. Nay lại xoay sang giúp rợ Nga Sơn làm giặc. Phải đánh thôi

Vua phán

Quan tân thống binh lo lắng hỏi

-Lũy Nga Sơn trải từ bắc chí nam, quân ta đi đường nào để sang chinh phạt Tây Miêu ?

Vua đáp

-Đốt Nga Sơn trước. Rồi tiến binh sau

Quan tể hầu vội ngăn

-Muôn tâu hoàng thượng, cực chẳng đã mới gây cuộc can qua. Vả, Tây Miêu chỉ làm việc bán buôn, chứ nào phải giúp rợ Nga Sơn. Theo ý thần, cứ xem Chang Lang ta không có hai vạn rợ ấy, khắc hoàng thượng sẽ yên lòng

Hầu hết các quan triều đều tỏ đồng tình với Chuyết. Vua đành phải nghe theo.

Linh Lang là khúc nhạc buồn. Những đêm trời yên, Luân lại mang đàn khuyết ra suối, gảy khúc ấy, rồi hát bài chim khưu. Mưng nghe trộm nhiều lần, nên cũng hát được bài ấy

Con gái ông Luốc Bưa nói

-Người Luốc Bưa làm khúc Linh Lang là để khóc người thân. Nhưng anh Luân lại làm bài hát để gởi chim khưu

Luân bảo

-Ta chờ, mà không thấy chim khưu trở về

Mưng nói

-Mùa lúa chín ở trung nguyên sắp xong, lũ chim khưu cũng sắp về

Luân lại gảy đàn, hát “chim khưu chim khưu mày bay về đâu “

Con gái ông Luốc Bưa bỏ ăn bỏ ngủ suốt mấy hôm.

Ông Luốc Bưa hỏi

-Lòng mày đã có ai rồi phải không ?

Ơ Nga Sơn, con gái phải lòng ai, coi như  thần linh đã định

Một đêm, Luân mang đàn khuyết ra suối đã thấy Mưng chờ ở đó

Con gái ông Luốc Bưa nói

-Thần núi Nga Sơn đã xui khiến em tự lần đầu nghe anh gảy khúc Linh Lang

Tới lúc ấy, Luân mới hoảng hốt, bảo

-Thần đất trung nguyên cũng xui khiến ta gặp một người con gái ở đó

Mưng khóc, nói với cha

-Muộn mất rồi. Nhưng làm sao con cưỡng đựoc thần linh

Ông Luốc Bưa chỉ thở dài, im lặng

Điên Giác hỏi

-Khưu huynh định chừng nào thì chiêu tập nghĩa binh ?

Luân đáp

-Nay người Nga Sơn cơm chưa no, áo chưa ấm, nên ta chưa thể làm điều gì

Giác không dấu được lo lắng

-Nga Sơn hơn hai vạn dân. Mà giờ trên nương chỉ có củ moi

-Phải. Hiêu Du bắt dân trung nguyên nộp cả thuế đi thuế thở, để vỗ béo năm vạn binh. Ta chỉ ăn củ moi, nên chưa thể chống nổi bọn họ.

Chưa nghĩ được cách khởi binh, đêm nào Luân cũng mang đàn khuyết ra bờ suối, hát

Một hôm, Giác bảo

-Nghe khúc Linh Lang tựa nghe ai khóc

Luân  ngưng đàn, nói

-Người chồng chống chọi suốt nửa ngày. Cuối cùng, đành để hổ dữ mang vợ mình đi. Do vậy mới có khúc nhạc này

Giác thở dài, nói

-Nay, ở trung nguyên, vua còn dữ hơn hổ dữ

Luân cũng thở dài

-Ta mong sao trừ xong bạo chúa, để trở về Xuyên Lâm, cưới Xuyên. Rồi ngồi chép lại hết thảy việc đời.

 

BUỔI  YÊN  BÌNH

Du nghĩ là Luân đã chết. Song, để chắc ăn hơn, lại xuống chiếu ban tước á hầu cho ai giết được Luân

Khưu Châu rất hãi, khi thấy lệnh vua ở đình làng

-Đấy là vua muốn tỏ quyền uy. Còn thằng Luân, đến vạn binh triều cũng không bắt được

Quan văn hầu Khưu Chiêu bảo.

Châu lại thở dài, than

-Công danh làm khổ thân em con

Vu Xia hỏi vợ

-Nhà nó có muốn làm bà á hầu không ?

Rồi giắt mộc hương trưởng vào lưng, hăm hở lên trấn

Thấy Xia lại tìm đến mình, Hất đùa hỏi

-Ông đến trả ấn tín nữa phải không ?

Xia cố ra vẻ sợ sệt

-Ngày ấy quan trấn thương tình cho lại mộc hương trưởng. Nếu không, giờ Xia này chỉ là anh dân đen

-Thế ông lên đây để đền ơn ta ?

-Thưa, trước đền ơn. Sau xin quan trấn làm tròn lời hứa ngày nào

Hất ngã lưng ra ghế, cười ngất

-Ta sẽ cho ông làm thủ dinh như đã hứa. Nhưng nếu thằng Luân khởi binh thật, ông có trả ấn tín nữa không ?

Xia chau mày

-Thằng Luân còn sống, cũng chẳng thoát nổi lưới trời

Chợt có lính trấn vào thưa

-Ngựa đã đưa đến. Mời quan trấn ra xem

Hất lật đật đứng lên

-Thôi, ông hương trưởng về làm việc làng ít năm nữa rồi nghỉ già. Chừng ấy tuổi, triều đình chẳng thăng phẩm tước cho ông đâu

Xia giận dữ, bứt mấy sợi râu cằm quăng xuống đất

-Khi ta được tước á hầu, đừng hòng đến cầu cạnh, nghe chưa

Tay buôn ngựa người Vân Muôi rất sành tiếng Chang Lang hỏi Hất

-Quan trấn định sắm tứ mã hay song mã ?

Hất đáp

-Tất nhiên là tứ mã

-Thế, hãy bắt một cặp màu tro với một cặp màu lam là đúng sách nhất

Hất gật đầu

-Ông đoán trúng ý ta

Rồi lệnh thuộc hạ tách bốn con ngựa vừa nói ra khỏi đàn

Lẽ ra Xia đã bỏ đi. Nhưng đám ngựa Vân Muôi đã giữ chân ông ta

Lúc Hất vào lấy tiền trả tiền ngựa, Xia hỏi tay buôn ngựa

-Cả ngựa lẫn xe, một cổ song mã là bao nhiêu ?

Tay buôn ngựa lễ phép đáp

-Thưa, xe mắc rẻ tùy gỗ, ngựa mắc rẻ tùy giống. Một cổ song mã cũng trên dưới bốn trăm cân vàng. Còn cổ tứ mã phải đến ngàn cân

Hất trả tiền ngựa xong, bảo tay buôn ngựa

-Ông bạn ta đây là hương trưởng làng Xuyên Lâm, cũng đang định sắm xe tứ mã đấy

Tay buôn ngựa vội nghiêng người, vái chào Xia

-Kẻ hèn này từng đưa ngựa đến  các ngài thủ trấn thủ dinh ở tận biên thuỳ phía bắc Chang Lang

Xia lại ngắm nghía đàn ngựa, rồi bảo

-Xuyên Lâm ta thuộc trấn này. Khi cần, ta sẽ nhắn ông

Lúc tiễn Xia đến cổng trấn đường, Húc bảo

-Ta biết, trước sau ông hương trưởng cũng tóm được thằng Luân. Tước á hầu vào tay ông là chắc

Lời Hất làm Xia vui sướng khôn cùng. Bóng đêm ập xuống là ông cắp dao ra nấp ở đầu làng. Cứ nghĩ đến ngày giật được tước á hầu, hương trưởng Xuyên Lâm lại thấy tay chân khoẻ ra như thời trai tráng

Đám phu Vân Muôi làm đường ra biên thuỳ phía bắc làm một ngày nghỉ năm bảy ngày. Khi vào các làng bày việc ăn uống. Khi kéo đến các dinh đường trấn đường mở tiệc khoản đãi bọn lính dinh lính trấn

Tương Húc mật báo việc ấy với vua,vua chỉ nói

-Họ giúp ta kiến thiết đất nước, lẽ ra ta phải khoản đãi họ mới phải

Rồi giao hẳn Chuyết tiếp xúc vua Vân Muôi lo việc đắp đường và xây vọng đài. Quan tể hầu cùng sứ giả Vân Muôi qua lại Chang Lang, Vân Muôi như cơm bữa.

Từ ngày đưa hết đám phu Chang Lang sang lính, quan khai lộ rất bực dọc trong lòng

-Lẽ ra quan anh và Húc này phải kiếm được hằng chục xe tứ mã nữa

Nghe Húc than, Chuyết chỉ nói

-Thôi, hãy xem việc công là trọng

Đến lúc phát hiện thấy vọng đài ở đất Nông xây cao đến hai nghìn trượng, Húc hoảng hốt bảo Chuyết

-Đám thợ Vân Muôi đã chôn đứng Húc này

Chuyết hỏi

-Ngươi  nói thế là sao ?

-Thưa, vua bảo cao nghìn trượng, nay đám thợ Vân Muôi xây cao gấp hai

Chuyết cười

-Nếu vua bắt tội, ta sẽ chịu thay cho ngươi

Lời Chuyết quả đúng. Vua đi đất Nông, thấy vọng đài cao ngút, thích vô cùng, liền cho mở yến tiệc khao công

-Được như vầy là nhờ giúp đỡ của vua Vân Muôi cùng lòng tận trung của quan tể hầu và quan khai lộ

Vua nói xong, cùng nâng chén với đám thợ Vân Muôi và các quan triều

Thừa dịp, Chuyết quì, tâu

-Ngày trước , thần có đề đạt mở thêm cửa Đông Biên. Song, hoàng thượng chưa phán quyết. Nay, vua Vân Muôi đã hứa với thần, sẽ giúp Chang Lang ta mở thêm cửa bể ấy. Xin hoàng thượng cho biết thánh ý

Vua uống liền hai chung, rồi bảo

-Thật phúc cho Chang Lang ta

Liền sau đó, vua Vân Muôi cho tàu chở lính thuỷ cập bờ Đông Biên. Chỉ trong mấy tháng, chỗ con sông Gất gặp bể Đại Hải đã thành nơi tàu bè ra vô

Không tơ hào được nửa xu trong việc mở cửa bể mới, nhưng thấy Chuyết hớn hở khác thường, Húc lấy làm lạ lắm

-Quan anh vui nỗi gì ?

Nghe Húc hỏi, Chuyết chỉ mỉm cười

Làm cửa bể xong, đám lính thuỷ rút hết xuống tàu, nhổ neo ra khơi. Nhưng mấy hôm sau thì mấy trăm thuyền buồm, cờ xí lộng lẫy, tiến vào cửa Đông Biên. Trên thuyền đi đầu có viên sứ thần của nhà vua Vân Muôi

Du lại cùng các quan đại thần đi Đông Biên. Văn võ ban coi như  đủ mặt. Chỉ Vưu Trấp và Viên Cưu là cáo bệnh. Bấy giờ, vua và quan tể hầu Đam Chuyết đã có xe tứ mã. Các quan khác thì đi ngựa. Đi đầu là xe của vua. Sau cùng là đám binh triều khiên heo khiên rượu. Đánh xe cho vua là tên quân hầu theo hầu vua từ lúc mới lên ngôi. Do tuổi cao với chưa quen xe tứ mã, người hầu đã để xe đổ xuống ruộng . Cả vua lẫn ngựa đều bị bết bùn. Húc rút gươm, toan chém người đánh xe, nhưng vua không cho

-Nếu chém thì chém quan khai lộ. Bỡi xe đổ là do đường không đủ cho xe đi

Vua vui vẻ bảo. Rồi cho gọi quan tổng thâu Độc Tố đến nghe lệnh

-Đi chuyến này về, khanh phải lập lại sổ bộ thuế. Hãy tăng ba lần mức thu cũ, để đủ tiền làm đường đi Đông Biên .

Để tỏ lòng tri ân vua Vân Muôi, Du đã cho mang theo chiếc mâm ngọc, vật gia bảo của họ Hiêu, để tặng vua ấy.

-Ta chỉ có vật này là quí nhất. Nay xin gởi đến hoàng đế của khanh

Du nói với sứ giả.

Rồi mở yến tiệc mừng cửa bể mới. Heo bò, khoản mấy trăm. Rượu via, khoản mấy nghìn vò. Vua tôi cùng mấy nghìn khách Vân Muôi ăn uống trong ba hôm liền

Sau tiệc của vua là tiệc của sứ giả Vân Muôi

-Vừa rồi, thần được vinh hạnh uống chén rượu cạn của quí quốc. Nay xin mời hoàng thượng cùng quí quan uống chén rượu thuyền của bản quốc.

Sứ giả Vân Muôi đích thân đến mời vua

Du tỏ vẻ phân vân

-Đường sang bên ấy xa muôn dặm. Mà  ta thì phải trở về triều nội trong ngày mai

Sứ Vân Muôi nói

-Chỉ sang bên lâu thuyền, ngay đây thôi

Tuy hào hoa từ tuổi mười tám, nhưng khi đặt chân lên  lâu thuyền Vân Muôi, Du cứ ngỡ lạc đến cõi đời khác. Đèn nguyệt lạc thoắt lu thoắt tỏ. Hằng trăm cô gái hầu rượu xinh đẹp lượn lờ giữa khúc nhạc liêu êm ái đến tê người.

Sứ Vân Muôi đứng lên giữa tiệc, nói

-Rượu voan chế từ hoa thia của quí quốc đấy. Xin mời hoàng thượng cùng quí quan nâng chén

Lập tức, cô gái mặc áo gấm vàng bưng mâm rượu đến áp má vào má của vua

-Kẻ nô tì vinh hạnh được hầu hoàng thượng

Du hơi ngẩn người. Nhưng liền uống cạn mấy chung rượu trên mâm

-Khanh bao nhiêu tuổi ?

-Thưa, vừa tròn mười tám

Cô gái đáp. Đoạn áp người vào người của vua

Lúc Du tỉnh dậy, thấy mình và người con gái hầu rượu đang nằm trên giừơng trải gấm đỏ. Đèn nguyệt lạc nhấp nháy trên đầu

-Ở đây là đâu ?

Vua bàng hoàng, hỏi

Cô gái khẽ nắm mấy ngón tay vua

-Thưa, trên lâu thuyền dành riêng cho hoàng thượng

-Còn các quan của ta ?

-Cũng trên các lâu thuyền dành riêng cho các quan

Cô gái toan mặc lại xiêm áo. Nhưng vua ra hiệu cứ để thế.

Có tiếng nước vỗ mạn thuyền.

Vua chợt hỏi

-Có phải ta là hoàng đế nước Chang Lang không ?

-Thưa phải.

-Nhưng khanh học tiếng Chang Lang từ bao giờ ?

Cô gái với lấy long bào của vua đắp lên người mình, rồi đáp

-Muôn tâu hoàng thượng, kẻ nô tì vốn là gái Chang Lang

Du có vẻ hoảng hốt, ngồi bật dậy

-Ngươi sang bên ấy từ bao giờ ?

-Muôn tâu, kẻ nô tì này là một trong số năm nghìn người con gái xuống thuyền sang Vân Muôi ngày ấy

Du gục xuống giừơng, hồi lâu mới ngẩn lên. Nhưng chẳng nói được lời nào

Cô gái bỗng ràn rụa nước mắt

-Theo lệnh nhà vua Vân Muôi, ngày chúng thần học dệt gấm, đêm học điểm trang, không lúc nào là chúng thần nguôi nỗi nhớ quê hương. Điều may cho chúng thần là tiết trinh của đời con gái được giữ đến đêm này

Ngay sau đêm ấy, Du nhận được quốc thư của vua Vân Muôi

Việc mở cửa Đông Biên coi như đã xong. Nay chỉ xin mỗi điều là cho các lâu thuyền của bản quốc được mãi mãi lưu lại nơi ấy “

-Phúc thay cho đất nước Chang Lang ta

Đọc xong, Du cảm động nói với sứ giả Vân Muôi. Rồi cáo biệt, quay về triều.

Vua nhớ rượu voan thì ít, nhưng nhớ người hầu rượu thì nhiều. Cứ năm mười bữa, Du lại giao việc triều cho Chuyết, lên đường đi Đông Biên

Thú uống rượu thuyền loan đi khắp nước. Bến Đông Biên dập dìu ngựa xe của đám quan gia.

Ngày nào cũng có đám buôn ngựa Vân Muôi lùa ngựa qua ải Xương Linh. Còn tàu buôn Vân Muôi thì thay nhau chở xe tứ mã xe song mã, rượu voan, cập bến Xương Quơn.

Chẳng mấy lâu, đám lính triều cũng sắm được xe riêng ngựa riêng. Vua Vân Muôi lại cho mấy trăm lâu thuyền nữa cập bến Xương Quơn.

Buổi yên bình, từ vua quan đến binh lính đều vui say. Số rượu voan uống hằng ngày nhiều không kể xiết. Đến lúc ấy, dân Chang Lang mới biết thia là loài cây quí, và thấy tiếc. Nhưng người Vân Muôi đã đốn sạch, nhổ sạch, cả cây mẹ lẫn cây con, coi như  Chang Lang đã tiệt chủng giống thia.

Thủ trấn Cha Gung bàn với vợ

-Số trâu thu được của dân ngày ấy nay đã sinh sản đến mấy ngàn con. Sự giàu có thì vô cùng, mà đời ngừơi quá ngắn ngủi. Hay là ta đem bán bớt trâu, sắm xe sắm ngựa, mở mặt với đời.

Mấy hôm sau, người ta thấy quan trấn Cha Gung đi xe tứ mã xuống tận các làng để nhắc nhở dân nộp thuế.

Thấy từ quan đến lính đều đi xe tứ mã xe song mã, vua vội xuống chiếu

“Nước có kỷ cương thì sự yên bình mới bền vững. Nay, dân ra khỏi nhà đã có đường to để đi. Quan ra khỏi nhà đã có xe có ngựa. Ta đương kiêm hoàng đế Chang Lang bảo cho mọi người rõ. Dân ra đường gặp xe của vua phải quì. Gặp xe các quan triều thì nghiêng người bên phải. Gặp xe các quan trấn quan dinh thì nghiêng người bên trái. Để tiện bề thưa hỏi của muôn dân, kể từ nay, chỉ xe vua mới dùng rèm che màu vàng. Xe các quan triều phải dùng rèm đỏ. Xe các quan trấn quan dinh thì dùng rèm màu xanh. Riêng hương trưởng các làng và lính, thì xe không được che rèm, cũng như miễn sự chào hỏi của dân chúng :

Có một hôm Cưu  gọi cửa nhà Trấp vào lúc nửa đêm.

-Ông vũ hầu có rượu sẵn đấy không ?

Trấp thở dài

-Có uống nghìn chung ông cũng chẳng thể nguôi ngoai

Quan thống binh chợt đầm đìa nước mắt

-Năm nghìn con em Chang Lang phải bán thân cho vua quan Chang Lang để Trắc Mạ lấy tiền. Mà bọn ta thì ngồi đây than thở

Quan vũ hầu khóc rống to lên

-Chang Lang ta hết hào kiệt rồi phải không ông thống binh ?

 

KHÓ  KHĂN

Nghe Hiêu Du bán đứng mấy nghìn gái trinh cho vua Vân Muôi, Luân ngửa cổ than

-Trời đày dân Chang Lang ta

Ông Bơ Man lại đòi đi trừ đám vua quan độc ác

Giác thở dài, bảo

-Trầm ở Nga Sơn đã hết. Gạo ăn sắp cạn. Chưa thể xuống núi được

Ông Luốc Bưa đến nói với Luân

-Do trời nắng quá, củ moi trên nương đã hư quá nửa

Ở làng Kua Lây, sát biên giới nước Bắc Mân, đã có người chết đói

Tộc trưởng làng ấy hoảng sợ, đến nói với ông Bơ Man

-Hay cứ để dân Kua Lây qua bên kia lũy Nga Sơn tìm cái ăn

Ông Bơ Man giận dữ cắm ngọn dáo xuống đất. Rồi bỏ đi

Liền sau đó, dân Bơ Man cùng dân Luốc Bưa kéo lên nương, đào hết số củ moi còn lại. Từ Luốc Bưa sang Kua Lây mất mấy ngày đường. Đàn ông cõng củ moi. Đàn bà cõng gạo

Tộc trưởng Kua Lây ứa nước mắt, nói

-Người Kua Lây no, thì người Bơ Man với người Luốc Bưa đói. Làm sao bây giờ ?

Ông Bơ Man bảo

-Kua Lây hay Bơ Man, Luốc Bưa đều là người Nga Sơn

Luân  nhớ trong  Thịnh Quốc Thư  có chép chuyện đói ở nước Xua Lôi, nên vội đi gặp ông Bơ Man

-Tộc trưởng biết mùa này thì loài cây nào có quả không ?

Ông Bơ Man đáp

-Chỗ cao nhất có cây gơn. Chỗ các gộp đá có cây trứt. Anh Luân hỏi mấy thứ đó chi ?

Luân nói để thay củ moi và gạo.

Ông Bơ Man giật mình

-Đấy là giống cây trời, không ăn được đâu

Luân bảo

-Cây nào cũng là giống cây trời. Ta đã có cách

Rồi đi hái trái gơn, trái trứt, cho chó ăn thử. Đến ngày thứ ba, thấy chó chẳng hề chi, Luân mừng nói

-Thay củ moi với gạo được rồi

Lập tức ông Bơ Man đi sáu mươi tư bộ tộc để nói cho mọi người biết chuyện đó.

Trái già nấu thay củ moi và gạo. Trái chín trộn với tro thít làm thức ăn. Trái ăn được, tất lá cũng ăn được. Liền đem giã làm bánh

Ông Bơ Man mừng, nói với mọi người

-Mùa nào cũng có cây ra quả. Người Nga Sơn ta chẳng còn lo chết đói

Hết củ moi, lại trái rừng, ai nấy đều thèm cơm gạo. Ở làng Nậm Nang đã có nhiều người trốn sang Mi Sơn

Ông Bơ Man lo lắng nói với tộc trưởng làng ấy

-Người Mi Sơn bắt nộp cho triều đình mất

Nhưng hết thảy đã trở về với gạo, muối, heo gà

Tộc trưởng Nậm Nang hoảng hốt

-Đã làm việc giết người cướp của ư ?

Những người trở về cho biết, ở Mi Sơn xâu cao thuế nặng, ai cũng muốn ở riêng một cõi, như Nga Sơn, nhưng chẳng có kẻ đứng ra cầm đầu

Luân muốn sang Mi Sơn để may ra tìm được cách khởi binh, nhưng Giác không cho

Ông Bơ Man bảo

-Để ta đi trước

Đi gần tháng, về, ông gặp Luân, nói

-Người Mi Sơn cũng căm ghét bọn vua quan như người Nga Sơn

Do ăn rau quả quá lâu, người già kiệt sức. Khắp sáu mươi tư bộ tộc trên dãy Nga Sơn đều có người chết

Ông Bơ Man hỏi Luân, vẻ giận dữ

-Đến bao giờ mới cho bọn ta xuống núi ?

Luân buồn, mang đàn khuyết ra bờ suối, nhưng không gảy

Giác nói

-Hay cứ tiến đánh Tây Biên, kiếm ít lương thảo, rồi sau đó hẳn liệu

Luân bỗng ngửa cổ, hát khúc Mân Sơn, rồi bảo

-Phải. Đánh Tây Biên xong, ta thẳng đến Xương Quơn. Nhưng trước hết phải mời được thầy ta lên núi

 

XUỐNG NÚI

Thấy Điên Giác đột ngột trở lại vào lúc giữa khuya, ông Đa Trà lo sợ trong lòng

-Làm sao con về đây ? Mà về có chuyện chi?

Giác ứa nước mắt, đáp

-Nga Sơn đang gặp cơn đói kém. Bọn con vẫn chưa tìm được cách khởi binh. Trở về đây là để xin thầy giúp anh em con lo toan đại sự

-Lũ con muốn ta lên núi ?

-Thưa phải

Đa trầm ngâm trong giây lát

-Từ Nga Sơn về đây, con đã gặp những gì ?

Giác đáp

-Giả làm kẻ bán thuốc dạo, con đã tránh được tai mắt của quan quân các dinh các trấn. Song, lúc đến Xuyên Lâm thì xảy ra việc

Đa lộ vẻ sợ hãi

-Luân bảo con về thăm ông văn hầu ?

-Thưa, chỉ sai con về gặp thầy. Nhưng con đã ghé lại Xuyên Lâm vào lúc nửa đêm. Không ngờ có kẻ nấp ở đầu làng xông ra. Chém chết kẻ ấy, con thẳng về đây.

Đa thở dài

-Từ ngày vua ban chiếu thưởng tước á hầu cho ai giết được Luân, tất đám quan quân địa phương luôn rình rập chờ Luân. Kẻ bị con giết chắc là đứa trong bọn chúng

Giác không dấu được lo lắng

-Thế, sẽ xảy điều chi, thưa thầy ?

Đa điềm tĩnh, bảo

-Bọn chúng tất báo về triều, rằng Luân  có về Xuyên Lâm.Vua tất cho quân truy tróc

Giác quì

-Việc hưng binh tất sẽ khó hơn nhiều. Mong thầy vì lẽ hưng vong của nước, chấp nhận lời cầu xin của bọn con

Đa đỡ Giác đứng lên

-Điều đó ta đã nghĩ từ lâu

Đi chữa bệnh về, trông thấy Giác, Xuyên  chỉ òa khóc

Giác nói

-Ở Nga Sơn, anh Khưu Luân luôn ngóng đợi con chim khưu

-Còn ta, thì không ngày nào là không ngóng về phương ấy

Nói xong lời này, Xuyên lại đầm đìa nước mắt

Giác phải lưu lại Xuyên Lâm để chờ quyết định  của thầy. Ngày, vào Ngũ Sơn hái thuốc, để phòng tránh quân triều. Đêm cùng thầy luận bàn binh pháp

Một hôm, Đa hỏi

-Muốn thắng giặc, trứơc tiên ta phải có những gì ?

Giác đáp

-Thưa, phải có binh lính cùng binh khí

Đa chợt im giây lát

-Ở Nga Sơn chỉ trồng được lúa lướt phải không ?

-Thưa phải. Thiếu nước, lúa lướt chết khô. Chỉ cây củ moi mới sống được. Nhưng vừa rồi , hạn hán kéo dài, củ moi cũng hư hết

Đa nói

-Việc này ta đã quên chép vào sách. Là ở nước Xua Lôi có giống lúa bươn sống được trên đất khô cằn. Nhất định bọn con phải đem giống ấy về trồng ở Nga Sơn

Giác lo lắng, nói

-Đến một nơi chưa bao giờ đến, e bọn con khó làm nổi

Đa nghiêm mặt

-Bằng tuổi các con, ta đã đặt chân lên chốn ngàn trùng xa lạ ấy. Dân là gốc của mọi sự. Muốn nên nghiệp lớn, bọn con phải thật lòng thật dạ với người Nga Sơn

Những  ngày ở Xuyên Khê, Đa đã truyền cho Giác hết thảy những phương lược cần đem dùng trong việc tụ nghĩa.

Ngày lên đường đã định. Xuyên cố xin thầy cho mình cùng đi

Đa nói

-Ta biết quan vũ hầu là bậc trung chính. Có điều, giờ chưa phải lúc con phải làm thế.

Xuyên đành phải nghe lời thầy, sắp xếp hành trang, trở về kinh

Giác xin tiễn Xuyên đi

Đa bảo

-Ai biết quân triều truy tróc lúc nào. Con có bề gì thì hỏng việc lớn

Rồi đích thân đưa Xuyên qua sông Thạch Thủy

-Công thầy lớn như trời biển. Biết bao giờ con  mới đền đáp nổi

Xuyên cầm tay thầy khóc, nói

Đa cũng rơm rớm nước mắt

-Việc dạy học trò của ta, coi như đến đây là hết. Nay liều đem tuổi xế chiều ra thử với vận  nước.

Nghe thầy nói, Xuyên lo lắng lắm. Bấy giờ là giữa ngọ. Bến Thạch Thủy vô cùng vắng vẻ.

Đa bỗng rút kiếm, chỉ xuống sông, nói lớn

-Đã đến lúc con đại bàng già phải từ giã cõi trời cao rộng. Uổng thay

Đến ngày lên đường đi Nga Sơn, Đa gom hết sách vở vào hòm, rồi gọi Giác, bảo

-Từ việc làm người đến việc làm vua, cả thảy là hai trăm linh chín quyển . Riêng việc làm vua, có pho Vạn Nan, ta chưa đem giảng các con. Nay giao hết cho Khưu Luân và con làm của hương hỏa. Dòng họ nhà ta nay chỉ còn mỗi ta. Nên khi ta mất rồi, các con hãy gắng nhan khói cho họ Đa. Cứ coi đây là lời trăn trối của ta. Thôi, đã đến lúc phải lên đường rồi đó

Giác  vô cùng kinh ngạc trước những lời lẽ kỳ lạ của thầy, nên chẳng thốt nên lời

Đa tiếp

-Giờ là sắp nửa đêm. Khi mặt trời lên, nhất thiết con phải qua khỏi địa phận trấn Nam Biên.

Đến lúc ấy, Giác mới hoảng hốt, quì

-Thưa, chẳng phải cho Xuyên về kinh, để thầy trò ta cùng đi Nga Sơn hay sao ?

-Phải. Ta sắp đem thân già hiến dâng cho đại sự đây

Giác cầm lấy tay Đa

-Thưa, con vẫn chưa rõ ý thầy ?

Đa nhìn đứa trò yêu

-Trước sau, vua cũng cho người đến bắt ta với ông văn hầu. Nay con giết chết quan quân ở Xuyên Lâm, việc ấy tất xảy sớm hơn. Nếu đi Nga Sơn, ta sẽ mang tiếng với đời sau là trốn tránh

-Vậy thầy ngồi đây đợi chết sao ?

-Không phải đợi chết. Mà đem cái chết hiến dâng cho đại cuộc

-Thưa, con vẫn chưa hiểu ý thầy

Đa lặng đi giây lâu

-Nay thái hậu Tương Linh và quốc sư Bồ Đài đã mất. Ở triều, chẳng còn ai dámnói thẳng với vua. Nên ta quyết gặp vua một lần thử xem sao

Giác khóc ròng, nói

-Thầy đi phân bày với ông vua vô đạo, thì chỉ nhận lấy cái chết mà thôi

Đa nghiêm mặt nhìn Giác

-Ta đã sắp đặt việc này từ lâu. Con hãy lên đường đi thôi

 

QUAN  QUỐC  HUẤN

Sau khi Điên Giác trở lại Nga Sơn, quả nhiên  Du đã mật sai Thâm đến Xuyên Khê

Tiếp chiếu chỉ của vua xong, Đa đi nấu nước sối để đãi quan cơ chính

-Sắp tới, ông là quan triều nên chẳng còn khổ cực như  bấy lâu

Thâm nói xong, uống cạn bát sối

Đa cười

-Được vua ban tước trọng, tất đời ta đã đổi khác. Có điều, làm quốc huấn mà chỉ dạy đám con em các quan, thật uổng phí

-Thế theo ông thì dạy ai mới xứng ?

Đa uống liền mấy bát sối, rồi hỏi Thâm

-Ông có biết chuyện vua Hiêu Lịch chùi xuống khỏi giừơng để lạy quốc sư Bồ Đài không ?

-Biết. Nhưng chuyện ấy can hệ chi đến tước quốc huấn của ông ?

Đa vân vê râu

-Ta ao ước được làm ông Bồ Đài. Một đôi ngày cũng được

Thâm rất tức vì những lời trịch thượng của Đa. Song, chẳng biết nói sao, vì đã là quan quốc huấn thì có thể dạy vua

Ở Xuyên Khê người ta tưởng Đa đi làm quan thật. Đến mấy trăm binh lính hộ tống kiệu của Đa. Cờ xí rợp đường

Vua hỏi quan cơ chính

-Chừng nào thì bắt Chiêu ?

Thâm đáp

-Ông Đa Trà thì ta vờ triệu về triều làm quan. Nhưng Khưu Chiêu, thần chưa nghĩ ra cách

-Cứ bắt nó về tội để con trai làm loạn cho ta

Thâm điềm tĩnh, nói

-Theo tấu bày của thủ dinh Xương Tây, Khưu Luân đã về Xuyên Lâm sát hại hương trưởng Vu Xia. Song, đấy chỉ là đóan định. Chiêu là quan đại thần, có công lớn với tiên triều, được tiên vương ban gươm báu. Nay chẳng có bằng chứng gì, làm sao bắt tội ông ta

-Cứ bắt trước, làm tội sau, rõ chưa ?

Du chợt thét

Thâm đứng lên, nét mặt u sầu

-Vương triều họ Hiêu sở dĩ đứng vững trong bấy nhiêu năm là do các đấng tiên vương biết quí lòng trung can của những người trong hoàng tộc. Nay chỉ vì tức giận Luân, xuống lệnh bắt Chiêu, làm sao tránh khỏi hậu họa. Nếu hoàng thượng khăng khăng, không đổi ý, thần xin trả chức cơ chính, lui về dân dã

Du ngẫm nghĩ, rồi bảo

-Thôi được. Ta nể lời khanh, hoãn lại việc làm tội Chiêu

Từ Xuyên Khê, ông Đa Trà được đưa thẳng tới dinh cơ cũ của Luân. Tiếng là quan triều, Đa chẳng được vào chầu vua. Nhưng kẻ ăn người ở đến hơn trăm. Đa biết đây là cách bỏ ngục của vua, nên yên lòng chờ ngày thực hiện kế sách của mình

Vưu Xuyên xin phép cha đến thăm thầy. Quan vũ hầu biết việc đến thăm Đa là hiểm nguy. Song không thể can ngăn con gái

Trấp dặn dò Xuyên, Cơ

-Hai đứa phải giả làm học trò cũ của Đa đến thăm thầy. Khi thầy trò đàm đạo, nhất thiết không được để ngừơi khác nghe. Đến chỗ Đa là việc hệ trọng. Các con phải nhớ lời ta

Đám lính của vua vốn háo sắc, nên việc hai cô gái xinh đẹp vào chỗ Đa không khó mấy. Cơ giả làm gái trắc nết, thu hút cả đám lính hầu, để mỗi Xuyên vào gặp thầy

Đa hỏi

-Các quan triều không ai biết con theo học ta phải không ?

Xuyên rưng rưng nước mắt

-Cả việc con là con gái quan vũ hầu cũng chẳng ai rõ. Thầy đến nông nỗi này sao ?

Đa cầm tay đứa trò yêu

-Thầy trò ta gặp nhau đây là lần cuối. Vua sẽ giết ta. Trước khi chết, ta chỉ mong con giữ lòng son sắc với ngừơi con yêu quí. Luân là kẻ hào kiệt đời nay đó

Xuyên oà khóc

Đa nghiêm mặt

-Lúc nước lâm nguy, đàn bà con gái cũng phải xắn tay cùng lo với mọi người. Thôi, con hãy về đi

Vua nói với Thâm

-Hãy giết Đa, để khỏi tốn công canh giữ, và làm cho Luân nhụt khí nếu nó còn sống, mưu chống lại triều đình

Quan cơ chính cố phân bày

-Đa là bậc kỳ tài, cả nước biết tiếng. Giết Đa chỉ làm muôn dân ta oán. Còn nếu Luân có mưu phản, thì việc giết Đa chỉ làm tăng thêm lửa hận trong lòng nó mà thôi. Chi bằng, cứ giữ Đa như bấy nay, Luân có mưu phản cũng chẳng nhờ cậy được Đa, nhưng hoàng thượng được tiếng biết đãi kẻ hiền sĩ

Vua cho là phải. Song, lại lệnh Hiêu Thuông, bấy giờ đang kiêm tước nội điện, ngày ngày phải bớt phần ăn của Đa, để ông ta chết dần mòn

Chang Lang Sử Lịch  có đoạn

“Hôm ấy, Đa thức dậy sớm, mặc áo quần vải gai, đội mũ lá trao, như lúc ngồi dạy

học ở Xuyên Khê. Biết Đa muốn ra khỏi dinh, đám quân hầu nhắc lại lệnh vua

-Chừng nào có chiếu chỉ của hoàng thượng, quan quốc huấn mới được ra khỏi nơi đây

Đa bảo

-Bữa nay ta phải vào triều

Lập tức, hơn trăm quân hầu tuốt gươm đứng chặn ở tiền sảnh

Đa trìu mến nhìn bọn chúng

-Ta đi lần này là để cho lũ ngươi có thêm cơm ăn áo bận, bớt đi cảnh bị hất hủi của kiếp nô tì

Mặc Đa nói lời phải trái, bọn quân hầu vẫn áp lại, toan trói ông

Biết chúng chỉ làm theo lệnh vua, song, Đa không thể không ra tay

Sau khi đánh quị hơn trăm quân hầu, Đa chọn thanh gươm bén nhất của bọn chúng, đeo vào người, rồi thẳng đến triều

Thấy Đa thình lình xuất hiện giữa đại điện, bá quan đều hoảng hốt

Du hét

-Quân cấmvệ đâu ?

Đa nhìn vua, cười

-Xin hoàng thượng đối đãi với quan quốc huấn như các quan triều khác

May hôm ấy Hiêu Thuông không vào chầu, ghế văn hầu bỏ trống

Vua luống cuống, giả làm vui

-Bấy lâu, ghế quan quốc huấn vẫn để đấy. Bỡi ta muốn khanh tĩnh dưỡng cho lại sức, sau đó hẳn vào chầu

Cơ chính Hiêu Thâm vội đứng lên

-Xin mời quan quốc huấn ngồi

Đa bước tới, kéo ghế của Thuông đặt giữa đại điện. Song vẫn đứng.

Du thất sắc, liếc mắt hỏi ý Thâm. Thâm ra hiệu bảo vua phải đích thân đến mời Đa

Lúc đã ngồi vào ghế, Đa nhìn vua, nói

-Thần được triệu về kinh đã mấy tháng. Dân đang đói khổ, nên mỗi ngày hoàng thượng cho thần ăn mỗi ít đi, là phải lẽ. Có điều, làm quan triều mà chỉ ngồi ăn không, thần lấy làm xấu hổ trong lòng.

Vua vội ngắt lời Đa

-Đừng nghĩ thế. Ta chỉ muốn khanh được an nhàn  ít lâu, để bù lại những ngày kham khổ ở Xuyên Khê

Thâm tiếp lời vua

-Triều đình hiện còn lo xây nhà dạy học. Quan quốc huấn cứ an tâm tịnh dưỡng

Đa ngửa mặt, cười vang

-Sắm thầy dạy học, nhưng chưa có học trò, khác nào sắm vua quan mà chưa có thần dân. Việc trị nước đời nay lạ lắm

Đại điện chợt im như chết.

Đa đứng lên, sửa lại thanh gươm đang đeo, rồi tiếp

-Thần sở dĩ dám nhận chiếu chỉ về triều làm quốc huấn vì ít nhiều hiểu được hoàng thượng và các quan triều. Các hoàng tử, công chúa, cũng như con cháu các quan sau này nên người chăng là do trách vụ của thần. Nhân còn chờ lập trường học, thần muốn đàm đạo với hoàng thượng và các quan, để việc giáo huấn sau này thêm phần kết quả

-Ý khanh hay lắm. Nhưng là đàm đạo về đề mục chi ?

Vua vui vẻ, hỏi

Đa đáp

-Cũng chỉ để rõ hơn về hoàng thượng và các quan. Vì dạy học trò, trước hết người thầy phải rõ cha mẹ chúng là ai

-Được. Khanh hãy nói đi

Vua phán

Do Luân đã từng phác họa diện mạo các quan triều cho thầy nghe, nên Đa dễ dàng nhận mặt từng người

Quan quốc huấn nhìn Chuyết

-Quan tể hầu cao tuổi nhất, nên Đa tôi xin đàm đạo cùng ông trước

Mặt Chuyết đổi sắc. Song vẫn gượng vui

-Quan quốc huấn cứ nói

Đa chợt rút kiếm, vung

-Nếu đây là kiếm báu vua trao, thì Đa tôi đã chém ông từ lâu. Mang tước nhất phẩm triều đình mà ti tiện như ông thì sử sách nhân quần chưa thấy chép. Một là lừa lọc vua, để từ kẻ giữ sổ bộ triều đình nhảy tót lên đứng sau vua. Hai là lập bè lập đảng, ám hại các bậc trung can. Ba là sát hại quân hầu để khỏi bị chém vì tội xén cắp công quĩ triều đình. Đa tôi kể sao cho hết. Khi giáo huấn con cháu ông, tất Đa tôi phải làm sao cho chúng không giống ông

Khi thấy Đa vung gươm, vua và các triều thần đều rất hãi. Nhưng liền nghe Đa luận tội Chuyết, cả vua, cả các vị quan triều ghét Chuyết, đều lấy làm ưng bụng, hết thảy đều im lặng, để cho Đa nói.

Sợ xảy chuyện chẳng lành, Thâm đã đứng lên.

Nhưng Đa đã tiếp

-Thôi, Đa tôi đã rõ, quan cơ chính chớ nói gì thêm về quan tể hầu. Ngôi báu của hòang thượng có bền không là nhờ ông đấy. Phải. Có ông, Đa tôi mới được triệu về kinh làm quốc huấn. Số là hoàng thượng đã chém Đa tôi, nếu ông không cản. Làm cơ chính  như ông, quả hiếm. Chỉ có ông mới được cùng vua bàn việc cơ mật. Vậy mà khi vào chầu vua, ông phải ngậm đắng nuốt cay đứng sau quan tể hầu

Đa chợt hướng về phía vua

-Hoàng thượng tất rõ việc chẳng đội trời chung của hai kẻ sừng sỏ ở triều. Song, là bậc cao thủ, hoàng thượng cứ lặng im, để được cả hai. Quan tể hầu biết vua làm sai phép nước, vẫn tung hô vạn tuế, để được ung dung kéo bè kết cánh, cướp bóc của lương dân, nếu được thì cướp cả ngôi vua. Quan cơ chính thấy vua bạo ngược, vẫn ngoảnh mặt làm ngơ, miễn việc vua làm có lợi cho sự bền vững của vương triều họ Hiêu của mình. Đa tôi may đi được nhiều, thấy được nhiều. Song chưa thấy có vua nào dám giết mẹ để giữ ngôi, dám lấy máu dân, nhiều đến thế, để đắp đường cho vua đi, xây cung gác cho vua chơi. Hoàng thượng đã lầm. Làm sao Đa tôi lại đi dạy dỗ con cháu đám vua quan sống thua loài chó ngựa.

Dường, vua chẳng còn đủ sức gọi quân cấm vệ, cứ ngồi trơ ra đó để nghe, cho đến lúc  Đa lấy gươm tự  rạch ruột, hốt lấy phân, ném lên chỗ vua ngồi

Đến lúc chết, Đa vẫn ngồi thư thái giữa đại điện, như lúc ngồi dạy học ở Xuyên Khê”

 

QUỐC  TANG

Du  xuống lệnh chém bất cứ ai để lộ ra ngoài chuyện Đa đến triều hạch tội vua. Rồi sai Bào Tu phát cáo tang, chôn cất Đa theo nghi thức quan triều chết.

Thâm lo sợ đến phát bệnh. Vua đích thân đến thăm

Quan cơ chính sụp lạy

-Thần ngàn lần đáng tội chết

Vua vội đỡ Thâm đứng lên

-Đa chết thế, ta đỡ tốn công nuôi giữ, lại được tiếng đãi hiền sĩ, việc chi khanh lo sợ

Thâm nhìn vua, dò xét

-Nhưng nếu thần không can ngăn, chém Đa từ đầu, đâu xảy sự thể thế

Du mỉm cười

-Đa quả là bậc kỳ tài như khanh nói, biết tất tật chuyện thâm cung. Nhưng khanh nghĩ xem. Trị nước mà không thế, thì ta chỉ ở ngôi được mấy tháng, còn khanh làm quan  chỉ được mấy ngày

Thấy vua không tức giận , Thâm liền tỏ ý bất bình về việc chôn cất Đa

-Đa làm nhục quan triều, nay lại được chôn cất theo nghi thức quốc tang, có khiến bá quan phẫn nộ không ?

Du im không đáp. Lát sau hỏi Thâm

-Khanh nghĩ về Chuyết thế nào ?

Thấy Thâm có vẻ sợ hãi, Du bảo

-Cứ tỏ thật lòng với ta đi. Dẫu Chuyết là cha đẻ của hoàng hậu

Thâm nhìn vua

-Thưa, đúng như lời Đa nói giữa triều hôm nọ

-Tức, khi có thể thì cướp cả ngôi vua ?

-Thưa phải

Vua ra hiệu, bảo Thâm ngồi

-Ta rõ Chuyết tự lúc ông ta nhậm chức tể hầu.

Chớp cơ hội, Thâm nói

-Xưa nay, cướp ngôi vua thường là kẻ đứng kế sau vua. Đã rõ tâm địa Chuyết, sao hoàng thượng còn để ông ta giữ tước ấy

Vua bật cười to

-Khanh thâm thuý, song còn có chỗ hẹp hòi. Cái được của Chuyết là ta sai bảo việc khó mấy cũng làm được. Còn tham muốn của ông ta thì ta đã cột kỹ từ lâu. Mà thôi. Chuyện của Chuyết giống chuyện chơi bài so. Ta chỉ lo Khưu Luân còn sống.

Thâm thở dài

-Đa thế, tất học trò của Đa cũng thế. Thần cũng thấy rất lo

Du liền lệnh Hiêu Thuông cầm đầu quân cấm vệ canh giữ hết thảy các ngả vào kinh thành Xương Quơn, trước khi đi chôn Đa. Linh cửu Đa được chở trên xe tứ mã. Xe của vua và các quan triều đi sau xe chở linh cửu. Tiếp theo là dân chúng kinh thành đi đưa ma. Nghe nói đây là quốc tang, đám thương nhân Vân Muôi dưới tàu kéo cả lên bờ để xem cho biết. Do vậy đám tang của Đa cũng lớn chẳng kém đám tang của các vua trước.

Lúc sắp bước lên ghế chủ tang để đọc ai điếu, vua chợt hoảng hốt, ngoắc Thâm đến

-Hôm bắt Đa, khanh có lấy được sách vở của ông ta không ?

Thâm cũng hoảng hốt

-Thưa, lúc vội vã, thần đã quên  mất chuyện ấy

Vua liền ngất ngã bên chân quan cơ chính

Dù cố bưng bít việc Đa vào triều hạch tội vua, nhưng sau đó, dân kinh thành đã rõ mọi sự

Xuyên xin cha, phục tang cho thầy

Quan vũ hầu bảo

-Để tránh tai mắt của vua, con chỉ nên giữ niềm đau ấy trong lòng

Có một hôm, Trấp bảo Cơ trông chừng cổng vườn, rồi gọi Xuyên vào hậu sảnh

-Chỗ thấp hèn của ta là ngày ngày vẫn phải đến triều gặp mặt đám vua quan thấp hèn ấy

Quan vũ hầu ứa nước mắt, nói với con gái

Xuyên cầm lấy tay cha

-Sách Thịnh Quốc Thư của thầy con có tả cảnh ngậm đắng nuốt cay của những bậc trung can ái quốc gặp buổi triều chính suy vong. Thời nào cũng có chuyện  ấy, chứ đâu phải chỉ riêng Chang Lang ta

Trấp vò trán, vẻ khổ tâm

-Ở triều, ta với Viên Cưu là cái gai trong mắt vua. Có hó hé điều chi, tất vua chẳng để yên cho đâu.

Quan vũ hầu chợt ngó thẳng vào mắt con gái

-Là chỗ đồng sư với Khưu Luân, con có biết giờ Luân ở đâu không ?

Xuyên quì, oà khóc

-Chuyện đại sự, con nào dám dấu cha. Có điều, bấy lâu con đã làm việc mặc áo qua khỏi đầu, thật đáng tội bất hiếu

Trấp đỡ con gái đứng lên

-Vưu Cơ đã nói với ta về chuyện tình ý giữa con và Luân. Quan văn hầu Khưu Chiêu là bậc trung chính, cả đời ta kính nể. Chuyện hai đứa mà thành, quả đại phúc

cho dòng họ Vưu.

Xuyên sửa lại áo xống, lau khô nước mắt, rồi kể cho cha nghe việc ra đi của Luân, việc Giác từ Nga Sơn trở về Xuyên Khê, việc thầy cho mình trở về kinh để cùng Giác đi Nga Sơn, rồi không đi, mà về triều

Quan vũ hầu nghĩ ngợi giây lâu, rồi bảo

-Đa là bậc kiệt xuất trong thiên hạ, chẳng thể tính sai đường đi nước bước của mình. Theo ta, vừa rồi , ông đã thử xô ngai vàng của vua

-Nhưng thưa cha, liệu Luân có làm được điều  mong ước của mình ?

Trấp nhìn con gái

-Dám chống lại ông vua bạo ngược có hằng vạn binh lính trong tay, Luân quả là trang hào kiệt đời này. Còn việc thành bại, chẳng ai đoán được

 

CUỐN  SÁCH  CHÉP  DỞ

Vua gởi mật chiếu cho thủ trấn  Tây Biên

Nay bảo cho ngươi rõ, để trừ  hậu họa, triều đình đã bắt Đa xử chém.Nếu quả Khưu Luân gây binh ở Nga Sơn, tất nó sẽ phục thù cho thầy bằng việc tiến đánh mặt tây của nước. Do vậy, ngươi phải ngày đêm lo canh giữ đất Tây Biên “

Lập tức, Hiêu Căn đem lính trấn rải dọc theo chân dãy Nga Sơn. Riêng số binh lính gốc phạm nhân thì cho trấn giữ những chỗ hiểm yếu nhất. Căn tự đặt ra hình phạt đối với đám binh lính này : Ai bỏ chạy theo giặc thì cha mẹ vợ con  đều bị xử chém. Ai gặp giặc mà không đánh thì bị chôn sống.

Có một đêm cả quan lẫn lính đều ngủ say, Vi Gia thừa cơ bỏ trốn. Do thông thuộc đường núi tự lúc làm lao dịch khai đá quí, Gia chạy một mạch từ Nga Sơn qua Mi Sơn, rồi vòng về Xuyên Lâm

Nghe Gia gọi cửa vào lúc nửa đêm, Khưu Chiêu vô cùng lo lắng

-Đã xảy binh biến phải không ?

Gia kể lại việc mình bị sung vào lính, đưa đi trấn giữ ở Tây Biên, rồi ứa nước mắt, thưa

-Xin lệnh thúc ra tay cứu con thoát khỏi cảnh huynh đệ tương tàn

Chiêu vờ hỏi

-Cảnh huynh đệ tương tàn nào ?

Gia đáp

-Sở dĩ có việc đem binh án ngữ phía tây, là do vua sợ lệnh đệ khởi binh ở Nga Sơn, rồi tiến đánh Tây Biên

-Thế đã có đánh nhau lần nào chưa ?

-Thưa chưa

Chiêu cười

-Nhưng  ngươi đã nhìn thấy trường lũy Nga Sơn chưa ?

-Thưa chưa.Vì binh lính chỉ trấn giữ ở chân  núi mà thôi

Lúc Vu Xia bị giết, Chiêu biết Luân đã động binh. Và đoán trước sau vua cũng bắt mình. Nên khi nghe Đa vào triều mắng vua và tự sát, Chiêu đã cho Khưu Châu đem vợ con cùng đám con Gia lánh ở nhà người họ hàng ở Xuyên  Sơn

Gia muốn đi thăm con. Chiêu khuyên

-Ngươi vốn là phạm nhân, nay lại bỏ ngũ trốn về. Đám hương chức làng này mà trông thấy ngươi, sẽ lập tứ`c bắt giải về triều. Chi bằng, hãy nén lòng thương con, tạm lánh ở đây, chờ ta tìm phương cứu giải

Ban ngày Chiêu vẫn tiếp tục ngồi chép sách, và đợi người của vua sai đến bắt mình. Đến bữa thì mang thức ăn vào buồng cho Vi Gia. Đến lúc ấy, Chiêu đã chép đến nghìn trang về những điều tai nghe mắt thấy từ khi theo phò Hiêu Lịch đến khi bỏ quan về quê. Bất cứ chuyện lớn nhỏ mà liên quan đến chính sự, thì không bỏ chuyện nào.

Một đêm, Chiêu gọi Gia

-Ta đã nghĩ được cách  cứu ngươi

Gia mừng lắm

-Bằng cách nào, thưa lệnh thúc ?

Chiêu im một lúc, lại hỏi Gia

-Nếu thằng Luân nhà ta khởi binh thật, ngươi có chịu theo giúp không ?

Gia thất sắc

-Tức phải chống lại vua ?

-Phải. Đến nước này, ta phải nói cho ngươi rõ. Hiêu Du vô đạo, ta phải rũ áo từ quan. Nhưng nay đến tuổi sắp xuống mồ, ta chẳng còn đủ sức đứng ra gầy cuộc chuyển thay thế nước. May có Khưu Luân, con ta, thấu được lòng mong mỏi của muôn dân, vứt bỏ áo mũ triều đình, lên Nga Sơn tụ nghĩa, chờ ngày trừ bạo chúa. Nếu ngươi cho đây là việc hợp lòng mình, hãy tức tốc lên đường ngay trong đêm nay

Gia nghĩ ngợi giây lâu, rồi nói

-Lời lệnh thúc soi rõ niềm uất hận bấy lâu trong lòng con. Chỉ lo, nếu nằm xuống trong cuộc can qua, đàn con Gia này sẽ bơ vơ

Chiêu bảo

-Đàn con của ngươi đã có thằng Châu lo. Ngươi chỉ còn việc chọn lựa, hoặc chết cho đại sự, hoặc bị đám hương chức của làng bắt đem đi hành quyết

Sau khi gom hết những trang sách đã chép, gói gắm kỹ lưỡng, Chiêu gọi Gia

-Hiện thời ta cũng không biết Luân ở chỗ nào trên Nga Sơn. Ngươi dùng số vàng bạc ta dành dụm được bấy lâu, để ăn đi tìm nó. Cuốn sách ta chép chưa xong, nhưng với con cháu sau này, còn quí hơn vàng bạc. Hãy giữ gìn nó như giữ gìn mạng sống của ngươi, để trao tận tay Khưu Luân

Gia ứa nước mắt

-Đường Nga Sơn con thông thuộc. Việc tìm lệnh đệ chẳng khó. Chỉ lo lệnh thúc ở lại muôn phần nguy hiểm

Chiêu nạt

-Thôi, hãy lên đường đi

 

NGƯỜI  THỪA  TỰ

Bấy giờ Mi Sơn đã có tộc trưởng Khơ Lăn cầm đầu các bộ tộc để chống lại việc bắt lao dịch và thu thuế của triều đình. Làng nào cũng canh phòng rất cẩn mật.

Từ Thiên Sơn, Vi Gia qua Mi Sơn, để đi Nga Sơn. Đến Mia Nây thì bị dân làng bắt giữ. Nhờ dấu khắc nơi tay, bọn họ biết Gia là phạm nhân bỏ trốn, đã cho Gia ăn uống, rồi đưa qua Nga Sơn

Ở làng Nậm Nang, Gia lại bị hạch hỏi

-Trốn tù sao lại mang theo cả hòm sách ?

Gia kể rõ đầu đuôi, liền được dân làng đưa đến gặp Luân

Anh em trông thấy mặt nhau mà cứ tưởng trong mơ

Luân không ngăn được nước mắt, khi nhìn những trang sách của quan văn hầu

-Rồi đây, quân bạo ngược sẽ chẳng từ mạng sống của cha ta

Khi nghe Gia kể chuyện Đa, Giác ngất lịm, còn Luân chỉ thét lên một tiếng, rồi đến gặp ông Bơ Man

-Có một người đã xô nghiêng ngai vàng của vua

-Ai ?

-Người đã dạy Luân này biết phân biệt tiếng hót của chim khưu với tiếng gầm của hổ dữ

Ông Bơ Man cắm ngọn dáo xuống đất

-Vậy thì ta phải đem dân Nga Sơn xuống núi để cùng người ấy giết lũ vua quan độc ác

Luân cố nén, nói

-Nay, người ấy đã chết rồi

Tin thầy dạy của Luân  đã liều chết vì đại nghĩa lập tức được truyền đi khắp dãy Nga Sơn

Động Tà Bư ở Luốc Bưa chứa được cả trăm voi

Tộc trưởng làng ấy nói

-Thần rừng Nga Sơn có lần trông thấy dân Luốc Bưa ăn ở bất hòa với nhau, đã giận dữ đốt hết nương rẫy, lửa từ trong động ấy cháy ra, nên mới có tên động Thần.

Luân hỏi

-Muốn thờ phụng thầy ta ở đó, có được không ?

Ông Luốc Bưa đáp

-Thầy anh Luân cũng biết giận dữ trước điều xấu xa độc ác, nên ở chung với thần rừng Nga Sơn là phải

Luân liền cùng Giác sắm sanh lễ vật, mang đến động Thần để tế thầy. Theo tục Chang Lang, Luân mặc áo quần màu thung, đội mũ tua đen, đúng như con trưởng của Đa

Giác khấn

-Y như lời ký thác của thầy, nay anh Khưu Luân đứng làm người thừa tự họ Đa. Xin thầy linh thiêng hộ trì anh em con trong cuộc can qua sắp tới

Nước mắt Luân chảy dài

-Thầy đã dạy con biết khi nào thì vung gươm tru diệt cường quyền. Nay Luân này nguyện đem tim óc hiến dâng cho non sông đất nước

Khấn xong, Luân quì trước bàn thờ Đa suốt ba ngày đêm. Trở dậy thì thấy nơi mắt mình có chim đại bàng bay lượn. Liền đem đá núi để tạc tượng thầy, chỉ ba hôm là xong

Giác lấy làm kinh ngạc, nói

-Y như thầy ta lúc ngồi dạy học ở Xuyên Khê

Nghe chuyện lạ, dân Nga Sơn lũ lượt kéo đến động Thần

Ông Bơ Man nói

-Đấy là kẻ đòi chém ông vua độc ác. Nên hết thảy người Nga Sơn phải coi như cha đẻ ra sự sống

Chang Lang Sử Lịch  có đọan

“Bấy giờ là mùa xuân. Sau khi chôn cất Đa, Hiêu Du sợ Luân phục thù, đã điều thêm binh đến án ngữ ở mặt tây của nước. Đường ra biên thùy phía bắc đắp vẫn chưa xong. Hầu như ngày nào vua cũng đi lâu thuyền. Song, lúc tỉnh rượu, lại hối quan cơ chính mau nghĩ cách làm tội Khưu Chiêu. Trong khi đó, ở phía tây lũy Nga Sơn, Đa được các bộ tộc Nga Sơn thờ làm bậc thánh. Tộc trưởng Bơ Man đòi xuống núi đánh chiếm Tây Biên. Khưu Luân không cho, vì bấy giờ nghĩa binh chưa có, mà dân Nga Sơn thì đang thiếu ăn thiếu mặc.

Một hôm, tộc trưởng Luốc Bưa đến nói với Luân

-Thầy anh đang đau buồn đấy

Luân lấy làm lạ, hỏi

-Tộc trưởng thấy thế nào lại bảo thế ?

Ông Luốc Bưa đáp

-Đi làm nương ngang qua động Thần, ta thử nhìn vào, thì thấy thầy anh khóc

Giác bảo

-Dân trong nước muôn phần khổ cực, mà đám vua quan trung nguyên không ngày nào là không ăn uống no say, làm sao thầy ta không khóc

Một hôm, tộc trưởng Bơ Man đến bảo Luân

-Thầy anh đương giận anh đấy

Luân lấy làm kinh hãi, hỏi

-Tộc trưởng nói thế là sao ?

Ông Bơ Man đáp

-Đi làm nương, ta nghe tiếng thét ở động Thần

Đêm, Luân nằm mơ thấy thầy mình người đầy máu me, đến đứng trước mặt mình

-Làm người thừa tự họ Đa, sao ngươi vẫn chửa sống ra người họ Đa ?

Hết thảy dân Nga Sơn ăn ngủ không yên, vì Luân bỗng mắc bệnh lạ.

Ông Bơ Man nói

-Mất anh Luân, người Nga Sơn bọn ta cũng không sống nổi

Giác an ủi mọi người

-Do lo nghĩ nhiều, nên sinh ra thế. Bà con ta chớ quá lo lắng

Luân vẫn ngồi im trước tượng thầy cả ngày lẫn đêm. Dân Nga Sơn kéo tới động Thần, kẻ đem thuốc thang, người đem thức ăn thức uống. Nhưng Luân vẫn không hé môi, chẳng động đến các thứ.

Ông Luốc Bưa lo sợ, nói

-Bấy lâu Nga Sơn ta không có ma núi, chẳng lẽ nay lại có hay sao ?

Ông Bơ Man nạt

-Có ma núi cũng chẳng làm được chi kẻ lấy đá núi để làm ra người

Ngày ấy, Đa kể chuyện nước Xua Lôi bằng tiếng Xua Lôi. Kể đến đâu, cắt nghĩa đến đó, cho Luân, Xuyên hiểu

Ngồi trước tượng thầy đến ngày thứ mười, Luân vụt đứng dậy, nói với mọi người

-Ta đã nhớ được tiếng nói của người Xua Lôi “

 

LÚA  BƯƠN

Điên Giác nói

-Đường sang nước ấy xa diệu vợi. Một mình Khưu huynh đi, Giác này chẳng yên lòng

Luân bảo

-Xưa thầy ta đến được, nay ta cũng đến được

Rồi đi gặp ông Bơ Man, nói

-Ta sang nước Xua Lôi tìm giống lúa bươn về cho Nga Sơn. Tộc trưởng ở nhà gắng lo việc phòng chống quân triều

Ông Bơ Man có vẻ kinh ngạc

-Nước Xua Lôi ở đâu ? Anh Luân đã đến nước ấy rồi sao ?

-Ta thì chưa đến. Nhưng thầy ta từng kể cho nghe đường đến nước ấy.

-Mà ta đã có lúa lướt, còn tìm giống ấy chi ?

-Nắng hạn, lúa lướt chết khô. Nhưng lúa bươn thì sống được

Ông Bơ Man mừng lắm

-Vậy thì phải bảo tộc trưởng Luốc Bưa với năm bảy người nữa cùng đi

-Đường đến nước Xua Lôi phải qua các nước Tây Miêu, Bắc Mân và Tân Tang. Lương thảo cho mỗi mình ta đã khó, chẳng thể đi nhiều người.

Luân bảo. Rồi gom hết số trầm còn lại với số vàng bạc Gia mang từ Xuyên Lâm lên, để làm lộ phí. Điều Luân lo lắng là phải qua nhiều nước, mà mình chỉ nói được mỗi tiếng Xua Lôi.

Mẹ của Mưng vốn người Tây Miêu, lúc còn sống đã dạy cho Mưng biết tiếng nước ấy

Tộc trưởng Luốc Bưa nói

-Con gái ta rành tiếng Miêu, lại thông thuộc đường núi, nên phải đưa anh Luân sang nước Tây Miêu rồi quay về

Đến ngày lên đường, Luân kêu Giác, dặn

-Ta đi lâu lắm là vài tháng. Nhưng rủi có bề chi, không trở về được, em phải thay ta lo việc hưng binh. Có hai thứ phải bảo trọng, là mạng sống của em với sách vở của thầy và của cha ta

Giác cố nén, nói

-Khưu huynh cũng phải bảo trọng thân mình. Đến chết, Giác này vẫn không quên lời thề ở Ngũ Sơn

Luân cỡi con kim mã. Mưng cỡi con voi già mẹ Mưng đã đem từ Tây Miêu về thuở ấy

Bấy giờ là giữa xuân. Chim khưu đang làm tổ, từng đôi âu yếm trên cành

Con gái ông Luốc Bưa nói

-Người Tây Miêu thích người ở phương xa lắm. Chỉ lo mấy nước kia thôi.

Luân nói

-Theo lời thầy ta, thì người của mấy nước kia cũng rất mến khách.

Đường sang Tây Miêu muôn phần hiểm trở. Lúc men theo các vách đá, khi phải mượn lòng suối mà đi. Luân cố nhớ từng chặng đã qua, để khỏi lạc lối lúc quay về. Chưa ra khỏi rừng núi Nga Sơn thì trời tối. Hai người dừng lại ở một chỗ triền đồi, đốt lửa, ăn cơm vắt

Luân lo lằng hỏi

-Mưng sang Tây Miêu được mấy lần rồi ?

-Chỉ một lần đi bán trầm ấy thôi. Nhưng không sao. Em biết tiếng Miêu, đi đến đâu chẳng được

Con gái ông Luốc Bưa im một lát, lại hỏi

-Anh Luân cho em cùng sang Xua Lôi, có được không ?

Luân giật mình, đáp

-Tộc trưởng Luốc Bưa đã dặn, đến Tây Miêu thì Mưng quay về

Càng về khuya núi rừng càng yên tĩnh. Luân gối đầu lên con kim mã, nằm nhìn trời, thấy nhớ cha và Xuyên vô kể. Quá nửa đêm thì nghe tiếng thở dài não nuột của Mưng trên lưng con voi già. Luân biết đấy là lúc con gái ông Luốc Bưa không cưỡng lại nổi thần núi Nga Sơn

Mất hai ngày đường, hai người mới đến được kinh đô Tây Miêu

Mưng rưng rưng nước mắt

-Giờ, em phải trở lại Nga Sơn. Chim Khưu có hỏi, Mưng này sẽ nói, anh Luân vẫn nhớ mùa này chim đương làm tổ.

Luân cảm động vô cùng. Song vẫn gắng ra vẻ bình thường

-Ta chẳng thể nào quên người Nga Sơn thân thiết

Vua Tây Miêu đang kén chọn vị võ quan đứng đầu quân ngự lâm. Luân liền ghi tên, xin tỉ thí. Người xem đông nghẹt đấu trường. Có một người đánh ngã được chín người. Đến lúc ấy, Luân nghe quan khảo gọi tên mình. Nhà vua Tây Miêu có vẻ rất đắc ý, vì thấy Luân đã đánh thắng một trăm lẻ chín đấu thủ.

Khi chẳng còn ai tiến vào đấu trường, Luân thả gươm, quì mọp trước vua

-Thần thật đắc tội, mong hoàng thượng thứ dung

Vua ngơ ngác hỏi quan tể tướng đang làm phụ khảo trường thi

-Kẻ ấy ở đâu ? Sao lại lạy ta?

Quan tể tướng vốn người Bắc Mân, từng đi nhiều, sành tiếng các nước lân bang, thưa

-Bậc cao thủ vốn người Nga Sơn, tự xưng là kẻ có tội với hoàng thượng

Vua liền ra hiệu Luân đứng lên

-Khanh có tội chi với ta?

Luân thú thật, mình không có ý làm quan Tây Miêu, chỉ đánh liều vào tỉ thí, để được gặp vua, nhờ giúp cho cách sang nước Xua Lôi tìm giống lúa quí về cho Nga Sơn

Vua Tây Miêu từng nghe tiếng ông Đa Trà, nên khi biết Luân là học trò Đa, lấy làm mến phục. Liền lệnh quan tể tướng chỉ cho đường đi nước bước đến nước Xua Lôi

Quan tể tướng nói

-Ta có học tiếng Xua Lôi, nhưng chưa sang nước ấy. Nên không hiểu giống lúa bươn quí đến mức nào

Luân nói

-Theo lời thầy Đa Trà, lúa bươn sống được trong nắng hạn. Chang Lang với Tây Miêu đều là xứ quanh năm hạn hán. Nếu có giống lúa ấy, dân hai nước ắt đủ cơm ăn

Khi nghe quan tể tướng tấu bày điều này, vua Tây Miêu lập tức cử ông cùng Luân sang Xua Lôi.

-Để tiện việc đi đường, ta muốn anh  Khưu nhận tiếng làm quan thống lĩnh ngự lâm, ở trong sứ bộ Tây Miêu đi Xua Lôi, có được không?

Nhà vua Tây Miêu hỏi

Luân rất mừng, ưng thuận ngay

Bấy giờ, Tây Miêu đang giao hảo với Bắc Mân, nên việc sứ bộ đi ngang qua nước ấy chẳng có gì khó khăn.

Một hôm, nhân lúc nghỉ chân, Luân hỏi

-Đi thế này, ta có ngang qua núi U Sơn không?

Quan tể tướng giật mình

-Anh Khưu cũng biết chuyện ma núi sao?

Luân nói

-Sách  Thịnh Quốc Thư  của thầy Đa Trà có chép chuyện ấy

Nể tình Luân, quan tể tướng đưa sứ bộ ngang qua đất Lưa. Nhìn đám con gái giặt gấm ở sông Uẩn Giang, Luân bùi ngùi nghĩ đến Kha Ly

Quan tể tướng nói

-Thân này lìa xa quê cha đất tổ đã bấy nhiêu năm. Nay thì thái tử, con vị vua mất tích ở U Sơn, đang giữ ngôi. Chẳng biết về sau có điều chi xảy ra nữa không

Luân thở dài

-Kẻ ở ngôi cao thường sinh lòng tàn bạo. E  rễ tần của Sưng Chu cũng chẳng thể diệt được

Vua Tân Tang lúc còn trẻ thụ giáo ông Đa Trà. Nghe sứ bộ Tây Miêu có bạn đồng sư, vua liền sai quan ngoại giao đi đón về triều.

Trong bữa tiệc tiếp đãi sứ bộ, nhà vua Tân Tang nói

-Ta học thầy Đa Trà tự thuở mười bảy. Nay được muôn dân trong nước yêu vì, là nhờ thầy đã dạy cho ta cách làm người. Vừa rồi, nghe thầy mất, vua Chang Lang cử quốc tang, ta lấy làm thõa mãng trong lòng.

Nghe nhắc đến sự lừa mị của Hiêu Du, Luân  bừng bừng lửa giận. Song, cũng gắng kiềm chế, nói

-Thầy Đa Trà mất, lũ môn đệ chúng ta đau xót, nhưng đứa độc ác tàn bạo thì vỗ tay reo

Vua Tân Tang nói

-Ta ở ngôi mười mấy năm. Đem cách trị nước của thầy ra dùng thì muôn nhà no ấm, từ quan chí dân chẳng ai biết nói dối. Vậy mà vừa rồi lại xảy chuyện đau lòng

Quan tể tướng Tây Miêu nhìn Luân, tỏ vẻ lo ngại. Luân liền đứng lên, xin cáo từ

Vua Tân Tang vội nói

-Học trò của thầy ta ở khắp bốn phương. Được gặp nhau thế này là do duyên trời. Anh Khưu cùng sứ bộ hãy nghỉ lại đây ít hôm để lấy sức đi tiếp. Lẽ ra phải đích thân tiễn sứ bộ đến biên ải. Nhưng từ ngày mai, ta phải ngồi ghế chủ tòa, xử kẻ phạm pháp

Nghe vua thân hành xử án, Luân không kiềm chế được sự tò mò

-Thưa, chắc là trọng tội, nên hoàng thượng phải đích thân xét xử?

-Phải. Kẻ ấy vì quá thương mẹ già, đã hái trộm quả lốc chín của nhà bên. Chủ cây lốc đệ đơn lên triều, xin ta đuổi kẻ ấy ra khỏi nước

Luân rất kinh ngạc

-Chỉ hái trộm mỗi quả cây chín, mà bị đuổi khỏi nước ư ?

Vua Tân Tang lộ vẻ u sầu

-Mười mấy năm nay mới xảy sự việc thế. Mà luật nước Tân Tang chẳng có chỗ nào nói về tội trộm cắp. Nên ta đành xử theo lời khẩn thiết của nguyên đơn.

Nghe có ghé lại triều, đám quan quân ở biên ải vây quanh sứ bộ Tây Miêu

-Thưa, có nghe nhà vua chúng tôi nói gì về kẻ trộm lốc không?

Luân thuật lại lời vua Tân Tang. Bọn họ vỗ tay, hò reo. Nhưng lập tức lặng im

Luân thấy lạ, hỏi

-Sao vừa vui đấy lại buồn đấy ?

Đám quan quân biên ải đáp

-Vui, vì vua đã thuận theo ý dân. Nhưng kể từ nay, nước Tân Tang chúng tôi phải chịu mất một người Tân Tang

Đương kiêm hoàng đế nước Xua Lôi là con vị vua đã bắt dân nấu đá núi

Sau khi xem quốc thư của vua Tây Miêu, vua ấy hỏi

-Các người muốn mua bao nhiêu giống lúa bươn?

Quan tể tướng Tây Miêu đáp

-Thưa, chúng tôi chưa dám định. Vì chưa biết hoàng thượng có thuận ý hay không

Nhà vua liền gọi lớn

-Bảo quan công khố vào chầu

Lập tức, một người nhỏ bé bước vào đại điện, cúi rạp trước vua

-Lúa trong kho còn nhiều hay ít ?

-Muôn tâu hoàng thượng, các trấn phía bắc vừa nộp thuế hôm qua, nên kho thóc triều đang đầy

Khi quan công khố đã lui ra, nhà vua nói

-Chủ có thóc ưng thuận rồi đấy

Quan tể tướngTây Miêu nói

-Xin hoàng thượng định giá, để chúng tôi lo liệu

Vua Xua Lôi đáp, chẳng nghĩ ngợi

-Lúa của bản quốc là hạt ngọc trời ban. Một đấu thóc là một cân vàng

Thấy quan tể tướng toát mồ hôi trán, Luân vội nháy mắt ra hiệu, bảo hãy ưng thuận

Khi về đến nhà trạm, quan tể tướng than

-Tây Miêu ta đang nghèo. Vì thương nước thương dân, hoàng thượng ta đã cho vét công khố được năm mươi cân vàng để mang sang đây. Nay, số vàng kia chỉ đổi được năm mươi đấu thóc, làm sao đủ phân phát cho cả nước ?

Luân nói

-Nơi nào được phân phát trước, mùa lên phải san sẻ thóc giống cho những nơi chưa có. Cứ mỗi mùa thêm một ít. Lần lần thì giống lúa ấy được gieo trồng khắp nước

Thấy lời Luân có lý, quan tể tướng cũng yên lòng

Về phần mình, Luân đã có mười cân vàng Gia mang từ Xuyên Lâm lên. Trên đường qua các nước, đã đem trầm đổi được mươi cân nữa

Ngày giao vàng lấy thóc đã định. Sứ bộ lại kéo đến chầu vua

Quan tể tướng Tây Miêu nói

-Nay chúng tôi đem vàng để xin đổi lấy bảy mươi đấu thóc

Vua Xua Lôi ngửa mặt cười vang

-Từ Tây Miêu lặn lội sang để mua số thóc chỉ đủ ngựa ta ăn một ngày ư ?

Thấy quan tể tướng giận ra mặt, Luân sợ lỡ việc, vội trương vàng ra

Vua Xua Lôi xem vàng xong, lắc đầu

-Bản quốc chỉ dùng vàng ròng. Đây là vàng tạp, nên không thể đổi đủ bảy mươi đấu thóc

Quan tể tướng hỏi

-Thế, hoàng thượng cho chúng tôi được đổi bao nhiêu ?

-Sáu mươi chín đấu

Vua đáp

Quan công khố liền đưa sứ bộ đến kho. Vua Xua Lôi đích thân xem đong thóc

Lúc đong đến đấu thứ sáu mươi, vua bảo quan công khố dừng tay, rồihỏi

-Các người định bao giờ trở về Tây Miêu ?

Quan tể tướng đáp

-Thưa, nội trong ngày mai chúng tôi sẽ lên đường

Vua nói

-Tính đến ngày mai, sứ bộ đã lưu lại Xua Lôi ta chẵn năm hôm. Nếu có lời mời của ta thì khác. Đằng này, do việc làm ăn mà sang. Nên tổn phí hằng ngày, các người phải lo lấy

Luân nhìn vua ấy, mỉm cười

-Hoàng thượng phân rất phải lẽ. Chẳng biết mỗi ngày tốn mất bao nhiêu ?

Vua đáp

-Quan nội hầu của ta đã tấu bày. Cứ tính thành thóc, mỗi ngày sứ bộ ăn tiêu mất hai đấu

Quan công khố vội quì

-Muôn tâu hoàng thượng, giờ thì thóc thêm bớt sao đây ?

Vua nạt

-Đồ ngu. Năm ngày ăn hết mười đấu. Tức, phải bớt số thóc đã đong một đấu, rõ chưa ?

Sứ bộ Tây Miêu vừa ra khỏi kinh đô Xua Lôi vài dặm thì có người chống gậy chạy theo, tự xưng là bạn quan thiếu phủ họ Thác , ở chân núi Lao

Luân bàng hoàng như đang trong mơ, nói

-Luân này không đời nào dám nghĩ có ngày mình đến được nước Xua Lôi để được gặp bạn cũ của quan thiếu phủ họ Thác

-Ngày ấy, ta và ông thiếu phủ thường lui tới với thầy Đa Trà. Trước khi chết, ông thiếu phủ căn dặn ta phải tìm mọi cách chuyển vật gia bảo này đến thầy ấy. Nay nghe sứ bộ có học trò thầy, ta băng đèo lội suối tới đây

Ông già núi Lao nói, rồi trao báu vật cho Luân. Đấy là một con chim phượng hoàng đang xòe cánh, làm bằng vàng, được đựng trong chiếc hộp nhỏ, cũng bằng vàng

Luân vô cùng cảm động, nói

-Tình thân giữa quan thiếu phủ và thầy Đa Trà là vô cùng sâu nặng. Nhưng nay thầy đã mất, tôn ông là chỗ thâm giao của quan thiếu phủ, xin hãy giữ lấy vật báu này

Ông già núi Lao nói

-Dòng họ ông thiếu phủ chẳng còn ai. Mà ông ấy coi thầy Đa Trà như kẻ sinh ra mình lần thứ hai. Nên mới có việc tặng vật gia bảo này

Ông lão bắt Luân phải nhận báu vật. Vì cho học trò Đa cũng như con của Đa

Nghe sứ bộ thuật chuyện mua thóc giống, ông già núi Lao thở dài

-Sau khi được thầy Đa Trà chữa khỏi bệnh câm, ông Thác nguyện phải làm điều hữu ích cho dân Xua Lôi. Liền đem thóc gieo ở đỉnh núi Lao. Nắng hạn kéo dài, lúa chỉ sống sót năm ba cây. Lại đem những hạt thóc gặt được từ những cây lúa ấy gieo lại. Lại hạn hán kéo dài, lúa chỉ sống sót một ít. Cứ  gặt, gieo lại, đến lần thứ mười thì cây lúa chịu được nắng trời. Ông Thác đặt tên lúa bươn, rồi đem phân phát khắp nơi. Từ đó, dân Xua Lôi no cơm ấm áo. Kho thóc triều luôn đầy ắp, như sứ bộ đã thấy

Luân bùi ngùi nói

-Quan thiếu phủ quả là bậc khác thường.

Rồi xin sứ bộ tạm dừng chân , để mình đến thăm nơi thầy từng sống. Qua bãi chăn dê, thấy cỏ cây vẫn tươi xanh.. Vào nhà ông Thác, Luân ngồi thử lên chiếc giừơng Đa từng ăn nằm cùng ông ấy. Rồi trèo lên đỉnh núi Lao để tận mắt nhìn thấy mảnh đất đã sản sinh hạt lúa chẳng sợ nắng trời

Chang Lang Sử Lịch  chép

“Bấy giờ là cuối xuân. Sứ bộ về đến nơi thì quan tể tướng nhuốm bệnh, mất. Để tỏ lòng biết ơn đối với một người Bắc Mân đã hết lòng với đất nước mình, vua Tây Miêu phong tặng tước đại quốc công, con cháu đời đời được hưởng lộc triều.Giống lúa bươn lập tức được phân phát cho các địa phương trong nước.

Vua nói

-Trời còn thương đất nước Tây Miêu, nên xui khiến anh Khưu đến mách bảo chuyện hạt giống quí. Ta đời đời ghi tạc ân này

Luân nói

-Nhưng không có hoàng thượng nhân từ, Luân này khó bề đến được nước Xua Lôi

Vua truyền đem bảo kiếm ra, rồi nói

-Nay anh Khưu phải trở lại Nga Sơn. Nhưng ta thì muốn giữ nguyên  tước phẩm trong sổ bộ quan triều Tây Miêu. Nếu bằng lòng, xin hãy nhận thanh bảo kiếm này

Luân cảm động, nhận lấy kiếm thống lĩnh ngự lâm

Ngày Luân lên đường về nước, vua Tây Miêu đem năm mươi thớt voi tặng cho Nga Sơn để dùng trong việc chuyên chở

-Khi nào muốn làm quan Tây Miêu, khanh hãy sang đây với ta

Vua nói, lúc từ biệt Luân “

 

VUA  THĂM

Đường ra biên thuỳ phía bắc vẫn chưa làm xong, vì đám phu Vân Muôi mắc lo dựng nhà ở. Cứ vài trăm dặm bọn họ lại dựng lên một căn trại hệt kiểu trại binh

Thấy chuyện lạ, quan khai lộ mật tấu lên vua. Hiêu Du liền sai Chuyết sang Vân Muôi hỏi rõ nguồn cơn. Chuyết đi về, thưa

-Theo lời vua Vân Muôi, phải có nơi ăn chốn ở, đám phu mới an tâm lo việc đắp đường.

Du rất nghi hoặc, liền triệu cơ chính Hiêu Thâm đến gặp mình

-Nay Vân Muôi cho đám phu dựng nhà ở dọc đường ra biên thùy phía bắc là việc bất thường. Vì sự tồn vong của vương triều họ Hiêu, khanh phải gắng làm tròn chức phận của quan cơ mật

Lời khẩn thiết của Du, khiến Thâm lo lắng

-Hoàng thượng cho có điều ám muội ?

-Phải. Khanh phải tức tốc thị sát đám phu đắp đường. Và chủ ý sự qua lại Vân Muôi-Chang Lang của Chuyết

Thủ trấn Tây Biên báo về triều, Nga Sơn vẫn yên tĩnh. Ở Xuyên Lâm cũng chẳng

xảy việc chi. Du lại tiếp tục sa vào thú ăn chơi như trước

Một hôm, nhân cùng vua ăn luốc hầm ở Cung Nguyệt Khuyết, Mỵ nói

-Thần thiếp được ngôi chánh hậu bấy nhiêu năm, mà lòng yêu thương của hoàng thượng chẳng hề suy giảm. An sủng ấy thật chẳng gì sánh nổi.

Vua bảo

-Khanh là mỹ nữ trời dành riêng cho ta. Đến chết, ta vẫn không quên cuộc gặp gỡ nơi vườn thượng uyển.

Mỵ nhìn vua, rớm lệ

-Việc hoàng thượng làm, quả chẳng mấy vua làm được. Có điều thần thiếp muốn nói, bấy nay hoàng thượng lại quên thú vui chơi ở thượng uyển, khiến các sơn nữ mang nỗi sầu đau

Du lắc đầu, bảo

-Ta chán

-Nhưng dẫu sao, việc ấy cũng đã được bá quan chiếu cố từ lâu

Vua có vẻ ngạc nhiên

-Ta không lui tới cùng đám sơn nữ, lại khiến khanh không vui ư ?

-Thưa không.Thần thiếp không vui, chỉ vì hoàng thượng lại mê thú lâu thuyền

Du cười ha hả

-Ta chán là chán đám gái núi. Còn ở lâu thuyền, là gái biển, khanh rõ chưa ?

Mỵ im giây lát, lại nói

-Thần thiếp trộm nghĩ, nay hoàng thượng tuổi cũng đã cao, mà Hiêu Thuông, con ta, đã trửơng thành. Hay là, hãy nhường ngôi cho thái tử, để hoàng thượng được ung dung vui thú yên hà

Du lập tức xốc áo, đứng lên

-Chưa tới tuổi ngũ tuần, ta đã dựng được quốc đền, đắp đường, xây cung gác cho dân hưởng. Sức còn san được Nga Sơn, làm sao ta đi nhường ngôi cho đứa trẻ nít mới võ vẽ học làm quan ? Chừng nào chưa trừ được cha con họ Khưu, ta chưa thể rời ngôi vua, biết chưa ?

Ngay ngày hôm sau Du quyết định đến tư dinh Vưu Trấp.

Quan vũ hầu lấy làm lo sợ, vì chưa bao giờ vua đến thăm mình. Đàn chó của Trấp lại dồn vua vào tận cửa, khiến Trấp càng lo sợ hơn.

-Thần đáng tội chết

Quan vũ hầu quì

Du ra hiệu Trấp đứng lên

-Khanh chớ quá giữ lễ

Trấp vẫn chưa lấy lại được bình thường

-Tệ xá lắm bề bộn, bỡi vợ thần mất sớm, chẳng kẻ nội trợ sửa sang. Mong hoàng thượng miễn thứ

Vua chợt nhìn quanh, hỏi

-Nhưng còn quân hầu đâu chẳng thấy ?

Trấp liền kể việc tha hầu từ thuở còn vua Hiêu Lịch. Du tỏ vẻ thán phục, đoạn bước trở ra sân. Quan vũ hầu vội vã bước theo vua. Đã cuối xuân, nhưng hoa thảo đường còn  ngào ngạt hương thơm

Vua nói

-Chốn này ta thấy rất hợp với khanh

Trấp lo âu, đáp

-Hoàng thượng đã quá khen

Du ngắt một nhành bích bá, quay hỏi Trấp

-Ta nghe hồi ấy quan vũ hầu Khưu Chiêu mang giống hoa này từ đỉnh Mi Sơn về đây phải không ?

Trấp giật mình, ấp úng

-Thưa, bấy giờ, quan vũ hầu đóng quân ở đấy, nên mới biết có loài hoa này

-Phải. Từ lâu ta vẫn biết khanh với ống ấy là chỗ thâm giao

Vua nói, chợt nhìn sang tư dinh cũ của Chiêu

-Chẳng phải khanh và Chiêu đã xin phụ vương ta được sống ở cạnh nhau đấy sao ?

Việc vua đột nhiên đến nhà khiến Xuyên, Cơ vô cùng lo sợ.

-Phải trốn thôi

Cơ nói. Rồi cả hai vào buồng riêng, im bặt

Dạo trên sân một lúc, Du lại quay vào nhà, thẳng ra hậu sảnh. Trấp bối rối, chẳng biết nói sao, đành im lặng  bước theo vua

Hậu sảnh dinh quan vũ hầu thông sang vườn cây ăn quả. Đang mùa hoa của thia và dước. Lũ chim tụ tập đầy cành.

-Ta nghe như có lũ chim khưu Nga Sơn về kiếm hạt rụng, phải không ?

Vua hỏi

Trấp lại giật mình, đáp

-Thưa, thần chưa từng biết loài chim ấy

-Đấy là loài chim khôn ranh. Đến mùa lúa chín ở trung nguyên, chúng lại về trộm thóc

Du nói. Đoạn cứ xăm xăm bước tới

Qua trận gió năm trước, một số thia, dước bị đổ, Trấp vẫn còn để nguyên

Vua dẫm lên đám lá đang rữa mục, nói

-Tội cho thân chúng quá

Đến lúc ấy, Trấp mười mươi biết Du muốn răn đe mình. Quan vũ hầu liền bước tới trước mặt vua

-Hoàng thượng thật nhân từ. Song, thần trộm nghĩ, hết thảy muôn loài đều không thoát khỏi lẽ sinh diệt

Vua chợt kêu mệt, bảo Trấp quay vào. Đến hậu sảnh, vua cứ đứng nhìn chiếc yếm điều nơi giây treo, lúc vào đã không để ý thấy

-Khanh bảo chẳng người nội trợ, sao có y phục nữ giới ở đây ?

Trấp nghĩ phải dấu vua, song nghĩ đi nghĩ lại, chẳng dám

-Của con gái thần , thưa hoàng thượng

-Con gái khanh ? Sao bấy lâu chẳng nghe khanh nói đến ?

Quan vũ hầu lập tức nghĩ ra cách dối vua

-Thưa, thần đã gởi nó về bên ngoại ăn học từ thuở lên năm. Cũng mới trở về đây hôm qua thôi

Rót mấy bát sối xong, Trấp chẳng dám mời vua. Du cười, tỏ hiểu ý, bưng uống hai bát liền, rồi bảo

-Ta muốn thăm con gái khanh một lúc, được không ?

Trấp bối rối vô cùng, song, chẳng có cách nào từ khước

-Hoàng thượng có lòng chiếu cố, thần lấy làm rất vinh hạnh

Dẫu gắng mấy, Xuyên vẫn run lúc quì trước vua

-Ta là hoàng đế Chang Lang, có gì phải sợ

Vua nói. Đoạn đưa tay kéo tấm mạng khỏi mặt cô gái. Lập tức, vua bị cuốn hút trước vẻ đẹp của Xuyên

-Khanh tên chi, để ta gọi cho tiện ?

Xuyên vẫn chưa hết sợ

-Thưa, cha mẹ đặt Vưu Xuyên

Vua nhìn Xuyên đắm đuối

-Tên cũng đẹp như người. Nghe quan vũ hầu nói, khanh học từ thuở lên năm, chắc giờ đọc thông, chép tốt ?

Do vua muốn biết sức học của mình, nên Xuyên phải nghĩ ra một bài để chép

Sông buồn, nước ứa lệ. Khóc thầm, cá thôi bơi “

-Tài hoa lắm

Vừa trông thấy nét bút, vua tấm tắc khen. Rồi chợt thất sắc, hỏi

-Lời ấy cắt nghĩa làm sao ?

Xuyên đáp

-Trời mà làm héo hon ngọn nước trên sông, thì con cá chết. Kẻ tiện dân trộm nghĩ

-Tuyệt. Nét bút ấy, lời thâm trầm ấy, mấy ai sánh kịp

Vua thích thú nói to. Rồi truyền bảo Trấp

-Khanh tức tốc đến dinh quan nội điện, bảo rằng ta muốn đại thiết triều

-Thưa, ngay bây giờ ?

-Phải. Bảo hãy kết thêm đèn. Rồi cho trống triều khẩn cấp

Quan vũ hầu vô cùng lo sợ, chẳng dám hỏi gì thêm, lặng lẽ ra khỏi tư dinh

Du nắm lấy tay Xuyên

-Khanh hãy lại đây với ta.

Con gái quan vũ hầu sụp lạy vua

-Kẻ tiện dân chẳng dám

Du lập tức xốc áo, bước tới

-Chỉ lát nữa thôi, ta sẽ cho khanh sung vào tước văn phòng thái sử, để biên chép việc làm của vua

Nói xong lời ấy, vua nhắm mắt, ôm chầm lấy Xuyên

Con gái quan vũ hầu chỉ vung nhẹ một cái đã thoát khỏi vua

Vưu Cơ thất sắc, hỏi

-Đã xảy việc gì ư ?

-Đại họa

Xuyên thở không ra hơi, đáp. Rồi ngã vào vòng tay Cơ, chết giấc

 

GIẤC  MƠ  LẠ

Ở triều về, Trấp liền gọi con gái, bảo

-Ta chẳng còn biết tính sao, bỡi hoàng thượng đã ban truyền trước bá quan văn võ

Xuyên lo sợ hỏi

-Tức vua đã sung con vào tước văn phòng thái sử ?        

-Phải. Chỉ còn chờ sắc chỉ đến nhà. Làm biên chép cho vua là lãnh phận phi tần, con biết chưa

Xuyân oà khóc

-Con thà chết chứ chẳng đời nào theo lệnh vua

Cơ chợt đứng lên thưa

-Đến nông nỗi này, bác hãy để chị con đi trốn

Trấp lắc đầu

-Trốn ở đâu ? Chỗ nào cũng là đất của vua

Lòng Trấp tựa tơ vò khi đến gặp Cưu

Quan thống binh nói

-Sao giữa triều, ông chẳng có nửa lời thoái thác. Mà làm sao vua lại biết ông có Vưu Xuyên

Trấp kể việc vua đột ngột đến tư dinh mình.

Cưu có vẻ rất lo

-Thế vua đã rõ việc Xuyên theo học ông Đa Trà ?

-Không. Ta bảo đã gởi nó về bên ngọai từ thuở nhỏ.

Cưu nghĩ ngợi giây lâu, rồi nói

-Nay, ta với ông là kẻ thừa thãi ở triều. Song, chưa phải đã yên thân. Nếu Xuyên không theo lệnh vua, lập tức cha con ông bị ghép vào tội khi quân. Còn nếu theo lệnh vua, là chấp nhận cảnh vùi hoa dập liễu

Không nghĩ được cách cứu Xuyên, đôi bạn già đành nhìn nhau, khóc

Chuyện văn phòng thái sử đã đến tai hoàng hậu

Nhân lúc chăn gối với vua, Mỵ hỏi

-Nghe hoàng thượng sắp tuyển quan biên chép cho vua, có phải không ?

Vua khẽ ôm Mỵ

-Phải. Ta sợ con cháu ngày sau không hiểu hết công việc trị nước của ta

Mỵ nói

-Quan lễ nhạc là kẻ u tối, tất hoàng thượng chẳng thể sai làm việc ấy. Nhưng quan tể hầu sức học có thừa, hoàng thượng nên sai ông làm công việc biên chép cho vua,

để khỏi tuyển thêm quan, đỡ hao tổn công quĩ triều đình

Du buông tiếng thở dài

-Điều ấy ta có nghĩ đến. Song quan tể hầu làm công việc biên chép cho vua là lỗi đạo cha con

Mỵ lại vờ hỏi

-Nhưng hoàng thượng đã định tuyển ai chưa ?

-Sáng nay ta đã cho đại thiết triều ban truyền chỉ chiếu

-Thần thiếp có thể biết kẻ ấy là ai không ?

Du chợt ôm chặt Mỵ

-Là con gái quan vũ hầu Vưu Trấp ấy mà

Mỵ vờ kêu khó thở, đỡ vua cùng ngồi dậy với mình

-Thần thiếp thấy lo

-Ai khanh lo gì ?

-Giá cứ tuyển làm phi, chẳng nói chi. Đằng này là tuyển quan biên chép cho vua. Mà thần thiếp biết, trước sau hoàng thượng cũng chung chăn gối với kẻ ấy. Triều thần tất sẽ dị nghị. Vì vua bảo tuyển quan, nhưng để vui thú riêng tây

Du cười ha hả

-Vua nào cũng thế, chứ riêng gì ta

Tiếp sắc chỉ của vua xong, Trấp hỏi

-Hoàng thượng đã định ngày để con ta thụ phong phẩm tước chưa ?

Lễ nhạc Bào Tu đáp

-Thưa, khi nào vua truyền bảo, Tu này sẽ đến nữa

Đến lúc ấy, Tu mới dám hỏi sao Xuyên không đích thân tiếp sắc chỉ

Trấp nói

-Ta nhờ ông tâu giúp với hoàng thượng, rằng Vưu Xuyên đang lâm trọng bệnh

Tu chợt quì

-Tu này cũng có việc muốn xin quan vũ hầu giúp

Trấp vội đỡ Tu

-Là chỗ đồng liêu, ông lễ nhạc chớ làm thế

Tu vẫn chẳng chịu đứng lên

-Kẻ hèn này vốn sinh được bốn trai hai gái. Con gái lớn lên tất theo chồng. Nên chỉ còn trông vào đám con trai. Nhưng ỷ con quan, mấy đứa lớn ăn chơi lêu lổng, nên chỉ còn trông vào đứa út. Kẻ hèn này đã nhờ quan tể hầu lo liệu cho nó chút quan mọn. Nhưng quan nhạc phụ đã chẳng chịu giúp, mà còn mắng mỏ, rằng nòi họ Bào u tối, chỉ xứng làm kẻ tôi đòi

Trấp cố nhịn cười hỏi

-Thằng út của ông năm nay bao nhiêu tuổi ?

Tu vẫn còn quì

-Thưa, vừa đúng mười hai tuổi. Tu này nghĩ, đời này người ta tranh nhau quan tước chứ có tranh nhau làm dân đâu. Cho nên , mười hai tuổi mới tính đường quan là quá muộn

Trấp vờ thở dài

-Ông tể hầu quyền cao chức trọng còn không giúp nổi, ta thì làm được chi

Tu liền lạy Trấp

-Nay lệnh ái là quan biên chép cho vua, còn thân thiết với vua hơn cả nhạc phụ Tu này. Xin quan vũ hầu nói giúp một lời với lệnh ái, thì mọi việc xong xuôi

Biết Tu là đứa vô nghì, sẽ quì mãi ở nhà mình, Trấp phải hứa cho qua chuyện

-Được. Ta sẽ nói với con ta

Vưu Xuyên vẫn vùi người trên giừơng, chẳng thiết ăn uống, mặc cha dỗ dành, khuyên giải

Cơ nói

-Đến nước này, chị cứ nằm đó mà sầu khổ ư ?

Xuyên ứa nước mắt, bảo

-Ta đã nghĩ rất nhiều. Song, chẳng có cách gì để tự cứu lấy đời mình

Cơ chợt vực Xuyên dậy

-Hôm thầy trò gặp nhau, thầy Đa Trà có cho chị biết điều gì về anh Khưu Luân không ?

Chẳng thể dấu cô em gái thân thiết, Xuyên kể hết mọi sự cho Cơ nghe, rồi dặn

-Chuyện đại sự, em chớ hở môi

Cơ ngẫm nghĩ giây lâu, rối bảo

-Tất có ngày anh chị sẽ gặp nhau

Cô cháu gái quan vũ hầu đang nghĩ đến một kế sách nào đó. Song , Xuyên nào biết

Bấy giờ là đầu mùa hạ. Hoa bích bá trên sân đương tàn.

Trấp đi chầu về, vật người lên giừơng, rồi lịm đi. Lúc tỉnh lại thấy Xuyên, Cơ đang hơ bóp chân tay mình

-Kể từ ngày mai, thân con là thuộc về vua

Trấp ứa nước mắt, bảo Xuyên

Đêm ấy, trời đổ mưa to. Sấm sét dữ dội. Thấy Cơ tất tả chạy tới chạy lui, chăm sóc cho cả hai cha con, Xuyên bảo

-Đêm nay ta thấy khoẻ. Em hãy lo cho cha ta

Cơ đi rồi, Xuyên nằm nghĩ đến Luân. Mãi gần nửa đêm mới chợp mắt. Trong cơn mơ, Xuyên thấy con vật dài bằng đoạn sông, to như quả núi, trườn lên ngực mình, đòi giao hoan

Nghe tiếng thét, Trấp choàng dậy, cùng Cơ chạy sang phòng Xuyên, thấy cửa mở trống tuyênh, chăn gối vãi khắp nơi. Bác cháu ùa ra khỏi nhà, thì thấy Xuyên nằm, tay bấu chặt cổng vườn, thoi thóp thở

Theo lệnh vua, quan thái y đích thân đến nhà Trấp, chạy chữa cho Xuyên.

Chẩn mạch xong, quan thái y vội quay về tâu vua

-Thần làm nghề thuốc đã bấy nhiêu năm, chữa bao nhiêu con bệnh, nhưng chưa gặp con bệnh nào như con gái quan vũ hầu

Du hét

-Quan thái sử mà không khỏi bệnh, đầu ngươi cũng chẳng còn, rõ chưa

Đêm, lại mơ thấy con vật kỳ quái trườn lên ngực mình, Xuyên lại tung chăn gối, chạy ra khỏi nhà

Quan thái y hỏi

-Lệnh ái có chiêm bao thấy gì không ?

Xuyên lắc đầu, chẳng dám nói ra

 

TUYỂN  THIẾP

Vẫn chưa thể làm lễ phong tước, vì Xuyên vẫn đêm ngày vùi người trên giừơng bệnh.

Sáng ấy, vua nói với triều thần

-Ta đi thăm quan thái sử đây

Quan lễ nhạc quì

-Xin hoàng thượng truyền bảo phải sắm thức chi để viếng thăm quan thái sử ?

Du quay hỏi Trấp

-Hiện thời thì bệnh tình quan thái sử ra sao ?

Trấp đáp

-Thưa, vẫn trầm trọng

Du liền lệnh thái y mở kho thuốc của vua để lấy thiên linh sâm và cấp kỳ thần dược

Thái tử Hiêu Thuông lật đật quì

-Muôn tâu hoàng thượng, đấy là thuốc chỉ dành riêng vua. Nay đem cho quan thái sử là trái với luật lệ triều đình

Vua nhìn bá quan

-Nay ta cần có quan thái sử để biên chép việc làm của ta. Việc ấy còn quan trọng hơn cả mạng sống của ta

Trấp cùng quan thái y chở thuốc đi trước. Xe vua đi sau. Đến cổng vườn , Trấp xuống xe, đuổi chó, rồi rước vua vào nhà

Thấy vua lại đến, Cơ bảo Xuyên

-Chị phải làm y như mấyhôm nay

Rồi vào buồng riêng lánh mặt

Vua hỏi

-Quan thái sử nằm đâu ?

Trấp đáp

-Thưa, nơi khuê phòng của nó

Nghe vua đòi vào thăm Xuyên, quan thái y vội ngăn

-Hoàng thượng chớ nên gặp vào lúc này. Bỡi mấy ngày qua, hễ trông thấy mặt thần thì quan thái sử chồm lên la hét

Du bảo

-Ngươi cứ lo nấu thuốc. Để quan vũ hầu cùng đi với ta

Trấp đứng nơi cửa buồng nói lớn

-Có hoàng thượng đến, hãy dậy tiếp nghinh

Lập tức, Xuyên hét to lên, rồi tung chăn gối, chạy bổ đến cấu xé áo quần của vua

Trấp phải dìu Du quay lại tiền sảnh

Quan thái y có vẻ sợ hãi

-Xin hoàng thượng quay lại hoàng cung, để thần lo việc thuốc thang

Du phẩy tay

-Ta mệt sơ thôi. Ông vũ hầu hãy đem thiên linh sâm cho quan thái sử uống

Trấp đi rồi, vua nói với thái y

-Ta thấy bệnh tình quan thái sử có phần giống với hoàng hậu trước đây

-Hoàng thượng cho là có thần Cốc giáng nhập ?

-Phải

Du đáp. Rồi vội vã quay lại phòng Xuyên. Trấp đang cho con gái uống thuốc. Vua đứng chết sững nơi cửa phòng, bỡi Xuyên còn quyến rủ hơn hồi chưa lâm bệnh

Ngay tối ấy, lúc chung chăn gối với Mỵ, vua nói

-Mai ta cho hội triều thần để bãi chức quan thái sử

Mỵ lấy làm lạ lắm

-Thần thiếp nghe hoàng thượng đã ban sắc chỉ, sao nay lại bãi bỏ ?

Du ôm lấy Mỵ

-Bỡi thêm quan tước, tốn kém công quĩ triều đình, như khanh nói

Mỵ có ý mừng thầm, bảo

-Có chi vui bằng hoàng thượng chiếu cố đến lòng thành của thần thiếp

Vua đỡ hoàng hậu xuống khỏi giừơng, rồi cùng bước ra Hiên Lãm Thúy. Hoa ngọc dạ ngào ngạt hương thơm

Bỗng Du thở dài

-Ai khanh nghĩ, ta còn sống được bao nhiêu năm nữa ?

Mỵ nép vào vua

-Đừng nhắc đến điều đó, hoàng thượng

-Nhưng sớm muộn cũng xảy ra thôi. Chỉ tiếc, bấy nhiêu năm, ta lại quên mình là vua

Hoàng hậu giật mình

-Hoàng thượng nói thế là sao ?

Vua lại thở dài

-Bỡi bấy nhiêu năm ta chỉ biết có mỗi cung hoàng hậu

Cơ chính Hiêu Thâm vào tận giừơng vua, nói

-Bấy nhiêu năm, vua được tiếng là biết tiết chế mình. Nay bỗng làm thế, tất lân bang sẽ xem hoàng thượng như bao vì vua khác

Du lắc đầu

-Ta buồn, vì chỉ lo mỗi việc chăn dân

-Nhưng hoàng thượng còn có vườn thượng uyển, với một trăm lẻ tám cung phòng

Vua nhảy xuống khỏi giừơng, tóm lấy ngực áo quan cơ chính

-Bắt ông đến mãi với đám gái núi thì ông có chán không ?

Thâm sợ lập thêm cung thất, tốn hao công quĩ triều đình. Nhưng Du đã cho hội triều thần, phán

-Ta hoàng đế Chang Lang bảo cho các khanh rõ. Bấy lâu vua chỉ có mỗi cung hoàng hậu. Nay, để mở mặt với lân bang, ta cho lập thêm cung á hậu. Vì tiết kiệm công quĩ triều đình, ta bãi chức quan thái sử, sung Vưu Xuyên vào cung á hậu, kiêm luôn việc biên chép cho vua. Lễ nhạc Bào Tu hãy mang sính vật đến dinh quan vũ hầu Vưu Trấp, làm đúng theo phép tắc tổ tiên đã định

Xuyên đòi quyên sinh

Cơ bảo

-Như kẻ khác thì được. Còn chị, đã từng học qua kinh sử, phải biết chết thế nào cho hợp lẽ.

Quan vũ hầu nghe ruột đau như cắt

Theo lệnh vua, Bào Tu đã đến dinh Trấp. Sính vật gòm ngàn cân vàng, ngàn đoạn gấm, và ngàn vò rượu nấu bằng hoa via

Trưng các thứ ra xong, Tu thưa nói

-Phàm, trai lớn lên phải cưới vợ, gái lớn lên phải theo chồng. Duyên trời đã định. Một đằng là vua nước Chang Lang. Một đằng là ái nữ Vưu Xuyên con quan vũ hầu Vưu Trấp. Nay sính vật hỏi vợ cho vua có vàng gấm và rượu. Dám mong quan vũ hầu chấp nhận

Trấp hỏi

-Không có sắc chỉ của vua sao ?

Tu đáp

-Theo phép tắc tổ tiên , đây mới chỉ là sính hỏi. Đến khi có thánh chỉ, sẽ rước lệnh nữ về á hậu cung

Trấp nói

-Nhưng quan triều đi hỏi vợ cho vua đâu phải theo phép tắc tổ tiên ?

Quan lễ nhạc có vẻ bối rối

-Tu này chỉ nhất nhất theo lệnh vua mà thôi

Trấp bảo

-Nhưng theo lời ông, đây chỉ mới là dạm hỏi. Nếu con gái ta ưng chịu, thì tiến đến việc cưới xin. Còn bằng ngược lại, ta sẽ xin lui lại các thứ cho ông

Tu lật đật quì

-Trăm sự nhờ vào quan vũ hầu. Nếu sính vật bị trả lại, chắc đầu Tu này chẳng còn

Trấp đỡ Tu đứng lên

-Ta cũng phải lo cho cái đầu của mình, như ông vậy thôi

Nghe Tu thuật lại việc nộp sính lễ ở nhà Trấp, Du giận dữ, thét

-Thằng quan già ấy hãy liệu hồn

 

NGHĨA  BINH

Nắng càng to, lúa bươn càng tốt. Các bộ tộc Nga Sơn rất vui mừng, muốn tôn Khưu Luân lên làm vua. Sáu mươi tư vị tộc trưởng đã kéo hết về Luốc Bưa

Luân, Giác đang luyện voi ở động Tà Bư vội quay về làng

Ông Bơ Man nói

-Nay người Nga Sơn được nhìn thấy cây lúa sống trong nắng hạn, là nhờ công ơn anh Luân. Kẻ mang lại sự sống cho ngừơi Nga Sơn tất phải là vua của chúng tôi.

Các vị tộc trưởng cùng nói

-Hết thảy dân Nga Sơn đều muốn thế

Lập tức, dân làng Luốc Bưa vây quanh Luân, khua chiêng và nhảy múa

Luân phải đứng lên lưng voi để nói

-Nay ta có lũy dài phòng chống quân triều, có giống lúa bươn để đủ cơm ăn, nhưng không phải đã yên. Hoắc Sơn phía bắc, Mi Sơn phía nam, đều bị sưu dịch nặng nề. Một ngày đó, triều đình trung nguyên sẽ xua quân vào hai ngả ấy, tiến chiếm Nga Sơn. Do vậy, ta phải có nghĩa binh, phải có voi chiến, ngựa chiến, và nhiều cung tên dáo mác để đối địch. Luân này bỏ triều đình lên đây cùng người Nga Sơn lo trừ đám vua quan tàn bạo, chứ không phải để làm vua.

Ông Bơ Man cắm ngọn dáo xuống đất

-Lời anh Luân nghe rất phải. Kể từ hôm nay, con trai con gái từ mười lăm trở lên, người già mà còn đi nương rẫy nổi, hết thảy phải làm nghĩa binh, để tập cỡi ngựa, bắn cung. Đã có nghĩa binh, tất phải có người cầm đầu. Vậy xin anh Luân hãy làm chủ soái của chúng tôi

Ở Nga Sơn, bộ tộc nào cũng nuôi ngựa. Tính gộp lại, tới mấy nghìn con.

Vi Gia được giao cho việc luyện ngựa. Tộc trưởng Bơ Man và tộc trưởng Luốc Bưa được giao việc chế tạo binh khí. Ba người liền chia nhau đến các bộ tộc

Điên Giác nói

-Sách Dụng Binh Thư  chép : Muốn thắng giặc phải đồng lòng. Theo Giác này, chỉ mỗi Nga Sơn tất chưa đủ mạnh, phải có sự hiệp sức của Mi Sơn và Hoắc Sơn.

Luân liền gom hết số vàng bạc còn dành dụm được cho Giác mang sang Mi Sơn, giả đi mua voi mua ngựa để dò ý tộc trưởng Khơ Lăn. Con gái tộc trưởng Luốc Bưa đã xin đi cùng Giác

Bấy giờ là cuối hạ. Lúa bươn trên các nương rẫy đã bắt đầu trỗ hoa. Mất hai ngày,  Giác và Mưng đến Nậm Nang. Thấy tộc trưởng làng ấy đang cùng đám đàn ông con trai tập cỡi ngựa bắn cung, Giác mừng lắm

-Người Nga Sơn vốn giỏi săn bắn, nay ngồi trên yên ngựa để nắm cây cung, thì chẳng ai địch nổi

Tộc trưởng Nậm Nang nói

-Tộc trưởng Bơ Man đã đến đây chỉ cho cách làm cây cung một lúc bắn trăm mũi. Có cây cung rồi, mà có con ngựa cỡi, thì hay quá

Giác nói

-Ta sang Mi Sơn chuyến  này là để mua voi mua ngựa cho nghĩa binh

Đã qua khỏi con suối nước đỏ cuối cùng, tức đến đất Mi Sơn

Mưng lo lắng hỏi

-Nếu gặp quân triều thì làm sao ?

Giác đáp

-Tất ta phải chống lại. Nếu thua, tất sẽ bị bắt. Cho nên, tốt nhất đừng để gặp mặt chúng

Mưng rành tập tục Mi Sơn, lại thông thuộc đường, nên hai người qua các bộ tộc chẳng có trở ngại nào

Bấy giờ dân Mi Sơn đang gặt lúa lướt. Do nắng hạn, mười phần chỉ thu được một

Nghe có ngừơi từ Nga Sơn sang, dân làng Khơ Lăn ùa đến, hỏi thăm chuyện lúa bươn.

Giác nói

-Đấy là giống lúa mua tự nước Xua Lôi. Nắng càng to, cây lúa càng tươi tốt

Tộc trưởng Khơ Lăn hỏi

-Nước Xua Lôi ở đâu ? Làm sao đến được ?

Giác đáp

-Xua Lôi cách Nga Sơn tới ba bốn nước. Nhưng do Nga Sơn có lũy dài chống được sưu dịch của triều đình, cơm đủ no, người đủ sức đến được chốn xa xôi ấy

Ông Khơ Lăn nghĩ ngợi, rồi nói

-Thế Mi Sơn cũng phải xây lũy dài phòng chống quân triều, để sau đó đi Xua Lôi mua giống lúa bươn

Giác nói

-Sông núi ở đây ít hiểm trở, nên khó làm được trường lũy. Chỉ nên làm lũy làng thôi. Còn lúa bươn, mùa gặt này, Nga Sơn sẽ gởi sang cho Mi Sơn

Ông Khơ Lăn lập tức đến các bộ tộc trên dãy Mi Sơn để nói cho mọi ngừơi biết tin vui ấy. Khi về, lùa theo năm mươi thớt voi cùng trăm con ngựa.

-Hãy mang voi ngựa về bên ấy. Rồi mai mốt gởi sang đây giống lúa bươn

Mưng nói

-Mi Sơn với Nga Sơn vốn anh em một nhà. Lúa bươn là gởi cho không, chứ không phải đổi voi đổi ngựa

Giác nói

-Bọn ta sang đây trước mua voi mua ngựa, sau giúp cho cách phòng chống quân triều. Nếu tộc trưởng chịu nhận tiền mua voi mua ngựa, bọn ta mới nói ra.

Sau khi đưa tiền voi tiền ngựa, Giác đã bày cho ông Khơ Lăn cách làm lũy làng cùng cách phòng chống quân triều. Đêm, cả dân làng Khơ Lăn cùng uống rượu via với Giác và Mưng.

Lúc ngà say, Mưng hát “Chim khưu chim khưu mày bay về đâu “.

Thấy Mưng hát, dân làng Khơ Lăn cũng hát “Chim thắc mày kêu làm chi cho đau núi đồi “

Làng đang vui, thì có tin quân triều đến. Lập tức mọi người cầm cây dáo đứng lên

Thì ra, chỉ là đám lính triều chạy trốn kinh thành

Ông Khơ Lăn hỏi

-Các anh giả trốn triều đình lên đây dò xét bọn ta phải không ?

Bọn lính liền kể việc bọn chúng được sai lên Mi Sơn hái hoa via về cất rượu cho đám cưới của vua

-Không thể hái đủ hoa via để cất mấy nghìn vò rượu, bọn chúng tôi tất bị chém. Nên phải ở lại đây nương tựa người Mi Sơn

Giác cố giữ để khỏi thốt kêu to khi biết Vưu Xuyên bị tuyển vào cung . Rồi cùng Mưng từ biệt mọi người, trở lại Nga Sơn ngay trong đêm

Lúc chia tay ông Khơ Lăn, Giác nói

-Bọn vua quan trung nguyên rất tàn ác. Một ngày nào đó Nga Sơn sẽ khởi binh diệt trừ bọn chúng, chẳng biết Mi Sơn có giúp không ?

Ông Khơ Lăn liền đáp

-Bọn ta muốn làm chuyện ấy từ lâu. Ngặt nỗi, mình chưa đủ sức

Giác nói

-Voi và ngựa, bọn ta để lại đây. Tộc trưởng hãy đứng ra chiêu tập nghĩa binh, lo luyện voi chiến ngựa chiến, chờ ngày hiệp sức với Nga Sơn

Ông Khơ Lăn liền quì, khấn

-Mi Sơn nguyện cùng sống chết với Nga Sơn. Xin thần linh chứng dám cho lời này

Luân vào động Tà Bư quì trước tượng thầy suốt ba ngày đêm.

Lúc trở dậy, nói

-Ta sẽ đem hết nghĩa binh xuống núi, chặt đầu Hiêu Du

Biết Luân đang cơn căm giận, Giác cố sức phân trần

-Nay Nga Sơn đã có nửa vạn nghĩa binh. Mi Sơn tất sẽ hiệp sức cùng ta. Song, khởi binh lúc này có hai điều bất lợi. Một là nghĩa binh chưa được rèn tập thuần thục, chưa chỉ cho biết đường đi nước bước ở trung nguyên, do đó dễ bị quân triều đánh bại. Hai là, xuống núi lúc này, mọi người sẽ nghĩ Khưu huynh chỉ vì chị Vưu Xuyên. Chi bằng, hãy nén đau thương, chờ cơ hội làm nên đại sự.

Nghe tin Vưu Xuyên sắp bị vua bắt vào cung, dân Nga Sơn kéo đến thăm chủ soái của mình. Luân ôm đàn khuyết, ngồi trước mọi người, vừa khóc vừa gảy khúc Linh Lang

 

 

ĐÁM  CƯỚI  CỦA  VUA

Bấy lâu, vua chỉ có mỗi hoàng hậu Đam Mỵ, việc ân ái lúc ở Lăng Vạn Tuế, khi ở Cung Nguyệt Khuyết. Nay lập thêm ngôi á hậu, nên phải xây riêng hai cung thất.

Tể hầu Đam Chuyết vâng mệnh vua sang Vân Muôi thương nghị. Đi chỉ năm hôm quay về tâu

-Vua nước ấy thuận lòng giúp ta tiền của xây hai cung hoàng hậu. Song, triều đình ta phải nhường đứt họ cửa Đông Biên để họ lập đô hội bán buôn

Du mừng lắm, bảo

-Có nhường hết trấn  Đông Biên, ta cũng chịu nữa là

Nghe chuyện, Đam Mỵ quyết can ngăn

-Thần thiếp trộm nghĩ hoàng thượng chớ nên xây thêm cung thất, bỡi hiện thời đã có Lăng Vạn Tuế cùng Cung Nguyệt Khuyết. Nay chỉ vì chỗ ở của vợ vua, cắt đất cho Vân Muôi, ắt con cháu đời sau sẽ cho hoàng thượng là vị vua trị nước bất minh

Du giận dữ thét

-Thôi, chớ nói năng phạm thượng. Lân bang sẽ coi ta ra chi, khi lấy các nơi ấy làm nơi ở của vợ vua

Không can gián được Du, Mỵ buồn rầu rời Lăng Vạn Tuế, sang ở cùng các sơn nữ bên vườn thượng uyển.

Cơ chính Hiêu Thâm vào tận giừơng vua, nói

-Bán bớt một phần non sông đất nước của tổ tiên để lại, để dựng cung thất cho phi tần, thì các bậc tiên vương chưa ai dám làm. Đến đương kiêm hoàng hậu cũng bất bình, huống hồ thần dân trong nước. Dám mong hoàng thượng xét suy, bãi việc ấy

Vua chưa kịp nói chi đã có quan tể hầu vào thưa

-Sau khi hoàng thượng tỏ ý thuận tình yêu sách của vua Vân Muôi, thần đã tức tốc sang bên ấy. Hiện thời sứ giả cùng thợ xây cung thất đã cập thuyền ở cửa Xương Quơn. Xin hoàng thượng chỉ truyền các việc tiếp theo

Du vội bước xuống khỏi giừơng

-Ý ta đã quyết, quan cơ chính hãy về đi. Quan tể hầu cấp tốc đến dịch đình tiếp đón sứ giả

Thấy đám người Vân Muôi đắp đường ra phía bắc rùng rùng kéo đi, Tương Húc vội về kinh báo cho Chuyết hay

-Mỗi trại chỉ để lại năm ba người, còn bao nhiêu kéo hết về ngả Đông Biên. Húc này gạn hỏi thử, thì bọn họ bảo cứ hỏi vua Chang Lang sẽ rõ

Quan tể hầu mỉm cười

-Ngươi chớ lo. Bọn họ đi lập đô hội bán buôn ở cửa Đông Biên đấy. Nay mai Chang Lang ta lại thêm một cảnh phồn hoa chẳng kém chốn kinh thành này

Chính cung hoàng hậu xoay về đông. Á cung hoàng hậu xoay về tây. Xem họa đồ xong, Du nói với đám thợ xây Vân Muôi

-Ở tây cung, ta đi ngủ cùng lúc với mặt trời. Ở đông cung ta lại thức dậy với mặt trời. Các khanh quả hiểu ý ta

Rồi lệnh Chuyết trưng đủ muời vạn lao dịch về kinh lo việc xây cung hoàng hậu

Đam Mỵ vẫn không chịu trở về Lăng Vạn Tuế, ngày ngày đi khắp các cung phòng, để chuyện trò, an ủi đám sơn nữ xấu số.

Thái tử Hiêu Thuông phải gặp riêng vua

-Mong hoàng thượng sớm liệu, kẻo lâu ngày hoàng hậu sinh trọng bệnh

Vua nói

-Mẹ con là loại đàn bà làm chuyện chi cũng sợ tốn kém. Chờ xong cung thất, ta cho rước về luôn

Chuyên Chiết đi trưng dân ở Mi Sơn về, áo rách hết lưng, vào thẳng chỗ vua nằm

xin chịu tội

-Thần bất tài, cúi xin hoàng thượng xét soi

Vua chưa rõ đầu đuôi, nạt

-Như thế là sao ?

Chiết kéo tấm áo nhung rách tả, phủ lên vai

-Muôn tâu hoàng thượng, nay ở Mi Sơn , làng nào cũng có hào lũy chung quanh. Thần cùng đám lính cấm vệ đi đến đâu cũng bị dân làng dùng cung tên  dáo mác chống trả. Một trăm binh triều bị trúng tên hết chín mươi chín, nên chúng thần đành phải quay về

-Quân đại nghịch

Du thét

Rồi lập tức hội triều thần, truyền chỉ chiếu

-Mi Sơn là thành lũy phía nam của nước. Nay rợ ấy muốn bắt chước rợ Nga Sơn tách khỏi triều đình, quả là họa lớn. Thống binh Hiêu Thâm hãy tức tốc đem vạn binh triều phá hết hào lũy, thu hết cung tên dáo mác. Bộ tộc nào thần phục, thì để yên. Bộ tộc nào chống trả, cứ bắt hết chúng về ngục Luân Giao

Quan tể hầu lật đật quì

-Theo chỗ thần biết, hiện trai tráng trong nước đã sung hết vào lính. Giả sử vừa rồi quan điện công đền có trưng được lao dịch Mi Sơn, cũng chỉ là bọn người già với đàn bà trẻ nít. Chỉ vì sợ sưu thuế, rợ ấy mới làm thế. Không nên vì một vạn rưởi dân Mi Sơn đói khổ làm bậy mà dùng đến đại binh, trong lúc phải dốc sức vào việc xây cung thất

-Thế theo khanh thì lấy lao dịch ở đâu ?

Vua hỏi

Chuyết vẫn quì

-Theo ý thần, nên ngưng việc trưng dân ở các trấn các dinh. Gọi hết năm vạn binh triều về kinh lo việc xây cung thất

Vua ngẫm nghĩ giây lâu, rồi bảo

-Nay nước yên bình, chẳng giặc dã chi, binh triều đi làm thợ xây cũng được

Vân Muôi đưa gỗ quí đá quí đến tận ải Xương Linh để giao cho quan quân Chang Lang. Quốc thư của vua nước ấy gởi Hiêu Du :

Tranh nhau từng tấc đất chốn biên thùy là lầm lỗi của cha ông ta. Thời nay đã khác. Khắp thảy nhân quần kết làm bầu bạn. Vân Muôi gởi người sang đắp đường cho Chang Lang, thì Chang Lang gởi người sang dệt gấm cho Vân Muôi.Gỗ quí đá quí bản quốc gởi sang quí quốc để xây cung thất tính cả thảy bằng mười vạn cân vàng. Song, tình thân giữa hai nước chúng ta còn nặng gấp ngàn vạn lần số vàng kia “

    Để tỏ rõ là nước hùng mạnh về đền đài lăng tẩm, vua Vân Muôi đã lệnh viên quan đứng coi xây cất cung thất trong một tháng phải làm xong. Điện công đền Chuyên Chiết ngồi luôn trên lưng ngựa để viên quan kia phái đi việc này việc nọ. Còn năm vạn binh triều thì quần quật suốt ngày đêm.

Lúc xây xong hai cung hoàng hậu, Hiêu Du vui sướng đến không cầm được nước mắt trước triều thần

-Xưa, vua cha Trắc Khắc xua quân xâm lấn Chang Lang. Nay, vua con Trắc Mạ lại đem cả người lẫn tiền của giúp ta đắp đường cho dân đi, xây cung thất cho hoàng hậu ở. Phải chăng cách trị nước anh minh của ta cùng lòng trung quân ái quốc của các khanh đã khiến cho ông vua nước lân bang hùng mạnh nể phục.

Quan tể hầu quì, tiếp lời vua

-Muôn tâu hoàng thượng, kể từ đây, đất nuớc bên kia dãy Mi Sơn luôn là bầu bạn của ta. Chang Lang ta kể từ đây có thêm chốn đô hội phồn hoa là cửa Đông Biên, trên bờ phố phường bày đủ thứ phẩm vật, dưới nước có lâu thuyền dập dìu khách phong lưu

Vua sửa lại mũ rồng, hứng thú đứng lên

-Phải. Dân giàu nước mạnh là tâm nguyện của ta. Khanh hãy chọn ngày lành tháng tốt để á hậu nhập cung. Hãy thảo quốc thư mời hết thảy vua các lân bang đúng vào ngày ấy đến vui cùng ta.

Lễ nhạc Bào Tu lật đật quì

-Muôn tâu hoàng thượng, cách đây một tháng, thần đã tức tốc cắt đặt một trăm binh triều lên Mi Sơn hái hoa via, mãi đến nay vẫn chưa về. Sợ đám cưới của vua không có rượu hoa via, cách đây hai hôm thần phải tức tốc cho người đi xem xét, mới hay bọn chúng đã trốn cả vào các bộ tộc Mi Sơn. Cúi mong hoàng thượng chỉ truyền, giờ phải cắt đặt binh triều khác đi hái hoa via, hay là thôi, không đi nữa

-Thôi, đủ rồi. Không rượu hoa via thì dùng rượu voan Vân Muôi cho sang vậy

Vua nạt. Song chẳng tỏ vẻ kém vui

Cứ đôi ba hôm Xuyên lại nằm mơ thấy con vật to lớn trườn lên ngực mình. Mỗi lần nghe tiếng gào thét của con gái, quan vũ hầu nát cả ruột gan, lại tìm lời vỗ về

-Xưa nay biết bao kẻ hồng nhan bị các vua ép vào cung, lâu cũng trở nên quen với kiếp bạc mệnh, con chớ quá lo hãi

Xuyên vẫn không dám thổ lộ cùng cha giấc mơ hãi hùng kia.

Cơ cho là chị mình cố giả bệnh mãi thế để khỏi bị đưa vào cung, nên nói

-Vua là kẻ háo sắc, dẫu chị có điên thật, cũng chẳng tránh được đâu

Xuyên bảo

-Ta đã nghĩ  ra cách tự cứu lấy đời mình

-Chị lại định quyên sinh nữa ư ?

-Không. Khi vào đến cung, ta sẽ giết vua.

Cố dấu nỗi kinh hãi, Cơ nắm lấy tay Xuyên, bảo

-Em biết, chị muốn đem thế Tô Lư trừ kẻ hung tàn. Song, chỉ giết mỗi vua cũng chẳng thể xoay thế nước. Mà chị tất cũng chẳng còn. Thật uổng phí bao năm kinh sử.

Một hôm, Cơ vực Xuyên dậy vào lúc nửa đêm, nói cho nghe mưu sách của mình

Xuyên bàng hoàng, bảo

-Quả trời cao mách bảo em cách cứu ta. Song, ta không thể để cho nhan sắc em phải phút chốc phai tàn

Cơ nhìn thẳng vô mắt chị mình

-Em đã thề với vong hồn cha em. Chị không được nói gì nữa cả

Ngày giờ rước Xuyên đã định. Đuốc hoa thắp sẵn ở cung á hậu suốt đêm ngày.

Như thường lệ, hôm ấy quan thái y mang thuốc đến cho Xuyên, thấy con bệnh đang bứt xé áo quần, loã lồ thân thể, nên vội vã quay về

-Thưa hoàng thượng, đại họa

Vua thét

-Á hậu của ta có chuyện chi sao ?

Quan thái y vẫn còn run

-Thưa, thần vừa bước đến cửa, thì thấy á cung hoàng hậu không có áo quần, hương sắc trời ban đương trần truồng trong cơn nguy khốn

-Quân vô đạo. Chém

Vua hét

Quan thái y đã định thần, thưa

-Á cung hoàng hậu đương lâm cơn thác loạn, nếu thần chết lúc này, e chẳng người chữa trị.         

Vua các lân bang đã đến. Những dịch đình xây cất lúc hội vua bấy lâu vắng vẻ, nay bỗng ngập ngựa xe. Điện công đền Chuyên Chiết, ngoại công điện Nhữ Bột, lễ nhạc Bào Tu, chạy như mắc cửi

Hiêu Du ăn uống lại bình thường, bỡi á cung hoàng hậu đã được quan thái y làm dịu cơn thác loạn

-Muôn tâu hoàng thượng, á hậu đã khỏe hơn trước. Song, lúc vào cung chẳng thể đi bằng xe tứ mã

Quan thái y tấu bày

Lập tức  vua lệnh Chuyết lựa sẵn bốn mươi sơn nữ khỏe nhất trong số sơn nữ bên vườn thượng uyển, để hai mươi đứa khiêng kiệu, hai muơi đứa giữ lọng che.

Theo tục lệ, chỉ vua Hiêu Lịch hay thái hậu Tương Linh mới được đứng làm đám cưới cho vua Hiêu Du. Nhưng cả hai đều không còn, nên Du ra chỉ chiếu cho quan coi lễ nhạc ở triều đứng lo việc cưới.

Trước giờ cho Xuyên nhập cung,vua phải làm lễ cáo tổ tiên ở cung á hậu

Bào Tu ngồi nơi ghế chủ hôn hô to

-Bước tới hai bước, quì

Hiêu Thâm là người cao tuổi nhất trong tộc họ Hiêu thắp sáng mười tám ngọn đèn dầu lim trên bàn thờ tổ tiên.

Tu lại hô

-Bước tới hai bước, bái

-Đồ ngu

Vua vừa bái lạy, vừa chửi quan lễ nhạc. Bỡi trước khi quì, đã bước đến sát bàn thờ

Ở dinh quan vũ hầu Vưu Trấp, kiệu hoa đã được mang vào tận tiền sảnh. Theo tục Chang Lang, suốt đêm qua chẳng một ai được vào khuê phòng cô dâu.

Trấp chỉ đứng nơi cửa phòng, nói to

-Đã đến giờ cô dâu lên kiệu hoa

Có tiếng khua then cửa. Cô dâu được phủ kín bằng vải gấm vàng từ đầu đến chân,

bước ra khỏi phòng. Một nghìn nhạc công đã chờ sẵn nơi cổng vườn quan vũ hầu. Lúc kiệu hoa ra đến, nhạc tì tưa liền trổi lên. Kiệu được khiêng đi giữa hai hàng quân triều nối dài từ dinh quan vũ hầu đến cung á hậu. Trấp kéo áo, chặm những giọt lệ đang ứa ra, đoạn quay vào nhà

Kiệu hoa vừa đặt xuống, quan lễ nhạc đã hô to

-Lễ tơ hồng

Lập tức, Hiêu Thâm, người cao tuổi nhất trong họ Hiêu, mang dãi lụa màu đỏ dúi đầu này vào tay vua, dúi đầu kia vào tay cô dâu. Vua liền dắt cô dâu cùng quì trước bàn thờ tổ tiên, bái đủ mười tám bái.

-Đã đến giờ khởi lễ động phòng

Bào Tu lại hô to giữa tiếng nhạc tì tưa

Thấy các quan Chang Lang tản dần khỏi cung á hậu, vua các lân bang cũng lục đục bước theo

Vua Vân Muôi khều tay tể hầu Đam Chuyết hỏi

-Như thế là sao ?

Chuyết đáp

-Theo tục lệ của bản quốc, sau lễ động phòng, quan khách mới vào tiệc rượu

Ở á hậu cung, vừa nghe khúc nhạc giao hòa trổi lên để báo giờ hợp cẩn, vua đưa tay gỡ tấm mạng che khỏi mặt cô dâu

-Ngươi là ai vậy ?

Du bàng hoàng sửng sốt trước một khuôn mặt phồng rợp đến rợn người

Cô dâu quì

-Thần thiếp thật đắc tội với hoàng thượng, bỡi trong cơn bạo bệnh đã để nước đang đun làm bỏng cả mặt mày

-Trời đã hại ta

Vua ngửa cổ kêu to. Đoạn điềm tĩnh hỏi

-Khanh đi đứng có bình thường không ?

-Thưa được

Nước mắt vua bỗng tuôn trào

-Lòng ta yêu khanh sâu như biển thẳm. Song, chẳng nỡ bắt khanh ở lại đây giữa lúc đang lâm bệnh ngặt. Số trời đã định, chẳng thể sống bên nhau. Bỡi vậy, ta đương kiêm hoàng đế Chang Lang xóa chiếu lệnh tuyển khanh vào cung á hậu

Cô dâu toan lạy tạ. Vua lật đật đỡ đứng lên

-Từ đây đến dinh quan vũ hầu chẳng mấy xa. Song, khanh còn yếu, hãy đi đứng cẩn trọng, kẻo gặp rủi ro

Thấy Vưu Cơ bước vào nhà với dung nhan tàn tạ, quan vũ hầu vô cùng kinh hãi

-Con đi đâu từ lúc sáng đến giờ ? Mà sao ra nông nỗi này ?

Nước mắt Cơ chảy dài

-Chi Vưu Xuyên đã đi Nga Sơn hồi lúc nửa đêm. Nên con đã quyết định dùng mủ đát phá bỏ dung nhan, để thay cho chị ấy vào á hậu cung

Trấp ngất đi hồi lâu mới tỉnh lại

-Ta mừng Vưu Xuyên đã không chịu làm đứa nhi nữ thường tình. Tất vua sẽ chém ta về tội tráo hôn. Chỉ thương con phải hủy nhan sắc cứu chị, lại chết chẳng toàn thây

Cơ nắm lấy tay quan vũ hầu

-Xin bác yên lòng. Đến giờ hợp cẩn, vua mới hay á cung hoàng hậu nhan sắc chẳng còn như trước, nên đã lập tức xóa chiếu lệnh, cho con được vĩnh viễn rời khỏi hoàng cung

-Tức vua vẫn chẳng biết con đã thay cho Xuyên ?

-Thưa phải

Thực sảnh của Cung Nguyệt Khuyết chật ứ thực khách.Theo sắp đặt trước của Du, các quan triều Chang Lang phải ngồi xen với khách , để tỏ tình thân giữa Chang Lang và các lân bang.

Vua đang sầu não nghĩ đến nhan sắc Xuyên, thì có ai đó đặt tay lên vai mình

Tể hầu Đam Chuyết vội lên tiếng

-Thưa, hoàng đế Vân Muôi đến nâng chén cùng hoàng thượng đấy

Du uể oải đứng lên, nghiêng ngừơi thi lễ

Vua Vân Muôi nói

-Vừa rồi, vua Bắc Mân có gặp ta xin mua gỗ quí. Đi ngả Đại Hải thì xa quá. Nên ta có ý muốn mượn đường ngang qua Chang Lang, chẳng biết quí quốc có thuận tình không

Du gượng tươi cười, đáp

-Quí quốc đã bỏ ra hằng vạn cân vàng giúp bản quốc, thì sá chi việc cho quí quốc mượn đường chuyên chở gỗ.

Vua Vân Muôi và Chuyết vừa quay đi, ông vua sành tiếng Chang Lang tiến đến chỗ Du

-Tráng lệ vô cùng. Thật xứng danh Cung Nguyệt Khuyết

Vua Di Vang vừa nâng chung rượu lên ngang mày, vừa nói

Du cũng gượng nâng chén lên

-Quí quốc đã quá khen

-Không đâu. Còn biết quí quốc có mấy vạn hùng binh nữa kia. Chang Lang phải có đội hùng binh để giữ gìn non sông gấm vóc của mình là phải. Song, binh hùng phải có khí giới tốt. Quí quốc mà mua tên đồng của bản quốc để trang bị cho mấy vạn binh triều ấy, tất bản quốc phải tính giá phải chăng

Du nốc cạn chung rượu trên tay để dấu nỗi bực dọc

-Có chi, sẽ thưa sau với quí quốc.

Vua Di Vang cũng dốc cạn chén của mình, rồi quay sang trò chuyện cùng vua Đông Mân.

Chợt lễ nhạc Bào Tu hớt hải chạy đến

-Xin hoàng thượng gấp rúc chỉ truyền

Du kiềm chế lắm mới khỏi hét to lên

Tu vừa thở vừa nói

-Muôn tâu, vua các nước cùng đám tùy tùng muốn đi Đông Biên để thử thú lâu

thuyền. Thần vô cùng bối rối, bỡi xe ngựa đâu đủ cho mấy nghìn tân khách

-Việc ấy cứ để cho ta

Du khẽ nạt. Đoạn đứng lên, rẽ mọi người, bước ra khỏi thực sảnh

Cơ chính Hiêu Thâm trông thấy vẻ khác thường của vua, vội chạy ra theo

-Thưa, á cung hoàng hậu đâu chẳng thấy ?

Du nạt

-Đừng hỏi

Nhưng Thâm vẫn hỏi

-Hoàng thượng có điều chi bực tức chăng ?

Du nhổ toẹt xuống đất

-Bọn vua chúa ấy chỉ nhân đám cưới của ta để đến đây tính chuyện buôn bán làm ăn

 

LÊN  RỪNG

Đêm ấy, theo kế sách của Cơ, Xuyên đã cải dạng làm kẻ ăn xin, trốn khỏi kinh thành.

Dẫu Cơ đã chỉ cho đường đi nước bước đến  Tây Biên, còn Giác có kể cho nghe cảnh non nước Nga Sơn hôm gặp lại nhau ở nhà thầy, song, con đường phía trước đối với Xuyên là muôn ngàn gian nguy

Đến chợ Nam Biên thì trời tối. Đêm đầu tiên rời khỏi nệm ấm chăn êm, Xuyên vô cùng bối rối. Chợt nhớ đám người ăn xin mình vẫn gặp ở chợ Nam Biên ngày còn theo học thầy Đa Trà, Xuyên quyết định đến nhập bọn họ. Do mệt mỏi, con gái quan vủ hầu thiếp đi hồi nào chẳng hay. Mãi lúc nghe ồn ào mới tỉnh dậy, biết cả đêm qua mình đã lăn ra ngủ cạnh người đàn bà chỉ còn mỗi cánh tay

-Nhà không nộp thuế nổi, chồng vào ngục Luân Giao, thân tàn này phải dắt con kiếm sống, cô còn trẻ sao cũng chịu cảnh này ?

Người đàn bà tàn tật hỏi, dắt díu đàn con đứng lên

Xuyên đáp như đã sắp đặt

-Thưa, cha mẹ chẳng còn ai, thân này cũng chẳng còn khoẻ mạnh, nên đành chịu cảnh này

Rồi chống gậy, lẩn vào đám người họp chợ

Theo lời Cơ, thuở theo ông già mù kiếm sống, thì từ Nam Biên sang Tây Biên chỉ có mỗi con đường lớn. Đường đi, Xuyên chẳng sợ bị lạc. Mà chỉ sợ gặp lính dinh lính trấn.

Để chóng tới Nga Sơn, Xuyên đi không kể ngày đêm. Do không dám mang theo vàng bạc, nên lúc qua những nơi không có xóm làng để xin ăn, Xuyên phải chịu cảnh đói khát. Mất năm ngày đêm mới qua khỏi Xương Tây, dinh cuối cùng của trấn Nam Biên.

Người chủ quan chỗ địa đầu trấn Tây Biên nói với Xuyên

-Ta e cô em khó dung thân ở chốn ấy

Xuyên nói

-Nghe Tây Biên đất rộng, lòng người hào hiệp, kẻ xấu số này muốn đến đó kiếm sống qua ngày

Chủ quán nhăn mày

-Phải. Lòng người Tây Biên rất rộng lượng. Nhưng hiện giờ đương nạn kiêu binh. Nhan sắc như cô em khó mà yên thân với đám binh lính ở đó

Xuyên bỗng nghe có tiếng hát cất lên đằng sau ngôi quán nhỏ. Bài hát về nỗi tai ương của kiếp con người. Lát sau, một ông lão râu dài nương gậy trúc, bước vô quán, hỏi

-Cô nương đã gặp được chưa ?

Thấy Xuyên có vẻ bối rối, chủ quán bảo

-Ông Bảy Mươi đấy. Gặp ai ông cũng hỏi thế, cô em đừng sợ

Ông lão ngồi thu người nơi góc quán và im lặng

Bỗng chủ quán tuôn rơi nước mắt

-Cả ba cha con ta đi lao dịch ở Nga Sơn. Hai đứa con chết do rừng thiêng nước độc. Còn ta bị cây đổ, gãy chân, được tha về, mới hay vợ nhà đã mất. Ta dậm đất kêu trời, định bỏ quê kiểng đi cho thật xa. Nhưng đến nơi này thì gặp ông Bảy Mươi. Ta chịu ơn ông nhiều lắm

Xuyên tò mò hỏi

-Thưa, ông Bảy Mươi đã cứu bác thoát nạn nào đó ?

-Không phải. Nghe bài hát về nơi cắt rốn chôn nhau, ta quyết không đi nữa, mà dừng lại chốn này

-Vậy ra bác cũng người Tây Biên ?

-Phải. Còn ông ấy chẳng ai biết từ đâu đến. Có lần nghe ông hát về mình, mới hay ông đã sống trên đời này được bảy chục năm. Nên ta mới gọi là ông Bảy Mươi

Ông lão dường chẳng hề chú ý những người chung quanh, chợt huơ gậy lên trời, hát

Trâu khóc, sao trời rụng. Đi mãi đi mãi nhưng ta nào gặp “

    Xuyên lấy làm lạ lắm, hỏi

-Bác có biết nghĩa bài hát ấy không ?

Chủ quán lắc đầu

-Ta nghe mãi, nhưng chẳng hiểu

Sau khi ăn mấy khoai gấc luộc chủ quan cho, Xuyên thử nói lời từ biệt ông lão

-Kẻ xấu số này muốn vào Tây Biên kiếm sống, xin tôn ông cho một lời khuyên

Ông Bảy Mươi ngồi xổm nơi đất, chăm chú nhìn Xuyên, nhưng dường chẳng hề trông thấy. Đoạn chống gậy đứng lên nói

-Chó trên sủa, chó dưới sủa theo. Con trâu cười ra nước mắt

Có một hôm Xuyên gặp đêm xuống giữa chốn đồng hoang mông quạnh. Lẽ ra phải đi tiếp đến nơi có xóm làng để nghỉ, nhưng vì đói, không còn bước nổi nữa. Lúc nghe đau đớn, tỉnh lại, mới hay lũ chuột hoang đang cấu xé bàn chân mình. Chợt có mùi hương thỏang trong gió. Xuyên cố nghĩ thử mùi hương chi. Rồi lê người, bò ngược

hướng gió. Quyết chi là cây cỏ thuốc trong vô số cây cỏ thuốc học được ở thầy Đa Trà, đã cứu Xuyên thoát chết vì đói.

Do bị chuột cắn thủng chân, giờ đây Xuyên khỏi phải giả đi khập khiễng

Nhưng ở chân núi Nga Sơn, Xuyên phải giả điên để lừa đám binh triều

-Lũ các người có thấy cha ta qua đây không ?

Đám lính bảo

-Bọn ta từ ngục Luân Giao bị đày tới đây, cô em đừng sợ. Hãy ăn uống rồi quày lại trung nguyên. Bỡi phía trước là rừng sâu hiểm trở.

Bọn lính lấy lương khô cấp cho Xuyên. Rồi một hai bảo phải quày lại.

Xuyên cảm động, nói

-Ta phải tâu với đức vua anh minh của ta cho các người làm khanh tướng

Đám lính hỏi

-Chừng nào thì bọn ta gặp được đức vua anh minh của cô em ?

Xuyên òa khóc. Đoạn cố hát lại những bài hát kỳ lạ của ông Bảy Mươi

Đêm ấy, chờ lúc mọi người ngủ say, Xuyên chạy biến vào núi Nga Sơn

Khi không còn lo đám lính đuổi theo, con gái quan vũ hầu mới thấy hãi hùng trứơc cảnh rừng đêm. Chợt nhớ chuyện thầy kể lúc bị lạc vào rừng ở nước Đông Mân, Xuyên lần dò tìm một gốc cây to để làm thế tựa, rồi ngồi chờ bất trắc xảy ra

Việc đầu tiên trong sáng hôm sau là đi tìm lá thuốc để phòng thân. Rồi cứ theo bóng mặt trời mà đi. Mất ba hôm thì trông thấy lũy Nga Sơn. Xuyên mừng, tưởng sắp được gặp Luân. Nhưng lũy cao không qua được. Gọi người, chẳng thấy ai đáp. Lại phải men theo chân lũy đi tiếp. Đến ngày thứ mười, đôi bàn chân bị chuột cắn sưng to, máu mủ đầm đìa, Xuyên quị xuống bên lũy Nga Sơn

Đi tuần lũy, thấy lũ chó cứ chỏ mồm về phía suối Nậm Nang sủa, tộc trưởng Nậm Nang sinh nghi. Liền theo lòng suối, sang qua bên kia lũy. Thấy người bị nạn là cô gái quần áo tả tơi, đôi bàn chân đã thối rữa, ông Nậm Nang vội đi hái lá thuốc để cứu chữa

Khi tỉnh lại, thấy có người ngồi cạnh, Xuyên vừa mừng vừa sợ hãi

-Thưa, có phải là người Nga Sơn không ?

Ông Nậm Nang gật đầu đáp phải. Rồi hỏi lại Xuyên

-Ở đâu đến đây ? Mà sao lại gặp nạn ?

Xuyên gượng ngồi, kể hết nguồn cơn, từ lúc bị vua ép vào cung, một mình trốn khỏi kinh thành, đến khi ngã xuống bên lũy Nga Sơn

Tộc trưởng Nậm Nang liền reo to

-Trời còn thương chủ soái ta

Đêm ấy, làng Nậm Nang vui như ngày hội. Người ta đắp thuốc, băng bó đôi bàn chân cho Xuyên, rồi đặt Xuyên lên chiếc võng làm bằng vỏ trao. Cả làng đã kéo đến nghe con gái quan vũ hầu kể chuyện bị vua tuyển vào cung.

Ông Nậm Nang đã ra đi tự lúc cõng Xuyên về đến làng. Sáng hôm sau thì quày lại có chủ soái Nga Sơn cùng đi

Xuyên ngã vào vòng tay Luân khóc ròng, vì vui sướng

Luân cũng khóc, nói

-Em đi tìm ta đến rã áo thối gót, nghĩa tình ấy chẳng gì sánh nổi

 

CON  VẬT  THỜI  HỒNG HOANG

Nghe Xuyên thoát khỏi vua, lên rừng, các vị tộc trưởng Nga Sơn kéo về Luốc Bưa thăm viếng

Giác lo lắng bảo Luân

-Nay Vưu Cơ lập kế tráo hôn, cho chị Vưu Xuyên lên Nga Sơn. Nếu chuyện truyền tới trung nguyên, triều đình tất biết lũ chúng ta tụ nghĩa ở đây, quan văn hầu ở Xuyên Lâm ắt chẳng yên thân, còn quan vũ hầu với Vưu Cơ ắt sẽ bị tội chết

Luân nói

-Ta đã nghĩ đến điều này

Rồi cho mời hết thảy các vị tộc trưởng đến gặp mình

-Để giữ kín việc tụ nghĩa, kể từ nay, hai tiếng nghĩa binh chỉ được gọi gọn lại là ông Nghĩa. Còn ta là ông Một, Điên Giác là ông Hai. Vi Gia lo việc luyện ngựa, gọi ông Kỵ. Vưu Xuyên lo việc luyện voi, nên gọi cô Tượng. Phải xưng hô như thế cho đến khi làm nên đại sự.

Con gái ông Luốc Bưa đến nói với Luân

-Chị Vưu Xuyên nay đi luyện voi được rồi, nhưng lòng không vui

Luân hỏi

-Làm sao biết được ?

Mưng có vẻ e thẹn

-Người Nga Sơn đã thương nhau thì ăn ở với nhau. Đằng này, anh một nơi chị một nơi, làm sao không buồn

Chủ soái Nga Sơn chỉ mỉm cười, im lặng

Vi Gia đi chiêu tập nghĩa binh ở Hoắc Sơn nghe tin vua bãi ngôi á hậu, vội vã quay về Luốc Bưa

-Một người chuyên bán thuốc cao đơn ở mạn bắc nước ta nói, chính Gia này nghe được

Luân bảo

-Ta không nghĩ một ông vua hiếu sắc lại làm việc ấy

Rồi cùng Gia đến nhà tộc trưởng Luốc Bưa

Thấy có kẻ lạ cùng đi với Luân, Xuyên toan lánh mặt. Nhưng Luân đã ra hiệu, bảo đừng đi

-Là con gái quan vũ hầu Vưu Trấp đó

Nghe Luân bảo, Vi Gia kinh ngạc kêu to

-Á hậu Vưu Xuyên đã trốn lên rừng ?

-Phải. Còn người có tin vua phế bỏ là Vưu Cơ, gọi quan vũ hầu bằng bác ruột

Bấy lâu chỉ nghe nói đến nhau, nay được gặp mặt nhau, cả Vưu Xuyên lẫn Vi Gia đều rất mừng

Xuyên nói

-Nếu điều anh Vi Gia nghe được là thật, quả trời còn thương nhà ta

Luân không dấu được lo lắng

-Còn bằng ngược lại, cả quan vũ hầu lẫn Cơ đều không thoát khỏi tội chết

Ba người đương lo chuyện ở kinh, thì tộc trưởng Luốc Bưa bước vào nhà, vẻ rất giận dữ

-Có người giả làm điên cuồng để thám thính Nga Sơn

Xuyên giật mình khi trông thấy ông lão bị nghĩa binh bắt

-Là tôn ông đấy sao ?

Ông Bảy Mươi nâng gậy trúc lên ngang mày, đoạn cúi người, nói

-Ta chờ đợi đã bấy nhiêu năm. Nay xin quan văn vũ công khanh thu dụng

Luân bàng hoàng đứng lên hỏi

-Ông có lầm đấy không ?

Ông lão bỗng ngửa mặt hát

Mặt trời tắt, kiếm khua trong đêm. Đi mãi đi mãi nay ta mới gặp

Xuyên quay sang Luân, bảo

-Vừa đến địa đầu đất Tây Biên thì gặp tôn ông đây. Lúc ấy em đã thấy có gì khác thường

-Phải. Lúc ấy ta chưa nhận ra con gái quan vũ hầu. Mà cũng thấy có gì khác thường

Ông lão tiếp lời Xuyên

Bỗng Vi Gia đứng lên

-Ở Hoắc Sơn cũng nghe người ta hát bài hát vừa rồi, thế nghĩa là sao ?

Ông Bảy Mươi lại nương gậy trúc, từ tốn đáp

-Tổ phụ ta từng là quan thái y của tiên vương Hiêu Lơn. Lúc lâm chung trăn trối “Cứ gì phải vào triều chữa bệnh cho vua. Hãy làm lương y để cứu người là đủ “ Dòng họ Mạnh nhà ta mấy đời làm thuốc ở kinh. Đến đời ta thì lấy đất trời làm chốn nương thân. Khi chẩn mạch, hái thuốc ở Bắc Biên, Nam Biên. Lúc quay về kinh để nghe thử vua cùng các quan triều có mắc bệnh chi không. Nay biết Nga Sơn đang tụ nghĩa, nên ta quyết đến đây.

Luân vội vã quì

-Kẻ hậu sinh  này đã hiểu ra

Tộc trưởng Sa Lung vật được hổ, nên người Hoắc Sơn nể vì, tôn là ông Cả Núi

Đi đến đâu, ông Sa Lung cũng hỏi lời này

-Có muốn khỏi sưu dịch không ?

Nghĩ đến chuyện đi đón vua trở về, bệnh tật đói khát chết ở dọc đường, ai nấy đều đáp

-Muốn

Lập tức, ông Sa Lung trèo đèo lội suối, đến làng Luốc Bưa

Luân cố dấu vui mừng, vờ hỏi

-Tộc trưởng muốn gọi bọn ta sang bên ấy mua ngựa phải không ?

Ông Sa Lung đáp

-Hoắc Sơn đang cần Nga Sơn trợ giúp, nên ta muốn gặp người bữa trước đã sang đó mua ngựa

Luân lại vờ chưa hiểu ý khách

-Ông Kỵ ở làng này đấy. Nhưng đã đi Mi Sơn tự mấy bữa nay. Tộc trưởng cần chi thì gặp tộc trưởng của làng

Ông Bơ Man liền được triệu đến. Vốn từng nghe tiếng nhau, nay mới biết mặt nhau, hai vị tộc trưởng lấy làm thõa chí.

Ông Sa Lung nói

-Nghe ông cầm đầu Nga Sơn chống sưu dịch, người Hoắc Sơn bọn ta không tin. Đến lúc người mua ngựa sang đó nói, ai cũng háo hức

Ông Bơ Man nói

-Ở Nga Sơn , mỗi lần nghe nhắc đến tộc trưởng Sa Lung, ai cũng nể. Nay mới gặp được người vật được hổ

-Phải. Hổ, ta vật được. Nhưng đám binh triều lên Hoắc Sơn bắt sưu dịch thì ta thua, nên mới sang đây

Hoắc Sơn núi đá chập chùng, con nai phải đi mấy chục dặm đường mới tìm được nước uống

Luân nói

-Không thể làm hào lũy như Nga Sơn. Vì bên đó thiếu rừng cây rậm rạp. Làng có bấy nhiêu người là bấy nhiêu nghĩa binh. Kẻ làm bẩy đá. Người tập cỡi ngựa, bắn cung. Lấy bẩy đá làm thế trận. Lấy những người biết cỡi ngựa bắn cung để ra nghinh chiến. Giặc đã sa vào thế trận tất phải chết vì cung tên, bẩy đá

Tộc trưởng Sa Lung nói

-Người Hoắc Sơn sẽ đời đời chịu ơn này

Lúc tiễn ông về lại Hoắc Sơn, tộc trưởng Bơ Man căn dặn

-Người Hoắc Sơn làm việc chi thì chỉ người Hoắc Sơn biết. Chớ để lộ tiếng ra ngoài

Ông Sa Lung gật đầu, tỏ hiểu ý, rồi hỏi

-Người chỉ cho ta cách chống quân triều là ai vậy ?

Ông Bơ Man kín đáo đáp

-Cũng ở làng này đấy

Điên Giác lập tức được phái đi Mi Sơn, để Vi Gia sang Hoắc Sơn giúp tộc trưởng Sa Lung gầy dựng nghĩa binh

Khưu Luân vào động Tà Bư, nghĩ cách lập kinh đô giả. Một sáng, thấy con gái ông Luốc Bưa hớt hải chạy đến

-Cô Tượng nguy rồi. Ông Một phải về ngay

Luân hoảng hốt kéo Mưng nhảy lên ngựa

-Có phải Xuyên bị ngã không ?

Con gái ông Luốc Bưa ôm chặt lấy chủ soái Nga Sơn

-Thưa, suốt đêm qua, cô Tượng la hét mấy lần. Sáng ra thì nằm im không nói

Về đến nơi thấy ông Bảy Mươi đang chẩn mạch cho Xuyên, Luân cố nén lo lắng, hỏi

-Chắc chẳng việc chi, thưa tôn ông ?

-Khí huyết bình yên. Nhưng tâm thần hơi rối rắm

Nghe ông Bảy Mươi nói, Xuyên mở mắt nhìn Luân

-Em sẽ khoẻ thôi

Nhưng đêm đến lại thấy con vật kỳ quái trườn lên ngực mình, Xuyên lại tháo chạy khỏi nhà ông Luốc Bưa

Ông Bảy Mươi lại chẩn mạch

-Khí huyết vẫn bình yên. Nhưng tâm thần lại rối hơn

Thấy Luân lo lắng, mất ăn mất ngủ, ông Bơ Man cũng đứng ngồi không yên. Ở Nậm Nang, nghe tin Xuyên lâm trọng bệnh, ông Luốc Bưa cũng vội vã quay về

Ông Bảy Mươi vào động Tà Bư  tĩnh tâm ba hôm, quay về làng, nói

-Ta đã nhớ hết các căn bệnh mình chạy chữa suốt mấy chục năm. Nhưng chẳng có căn bệnh nào giống cô Tượng

Luân nói

-Khí huyết tốt, tất sự sống chẳng hề chi. Hay cuộc trốn chạy vừa rồi vẫn còn khiến cho tâm thần Xuyên rối rắm

Ông Bảy Mươi lắc đầu

-Nay cô Tượng đang sống trong sự đùm bọc yêu thương của người Nga Sơn. Theo ta, cuộc trốn chạy kia chẳng còn ăn nhập chi

Có một đêm, Xuyên bỗng chòang dậy vào lúc giữa khuya, rồi quì xuống chân Luân

-Em chẳng còn xứng với tình  yêu của anh nữa đâu

Tưởng Xuyên lại sắp rơi vào cơn rối loạn tâm thần, Luân vỗ về

-Chớ nghĩ ngợi nhiều, khiến bệnh tình nặng thêm

-Là nói thật đấy. Nay em chẳng còn là cô gái trinh trắng như anh tưởng

Xuyên òa khóc, nói, rồi bươn ra khỏi nhà

Lúc tỉnh lại, Xuyên thấy mình đang nằm ở ngôi nhà dành cho chủ soái Nga Sơn.

Luân buồn bã, nói

-Em chớ nghĩ quẩn nữa

Nước mắt Xuyên lại ứa ra

Đêm ấy con gái quan vũ hầu đã kể cho Luân nghe đầu đuôi câu chuyện của cơn mộng mị kia

Ông Bảy Mươi vào động Tà Bư  tĩnh tâm ba hôm, quay về làng, nói

-Đã nhớ được lời kể của cha ta. Chuyện này truyền từ đời tổ phụ của tổ phụ ta. Là thuở khai thiên lập địa có giống vật to lớn y như cô Tượng nằm mộng thấy. Đây là giống vật chỉ bò, và rất hiếu sát. Rồi chẳng hiểu sao, tự dưng bị diệt chủng.

Luân hỏi

-Tôn ông cho là Xuyên  đã nằm mộng thấy giống thú ấy ?

Ông Bảy Mươi chợt ngửa mặt cười vang

-Anh Một nghĩ coi. Vua đến nhà ôm cô Tượng, có ý muốn chung chăn gối. Cô

Tượng liền nằm mộng thấy con thú to lớn đòi giao hoan. Thế là giữa vua và giống thú kia phải có chỗ liên can nào đó

Luân giật mình, hỏi

-Có nghĩa tôn ông muốn nói đương kiêm hoàng đế Chang Lang là loài cháu con của giống thú hiếu sát ?

-Phải

Lời giải mộng của ông Bảy Mươi đã giúp Xuyên  thấy mình còn trinh trắng

 

LỜI  SON  SẮC

Thấy Trấp chít khăn tang vào chầu, bá quan ngơ ngác

Vua vội đứng lên, hỏi

-Đau thương nào đã xảy đến với khanh?

Trấp quì

-Thưa, con gái thần từ hôm được hoàng thượng cho trở về nhà, bệnh tình mỗi ngày một nặng. Thần chạy chữa đủ thuốc thang. Nhưng cuối cùng, nó đã bỏ thần lại một mình nơi cõi đời này

Vua sụp xuống ghế rồng. Thật lâu sau mới sụt sùi nói

-Dẫu gì Vưu Xuyên cũng từng là á cung hoàng hậu. Sao khanh chẳng cho ta biết để cử lễ tang. Một đời tài hoa mệnh bạc, ta lấy làm rất đau lòng

Trấp lau nước mắt, nói

-Thần chẳng dám làm nhọc lòng hoàng thượng, nên đã âm thầm đem vùi con trẻ trong vườn, để cha con được sớm tối gần nhau.

Từ bữa đó, Du chẳng còn thiết việc lâm triều. Cả ngày đêm giam mình nơi cung á hậu

Cơ chính Hiêu Thâm đem lời khuyên can

-Biên chép việc làm của hoàng thượng đã có các quan. Á hậu rủi ro, nhan sắc chẳng còn, hoàng thượng đã cho rời khỏi hoàng cung, nếu còn sống thì cũng phải chịu cảnh phân ly.

Du thở dài, áo não

-Nhan sắc là của hiếm trên đời, làm sao ta chẳng tiếc.

Để khuây khỏa niềm luyến tiếc kia, Du lại lao vào thú lâu thuyền, bỏ mặc việc triều cho Chuyết.

Ở cửa Đông Biên, người Vân Muôi sang lập nghiệp làm ăn mỗi ngày một đông

Thấy đám phu Vân Muôi làm đường ra phía bắc nay bỗng thành đám lính coi giữ cửa Đông Biên, Tương Húc  vội về báo với Chuyết

Quan tể hầu bảo

-Vừa rồi, phu Chang Lang ta cũng chuyển làm binh triều đấy thôi

Húc liền đi gặp vua kể rõ sự việc

Du lộ vẻ kinh hãi

-Quan tể hầu đã biết việc này chưa?

-Thưa, thần đã cấp báo điều này, song, quan tể hầu bảo chẳng có gì phải lo ngại

Lập tức Chuyết được gọi đến gặp vua

-Khanh cho việc Vân Muôi lập đồn binh ở cửa Đông Biên là bình thường ư?

Chuyết biết Húc đã muốn lấy lòng vua, nên rất căm. Song vẫn giữ vẻ điềm tĩnh

-Muôn tâu hoàng thượng, cửa Đông Biên nay đã thành chốn đô hội bán buôn đông đúc, nên phải có binh lính coi giữ  nếp sinh sống làm ăn là lẽ bình thường

-Thế ai lo việc đắp đường cho ta?

Vua hỏi

Chuyết nghĩ ngợi giây lát,rồi đáp

-Về việc này, chắc thần phải sang gặp vua Vân Muôi

Quan tể hầu đi năm hôm quay về, tâu báo

-Vua ấy sẽ đưa mấy vạn phu khác sang thay. Xin hoàng thượng yên lòng

Thấy mọi chuyện có vẻ êm xuôi, Du lại tiếp tục thú rượu voan gái trẻ chốn lâu thuyền.

Tộc trưởng Sa Lung nói

-Nay Hoắc Sơn đã có mấy nghìn nghĩa binh, ta muốn xuống núi tiến đánh Bắc Biên, kiếm thêm cái ăn cho dân các bộ tộc.

Vi Gia rất lo lắng. Một mặt cho người về Nga Sơn cấp báo, một mặt ra sức can ngăn ông Sa Lung

-Theo Gia này, nghĩa binh Hoắc Sơn rèn tập chưa thuần thục, lại không quen địa thế trung nguyên, nên chưa thể xuống núi

Ông Sa Lung có vẻ chẳng bằng lòng

-Chưa đánh nhau chưa biết ai hơn. Xuống núi, một là thu được thóc gạo với các thứ vật dụng, hai là về không, việc chi sợ

Gia nói

-Chiến chinh là việc to tát. Không phải nghĩ là làm được. Giả sử có thu được những gì như tộc trưởng muốn, cũng không bù nổi máu xương phải đổ xuống

Sợ lỡ việc lớn, Luân phải cử ông Bơ Man sang thuyết phục ông Sa Lung

-Đem nghĩa binh xuống núi cướp bóc kẻ khác là không chính nghĩa

Ông Bơ Man nói

Ông Sa Lung hỏi

-Thế làm việc chi mới chính nghĩa?

-Trừ khử bọn vua quan độc ác, đem lại bình yên cho dân lành

-Vậy thì ta đem nghĩa binh xuống núi để làm việc ấy

-Giờ thì chưa được. Theo ta, tộc trưởng phải chiêu tập thêm quân nghĩa, rèn tập kỹ càng, khi thấy đủ sức thì hú gọi Nga Sơn, Mi Sơn cùng xuống núi, ắt sẽ thắng quân triều

Ông Sa Lung liền cùng Gia đi khắp các bộ tộc Hoắc Sơn để làm những công việc ông Bơ Man nói

Ở Mi Sơn, Giác cho người mang thư về Luốc Bưa

Núi rừng Mi Sơn chật hẹp, mà chim khưu đủ lông cánh cứ đòi xuống trung nguyên kiếm hạt thóc rơi”

Xem thư, Luân rất mừng

Xuyên lo lắng, hỏi

-Thế bao giờ ta xuống núi?

Luân đáp

-Một là chờ Hoắc Sơn đủ mạnh như Nga Sơn, Mi Sơn. Hai là, phải tập tiến đánh kinh đô giả, để nghĩa binh thông thạo đường lui tiến, mới thắng nổi quân triều

Lấy suối Tà Bư ở phía đông làm cửa Xương Quơn. Phía nam có núi non trùng điệp, lấy đó làm rặng Mi Sơn. Mạn bắc và mạn tây đều giáp các bộ tộc Nga Sơn, nên cứ coi đó là các ngả đi Bắc Biên, Tây Biên. Lấy nơi ở của chủ soái Nga Sơn làm đại điện. Lấy nhà ở của dân làng làm các đền đài cung điện

Luân phác họa cách lập kinh đô giả cho Xuyên nghe

Chỉ trong mười hôm, các thứ thuộc kinh thành Xương Quơn được dựng lên đủ cả ở làng Luốc Bưa

Nghe chủ soái Nga Sơn cho xây kinh đô giả, ông Bơ Man háo hức quay về Luốc Bưa. Khi thấy làng mạc như cũ, chỉ có các ụ đất đá được đắp đây đó, thì lấy làm ngạc nhiên

-Kinh thành Xương Quơn là thế này sao?

Luân đáp

-Chỉ có thế. Nhưng rồi đây, ta phải hao tổn máu xương mới vào được

Trước khi trở lại các bộ tộc lo việc luyện binh, ông Bơ Man dắt con ngựa lam tơ đến gặp Xuyên

-Làng Nậm Nang gởi cho cô Tượng đấy

Xuyên vô cùng cảm động

-Đã cứu mạng ta, nay còn gởi cho cả ngựa quí thế này

-Phải. Ngựa đã được rèn tập tự mấy tháng nay, xin nữ chủ soái đi thử

Ở Luốc Bưa, ai nấy đều háo hức xem nghĩa binh tập trận. Nhưng ngày ngày chỉ thấy Luân, Xuyên cỡi ngựa đi, về.

Điều lo lắng nhất của Luân là việc tiến đánh kinh thành Xương Quơn

-Xưa, binh đội Vân Muôi không chiếm nổi kinh đô, chỉ vì chúng không am thuộc đường ra lối vào

Xuyên nói

-Vân Muôi xâm lấn nước người, tất phải bại binh. Nay ta đi đánh đổ cường quyền, khi vào kinh thành tất sẽ được dân chúng hưởng ứng, nên chiến thắng là lẽ đương nhiên

-Ta biết. Có điều, làm sao cho máu người Chang Lang khỏi đổ trong cuộc can qua.

Luân, Xuyên lại vào động Tà Bư  đọc lại binh thư.

Bấy giờ là giữa đông. Chim khưu đang về trú mưa ở các rừng cây quanh động đá.

Cả ngày đêm, Luân, Xuyên vùi đầu nơi án thư để đọc cho hết hai trăm lẻ chín cuốn sách của thầy. Trừ Dụng Binh Thư  bàn riêng về binh pháp, hầu như sách nào của ông

Đa Trà cũng nói đến việc binh. Đọc hết sách thầy để lại, Luân, Xuyên chẳng thấy chỗ nào nói đến cách dùng binh không tốn máu xương

Có một đêm, vừa chợp mắt, Luân nghe có tiếng sụt sùi nơi giừơng Xuyên

Tưởng Xuyên lại rơi vào cơn ác mộng hôm nào, Luân vội chạy lại

Con gái quan vũ hầu òa khóc

-Em vừa mộng thấy cha già bị sát hại

Đêm ấy hai người thức trắng. Việc mộng mị của Xuyên cũng khiến Luân lo lắng cho số phận của quan văn hầu Khưu Chiêu

-Trong cuộc bể dâu này, đã xảy biết bao cảnh đau lòng. Có thể một ngày nào, cả quan vũ hầu lẫn cha ta đều không thoát khỏi lưỡi gươm tàn bạo của Hiêu Du

Luân nói

Xuyên chợt thở dài

-Liệu người đời có cho bọn ta đem cốt nhục ra đánh đổi sự thành bại trong trận chiến này không ?

-Em lại nghĩ  lũ chúng ta đương mưu cầu khanh tướng ư ? Đánh đổ triều đại ruỗng mục của họ Hiêu là việc của nghĩa binh Nga Sơn. Còn tiếp sau đó là việc của trăm họ trong nước

Nói xong lời trên, Luân lặng lẽ bước ra khỏi động Tà Bư, bỏ mặc mỗi Xuyên trong cơn bối rối

 

CỘI  NGUỒN

Ông Bảy Mươi đi hái thuốc ở núi Tà Bư, hát

Trời sắp tuôn mưa lũ. Đất hết nỗi tai ương”

Nghe câu hát lạ, con gái ông Luốc Bưa hỏi

-Thưa, tai ương là sao?

Ông Bảy Mươi đáp

-Ví như  ta đương sống yên ổn ở núi rừng này, thì có ai đó đến bắt ta làm kẻ tôi đòi

-Nhưng sao đất cũng chịu tai ương?

-Đấy là lúc chứng kiến nỗi bất hạnh của con người

Mưng bỏ chạy xuống núi

Ông Bảy Mươi đuổi kịp, hỏi vì sao lại bỏ chạy

Mưng khóc, nói

-Chỉ thần núi Nga Sơn mới thấu rõ nỗi bất hạnh của Mưng này

Từ ngày có giống lúa bươn, Luân đã cho khai phá thêm nương rẫy. Làm một mùa, ăn  hai ba năm. Bộ tộc nào cũng làm nhà chứa thóc để dành cho nghĩa binh.

Tộc trưởng Sa Lung nói

-Quả thần linh đã xui khiến anh Kỵ sang đây, Hoắc Sơn mới có nghĩa binh với giống lúa quí

Vi Gia nói

-Nhưng trời không sinh tộc trưởng, thì lấy ai cầm đầu người Hoắc Sơn vốn chẳng

chịu thua ai

Một hôm, ông Sa Lung cầm tay Gia, bảo

-Ta biết thần núi Nga Sơn chưa mách bảo điều ấy với anh Kỵ. Nên có ý muốn bên đó làm rể bên này, cho Nga Sơn, Hoắc Sơn thêm tình nghĩa

Gia nghĩ đến số phận vợ con, không cầm được nước mắt

-Lời tộc trưởng quí hơn ngàn vàng. Song, Gia này đã quyết ở vậy

Tộc trưởng Khơ Lăn hỏi Giác

-Có nên đi ải Xưong Linh để thăm dò tin tức không?

Giác liền sai hai binh triều trong số binh triều trốn lên Mi Sơn giả làm người Mi Sơn, mang trái rừng xuống ải Xương Linh đổi gạo đổi muối

Lúc quay về, bọn chúng lại kéo thêm mấy chục binh triều khác

Giác hỏi

-Các ngươi trốn lên đây là có ý chi?

Bọn lính thưa

-Nay triều đình đã giao cửa ải cho nước Vân Muôi. Bọn chúng tôi cơm không no, nhưng roi đòn xảy từng bữa. Trốn về quê, trước sau cũng bị bắt vào ngục Luân Giao. Chi bằng lên đây nương tựa người Mi Sơn

Năm ấy, cả ba miền Nga Sơn, Mi Sơn, Hoắc Sơn đều được mùa. Quân nghĩa ba nơi gọp lại đến cả vạn. Bộ tộc nào cũng lo luyện binh, chờ về Luốc Bưa tập trận

Con gái ông Luốc Bưa bấy giờ đã rành việc cỡi ngựa bắn cung, đến gặp chủ soái Nga Sơn, hỏi

-Mưng này muốn học cỡi voi giáp trận, có được không?

Luân bảo được. Rồi giao cho việc cai quản năm mươi con voi Tây Miêu tặng ngày ấy

Voi Nga Sơn bấy giờ đến nghìn con. Theo binh pháp của Luân, lúc xa quân giặc, voi chở quân nghĩa bắn cung. Nhưng khi giáp trận, cả người cả voi đều là lính chiến.

Xuyên đem thế võ thứ chín mươi chín của thầy truyền cho lính cỡi voi

Thấy sự lợi hại của Tô Lư  u khốc, có người lo lắng

-Như binh triều cũng đem thế ấy chống lại ta, thì làm sao?

Xuyên đáp

-Giả dụ binh triều cũng có thế ấy, thì sức mạnh cường quyền cũng chẳng thể thắng nổi lòng dân cả nước

Bấy giờ là cuối đông. Chim khưu đang rủ nhau về trung nguyên kiếm thóc rơi.

Đêm đêm, người làng Luốc Bưa nghe tiếng hát của Mưng cất lên nơi suối Tà Bư

Luân bảo

-Con gái tộc trưởng Luốc Bưa hát cho voi ngủ đấy

Xuyên lấy làm lạ, hỏi

-Là khúc  Mân Sơn anh thường hát em nghe lúc còn học ở Xuyên Khê?

-Phải. Ngày mới lên đây, đêm nào ta cũng hát cho vơi nỗi nhớ quê, nên Mưng mới biết được

Một sớm, con gái ông Luốc Bưa hơ hải chạy đến gặp Luân

-Nguy rồi ông Một. Đám voi Tây Miêu đã bỏ đi cả

Lập tức, mọi người tỏa đi tìm. Cho đến khi mặt trời sắp tắt, vẫn chẳng thấy bóng dáng lũ voi

-Mưng này biết rồi

Con gái ông Luốc Bưa nói với Luân, rồi leo lên lưng con voi già, biến mất trong đêm

Vua Tây Miêu hỏi

-Có phải là cô gái đã cùng quan thống lĩnh ngự lâm sang đây không?

Mưng dập đầu, đáp

-Thưa phải. Vì chuyện năm mươi con voi hoàng thượng tặng quan thống lĩnh ngự lâm ngày ấy, nên Mưng này mới trở sang đây

Vua Tây Miêu ra hiệu Mưng đứng lên

-Ta mừng cho giống vật của trời còn nhớ đến cội nguồn. Có điều, chưa hiểu người Nga Sơn đã làm điều chi kinh động chúng

Mưng liền kể việc Luân giao mình cai quản lũ voi, ngày cùng voi luyện tập cách hành binh, đêm hát cho voi ngủ

Vua Tây Miêu rất đỗi ngạc nhiên

-Hát cho voi ngủ? Nhưng hát những gì?

-Thưa,về nơi chôn nhau cắt rốn của con người

Nhà vua liền bước xuống khỏi ngai vàng, nắm lấy tay Mưng

-Ta chưa từng nghe ai làm điều ấy

Hôm tiễn Mưng về lại Nga Sơn, vua Tây Miêu đứng trước lũ voi, nói

-Hỡi giống vật thiêng của trời, hãy trở lại nơi đêm đêm có người hát cho lũ ngươi ngủ. Chốn nào trên mặt đất này các giống vật của trời biết yêu thương nhau, là nơi cho lũ ngươi ở

Đám voi liền quì mọp trước vua

Mưng cảm động, nói

-Xin từ biệt đức vua nhân từ

Rồi leo lên con voi già của mình

Vua Tây Miêu rưng lệ

-Hãy nói lại giùm, rằng ta hằng ao ước trông thấy quan thống lĩnh họ Khưu nơi hoàng cung Tây Miêu, trước khi ta vĩnh biệt cõi đời này

Trong lần tập đánh kinh thành Xương Quơn, Mưng được ở trong đội quân tiến đánh mặt tây. Tượng binh đang ầm ào xông tới, Mưng bỗng quày voi, chạy đến bên Luân

-Đến chừng đánh kinh đô thật, Mưng này có được đi không?

 

SẤM  THẦN

Chang Lang Sử Lịch  chép

“Ở đất Tây Biên, thiên hạ bỗng truyền nhau câu hát

Rồng vàng cắn đất, trâu khạc ra gươm, cây trỗ lá xanh, thì chim xuống núi”

Chuyện đến tai, thủ trấn Tây Biên hoảng hốt bảo thủ hạ

-Sấm thần đấy

Rồi lệnh bắt hết những ai hát những lời kia.

Một hôm, Căn nằm mơ thấy mình gặp Dật. Trong dòng tộc họ Hiêu, Căn là vai anh

-Chú nghĩ rồng vàng là ám chỉ vua?

Dật gật đầu

Căn lại hỏi

-Nhưng sao rồng vàng lại cắn đất?

Dật đáp

-Là giống trên trời, sa xuống đất, rồng hoảng sợ, cắn lung tung. Khi cắn phải trâu, thì bị trâu húc. Trâu khạc ra gươm, tức lấy sừng húc đấy

Sáng ra, Căn gọi vợ

-Ta về kinh tấu bày chuyện sấm thần. Ở nhà phải để mắt ba quân trong việc canh giữ đất biên thùy

Vợ Căn  tỏ vẻ chẳng đồng tình

-Chỉ mấy câu hát bậy bạ kia mà cũng đi gặp vua ư ?

-Đồ đàn bà nông cạn, chớ xen  vào việc nước

Căn nạt, rồi lên ngựa ra đi

Gặp lúc vua ngự chơi lâu thuyền ở cửa Xương Quơn, Căn phải chờ. Chợt có người con gái đến chào

-Xin mời sang bên lâu thuyền dành cho các quan

Căn liền đi theo cô gái

Lúc tỉnh rượu, thủ trấn Tây Biên thấy cả mình lẫn cô gái đều đang trần truồng trên giường

-Ta đương nằm mơ ư ?

-Là thật đấy. Nhưng sao bấy lâu chẳng thấy quan lớn đến chơi ?

Thủ trấn Tây Biên liền nhắm mắt, ôm chặt lấy cô gái, nói

-Ở chốn biên thuỳ, ta chịu thiệt đủ điều

Sau khi làm xong công việc vùi hoa dập liễu, Căn bảo cô gái tính riêng ra từng khoản cho biết. Rượu voan. Đấm bóp. Và giao hoan. Trả ba khỏan kia xong, Căn còn đưa thêm cho cô gái món tiền khá lớn, để tỏ rõ sự hào hoa của khách biên đình

Khi quay lại chỗ cũ mới hay vua đã hồi cung. Căn hoảng hốt nhảy lên ngựa, đuổi theo vua

Du đang nằm trên giừơng, vẻ mệt mỏi, vừa thấy Căn, liền ngồi dậy

-Nghe quân hầu báo có ngươi đến, ta phải bỏ dở cuộc chơi.

Căn lộ vẻ bối rối

-Thưa, nhân lúc chờ hoàng thượng, thần đã thử dạo qua cửa Xương Quơn, xem nay có những gì

-Thôi. Ngươi từ Tây Biên về ắt có việc hệ trọng. Nói đi

Nghe Căn đọc xong mấy câu sấm, vua thất sắc. Nhưng liền điềm tĩnh, hỏi

-Nhà ngươi nghĩ thế nào về những lời kia ?

Căn có vẻ lo sợ

-Muôn tâu hoàng thượng, do không hiểu thế là sao, nên mới cấp tốc về triều

Quan cơ chính lập tức được triệu đến gặp vua

Nghe những lời kia xong, Thâm quì xuống bên giừơng vua, nín lặng

-Sao khanh lại có vẻ sợ ?

Vua hỏi

Thâm chẳng dám nhìn vua

-Thưa, chẳng hiểu vì sao khi nghe những lời kia, thần cứ thấy lo hãi

Du liền bước xuống khỏi giừơng

-Có phải quan cơ chính không dám nói ra điều mình vừa nghĩ được ?

Mặt Thâm biến sắc

-Muôn tâu, quả thần chưa hiểu thấu

Trước khi trở lại Tây Biên, Căn đến gặp Thâm

-Quan cơ chính có nghĩ rồng vàng là ám chỉ vua không ?

Thâm gật đầu

Căn lại hỏi

-Sấm thần là việc của trời đất quỉ thần, sao quan anh không chịu nói ra ý mình ?

Thâm thở dài

-Tai họa là do vua gây nên. Nói ra việc ấy, khác nào hạch tội vua

-Căn này u  tối, vẫn chưa rõ quan anh muốn nói gì

Thâm cầm tay thủ trấn Tây Biên

-Là chỗ cùng dòng tộc, ta phải nói thật với ngươi. Trong bao năm qua, vua đã làm cho muôn dân đau khổ. Nào xây cung gác, nào bán đứng gái trinh, giết người vô tội. Tội ác vua gây nên, kể không xiết. Rồng vàng cắn đất là chỉ sự bạo ngược của vua. Oán hận của muôn dân đã thấu đến trời thần. Trâu khạc ra gươm là muôn dân sẽ nổi dậy chống lại vua đó

Về đến Tây Biên, Căn đưa hết lính trấn đi án ngữ ở chân dãy Nga Sơn, chỉ để lại những thuộc hạ thân tín. Rồi gom hết các thứ vàng bạc châu báu vào hòm, nhằm khi có biến, sẽ mang đi

Thấy hơi lạ, vợ Căn hỏi, thì Căn đáp

-Binh pháp xưa nay dạy, kẻ trấn nhậm chốn biên thùy như cây cao đứng trước gió. Do vậy, mọi việc phải sẵn sàng

Du còn hiểu chuyện ấy hơn cả Thâm. Song, không cho những lời kia là của trời thần

Quan cơ chính lại được gọi đến

-Khanh có nghĩ, kẻ nào đó đã bày ra chuyện sấm thần không ?

Thâm vô cùng bối rối

-Muôn tâu, quả thật thần chưa nghĩ đến

Du giận dữ hét

-Chưa nghĩ, thì hãy về nghĩ, rồi đến nói ta nghe

Quan cơ chính chẳng dám chia xẻ với ai, vì vua đã lệnh không được để bất cứ ai trong triều biết việc ấy. Nói thật lòng mình, Thâm sợ mạng sống chẳng vẹn toàn. Cuối cùng, đã đánh liều đến gặp hoàng hậu Đam Mỵ

-Sấm thần ư ?

Mỵ vô cùng kinh ngạc khi nghe chuyện

Thâm nói

-Việc làm của vua đã thấu đến trời thần. Sấm truyền đã rõ. Nhưng vua lại cho ai đo bày ra quỉ kế. Hoàng hậu hãy cố can ngăn, kẻo vua lại chuốc thêm tội lỗi

Mỵ thở dài

-Có việc làm nào của vua, Mỵ này không can gián. Ngặt nỗi, quan tể hầu luôn buông lời xu phụ khiến vua càng độc đoán hơn

Thâm nói

-Thần cho rằng, lần này vua sẽ nghe theo hoàng hậu

Mỵ buồn bã, bảo

-Tất nhiên, ta sẽ quyết tìm lời khuyên ngăn. Song, chỗ không được hết chín phần

Quả nhiên, vua chẳng nghe Mỵ, đã triệu Chuyết đến hỏi

-Khanh nghĩ trên đời này có sấm thần không ?

Chuyết đã biết chuyện, song, vẫn giả vờ

-Thưa, thần chưa hiểu ý hoàng thượng

Du liền đọc những lời kia, rồi bảo

-Đó là quỉ kế. Khanh hãy tìm cho ra kẻ muốn chống lại ta

Thấy Chuyết giật mình, vua hỏi

-Mà sao khanh lại tỏ ra lo sợ ?

Chuyết lật đật quì

-Muôn tâu hoàng thượng, thần quá ư kinh hãi khi nghĩ đến kẻ dám chống lại vua

Về đến tư dinh, Chuyết đuổi hết quân hầu, đóng chặt cửa phòng, ngồi chép một thư dài gởi vua Vân  Muôi. Rồi lệnh đánh xe tứ mã xuống bến Xương Quơn, lên chiếc lâu thuyền có viên quan đặc nhiệm của vua Vân Muôi. Lát sau, lại ung dung lên xe tứ mã quay về tư dinh

Trấp đi chầu về, gọi cháu gái

-Cơ trời đã định. Kẻ bạo ngược e khó thoát

Tưởng có tin chi từ Nga Sơn đưa về, Cơ nôn nóng trong lòng

-Sự việc là thế nào, thưa bác ?

Trấp thuật chuyện sấm thần cho Cơ nghe

-Vua lệnh Chuyết giữ kín chuyện, nhưng ông ta lại đem kể với ta

Cơ lặng đi giây lâu

-Cháu trộm nghĩ, đây là kế sách của Nga Sơn

Quan tể hầu chợt đầm đìa nước mắt

-Từ hôm cháu bày ra cách làm đám chết giả, ta thấy có yên lòng về chuyện tráo hôn. Nay xảy việc sấm thần, ta liền nghĩ đến Vưu Xuyên, chẳng biết hiện nó sống chết ra sao

Cơ cố nén, nói

-Bao lần cháu định trốn đi Nga Sơn cho biết tin tức chị Vưu Xuyên, song, sợ bác đau lòng, nên chẳng dám

Trấp lau nước mắt

-Xuyên vì việc lớn đã ra đi. Ta sống được đến hôm nay là nhờ cháu đó

Chuyện sấm thần đã truyền đến bên kia lũy Nga Sơn

Luân liền triệu sáu mươi tư vị tộc trưởng về Luốc Bưa

Chủ soái Nga Sơn nói

-Sự bạo ngược của vua quan trung nguyên đã động đến trời cao. Sấm thần chỉ rõ, kẻ ác khó thoát khỏi lưới trời. Hết thảy hãy sẵn sàng. Chỉ chờ hú gọi được Mi Sơn, Hoắc Sơn, thì ta xuống núi

Các vị tộc trưởng cùng nói

-Hết thảy dân Nga Sơn đang muốn thế.

Ngay sau đó, các vị tộc trưởng đã cùng chủ soái mình vào động Tà Bư, trích máu ăn thề, chờ ngày khởi sự.

 

ĐÁNH  ĐẾN  LÚC  CHẲNG  CÒN  ĐÁNH  NỔI

Ngày nào cũng có tin tức từ các trấn đưa về triều. Từ Tây Biên đến Nam Biên, từ Cha Man, Cha Gung đến Cha Lung, Bắc Biên, hầu như khắp nơi trong nước đều nghe hát sấm thần

Du tức lồng lộn lên, bao nhiêu lần triệu Chuyết đến hỏi,  nhưng quan tể hầu vẫn chưa dám mở miệng nói ra người mình muốn giết

Kinh thành như sắp có biến

Húc đến gặp Chuyết

-Sấm thần truyền khắp nơi, số trời của vua sắp mãn, sao quan anh vẫn bình chân như vại ?

Chuyết hỏi

-Thế, ngươi bảo ta phải làm gì ?

Húc đáp

-Hoàng thượng có mệnh hệ nào, thái tử Hiêu Thuông sẽ kế vị. Đam Mỵ tất sẽ là thái hậu của triều đình. Song, bấy lâu quan anh lại đoạn tình với hoàng hậu, nếu không sớm lập lại tình cha con, e khó giữ chức tể hầu như cũ

Chuyết ngửa cổ cười vang

-Sợ ta mất chức, thì chẳng lấy ai che chở tội lỗi cho ngươi chứ gì ?

Húc lật đật ôm chân Chuyết

-Chỉ quan anh mới thấu rõ tâm can kẻ này

Quan tể hầu nhổ một bãi nước bọt vào mặt Húc

-Vô sỉ như ngươi là cùng

Nhữ Bột bàn với Chuyên Chiết

-Trong hai ta, chắc chẳng ai dám đến gặp quan tể hầu. Chỉ còn cách nhờ quan lễ

nhạc là thượng sách

Rồi hai người cùng góp vàng bạc châu báu, mang đến nhà Tu

Thấy Bột, Chiết đột ngột đến vào đêm hôm, Tu lo lắng

-Hoàng thượng có việc gì rồi chăng ?

Bột đáp

-Chưa. Nhưng cũng sắp xảy ra thôi

Chiết tiếp lời Bột

-Nghe nói hồi ấy, chim thắc kêu bảy đêm liền trên núi Mi Sơn thì vua Hiêu Lịch băng. Nay sấm thần truyền khắp nơi nơi, chắc hoàng thượng chẳng còn được bao lâu

Tu thở dài

-Tính ra, ta là chỗ họ hàng với thái tử. Nhưng chẳng bao giờ được gần gũi nhau, thành cũng chẳng khác người dưng. Khi vua cũ băng, ta cũng chẳng biết mình có còn được chức tước cũ không ?

Bột chợp ngay cơ hội

-Quan điện công đền và Bột này đến đây cũng vì chuyện đó

Tu có vẻ ngạc nhiên

-Nhưng ta có phải là thái tử đâu ?

Chiết khúm núm mở gói vàng bạc châu báu ra

-Đường công danh của bọn này có hanh thông hay không là nhờ quan lễ nhạc đó

Tu kêu

-Các ông đi đút lót lầm cửa rồi

Bột, Chiết cùng nói

-Thưa, không lầm đâu. Bỡi quan lễ nhạc là chỗ vai dượng của thái tử

-Thế các ông muốn nhờ ta đem số vàng bạc này dâng cho thái tử ?

-Thưa không phải thế. Hoạn lộ vốn là con đường gập ghềnh, quanh co. Nên bọn này muốn nhờ quan lễ nhạc đến gặp quan tể hầu. Rồi sau đó, quan tể hầu mới gặp thái tử.

-Tức, đem lễ vật kia dâng cho nhạc phụ ta ?

-Thưa không. Chút lễ mọn này cốt để bù vào chỗ khó nhọc của quan lễ nhạc. Còn quan tể hầu thì có phần riêng

Từ ngày có tin đồn Khưu Luân khởi binh, Tu chẳng còn dám xén bớt phần ăn của đám ca công ở Cung Nguyệt Khuyết. Lương bỗng triều đình cũng chỉ đủ trang trải cho  việc nuôi con. Giờ đứng trước số của cải tự dưng mà có, Tu không dấu được niềm xúc động

-Các ông đã có lòng với ta, nên ta cũng nguyện gắng sức giúp lại các ông

Sau mấy ngày đắn đo suy nghĩ, Tu quyết đem nửa số vàng bạc kia dâng cho Chuyết

Gặp lúc quan tể hầu đang vui, Tu liền trưng vàng bạc ra

-Nay mai quan tước triều đình có gì thay đổi, Tu này chỉ còn biết trông cậy vào nhạc phụ

Chuyết hỏi

-Ngươi học thói đút lót đó ở đâu ?

Tu liền quì

-Gọi là chút lễ mọn để nhờ quan tể hầu tâu giúp lên thái tử, cho Tu này được giữ tước vị như bấy lâu nay

Chuyết nạt

-Nhưng tại sao ta phải làm việc ấy ?

Tu run

-Cứ theo sấm thần, thì đương kiêm hoàng thượng sắp mãn số, thái tử tất lên ngôi kế vị

Chuyết không nhịn được cười. Đoạn nghiêm mặt

-Vua còn sống sờ sờ, mà ngươi làm thế là tội loạn thần, bị chém, rõ chưa ?

Tu sợ quá, khai ra hết việc Bột, Chiết đã đến xúi mình làm thế

Ở trong nước, ai ai cũng biết chuyện sấm thần. Nhưng trước bá quan văn võ triều đình, Du không hề có một lời về chuyện ấy

Khi ngồi tính lại số bề tôi cũ vua Hiêu Lịch, thấy mình chẳng dính dáng gì với dòng họ Hiêu, quan pháp hình Độc Tố giật mình nhớ đến cuộc so gươm cùng Chuyết hôm nào. Nếu sấm thần là điềm trời thật, thì thái tử Hiêu Thuông sắp lên ngôi, Chuyết đã có cơ hội để phục thù.

Nghe tiếng gọi cửa của Tố vào lúc đêm hôm, Trấp biết ông ta đến vì lẽ gì.

Quan vũ hầu đuổi chó. Rồi mở cổng vườn

-Có ai trong nhà ông không ?

Tố hỏi

Trấp đặt tay lên gáy ông bạn đồng liêu

-Có điều chi khiến quan pháp hình kinh sợ chăng ?

Sau khi thấy nhà chẳng ai ngoài Trấp, Tố liền vào việc

-Nước sắp thay ngôi đổi chủ. Bọn ta sắp trắng tay

Trấp vờ ngạc nhiên

-Ông pháp hình nói chuyện gì thế ?

Tố thở dài

-Bấy lâu ta với ông vẫn giữ được tước cao, vì đương kiêm hoàng đế còn  nể nang những bề tôi có công trongcuộc chiến chống Vân Muôi. Nhưng khi thái tử lên ngôi, mọi việc sẽ khác đi.

-Chuyện ấy còn xa, ông lo nỗi gì ?

Tố lườm Trấp

-Vua sợ số trời, chẳng dám đá động việc sấm thần. Còn ông cũng giả làm không hay biết với ta ư ?

Trấp nói

-Ta cũng có nghe. Nhưng đấy là chuyện của vua, bàn luận làm gì

Tố giận dữ

-Vua mà chết, Đam Chuyết cứa cổ ta với ông, biết chưa ?

Trấp bỗng cười to

-Vua chết, các quan triều phải lo đi chôn vua, ai còn rảnh để cứa cổ nhau. Mà thôi.

Ông chớ lo. Vua chưa dễ gì chết đâu

Tố sửa soạn ra về, thì có Cưu đến

Quan pháp hìng chẳng dè dặt, hỏi liền

-Ông thống binh nghĩ sao về chuyện sấm thần ?

Cưu vuốt lấy mặt, ngáp dài

-Từ hôm được thăng đại thống binh, đầu óc ta bỗng trở nên u tối. Xin ông hãy hỏi các quan triều khác.

Nhưng Tố vừa bước ra khỏi nhà, Cưu đã hỏi Trấp

-Sấm thần là mưu thuật của bậc am tường chính sự và trận mạc, ông có nghĩ vậy không ?

Trấp cho đây là việc đại sự, liên quan đến vận mệnh của Xuyên, nên chỉ im, không dám chia xẻ cùng Cưu

Chuyết đã tìm thấy trong kho văn khố thời chống Vân Muôi những chiếu chỉ điều quân Chiêu thảo giúp vua. Quan tể hầu vui sướng đến phải hét to lên. Rồi tức tốc đi gặp vua

-Muôn tâu hoàng thượng, thần đã tìm ra được kẻ làm ra quỉ thuật sấm thần

-Ai ?

Vua vội nhảy xuống khỏi giừơng

Chờ Du xem xong tờ chiếu lệnh xuất quân, Chuyết hỏi

-Hoàng thượng có thấy giọng văn giống với giọng văn của sấm thần không ?

-Ta thấy giống. Hồi ấy ai thảo chiếu lệnh này ?

-Thưa, thần đã tra xét kỹ văn khố triều đình, mới rõ chiếu lệnh này do quan văn hầu Khưu Chiêu thảo

Vua lặng đi hồi lâu, rồi bảo

-Gọi quan cơ chính cho ta

Bấy giờ là gần nửa đêm.

Hai vị đại thần quì. Vua ngồi nơi giừơng phán

-Quan cơ chính hãy đem nghìn quân triều đến Xuyên Lâm vây bắt Khưu Chiêu. Nếu để sẩy ta chém đầu khanh đấy

-Thưa, ngay bây giờ sao ?

-Ngay bây giờ. Còn ông tể hầu đi gặp ông pháp hình, bảo lập án lệnh ngay trong đêm. Nội ngày mai, ta chặt đầu kẻ mưu phản, rõ chưa ?

Nghe sấm thần truyền khắp nước, Chiêu biết Nga Sơn sắp khởi binh. Ông biên thư sang Xuyên Sơn, dặn bảo Châu các thứ. Rồi lập hương án, tạ tội với tổ tiên. Quan văn hầu sợ trong cuộc can qua sắp xảy ra, dòng họ Khưu chẳng còn ai để nối dõi tông đường.

Sáng ấy, Chiêu ra vườn xới đất như mọi hôm, thì nghe có tiếng vó ngựa nơi đầu làng. Ông biết điều chờ đợi bấy lâu đã xảy ra. Tiếng vó ngựa bỗng im bặt. Lát sau, thì thấy Thâm dắt ngựa tiến vào sân

-Ông cơ chính đã phải đi suốt đêm, phải không ?

Chiêu hỏi

Thâm rút gươm khỏi vỏ

-Ta vâng mệnh hoàng thượng đến bắt quan văn hầu đây. Song, nghĩ tình đồng liêu, nên muốn cứu ông.

-Bắt ta? Nhưng bắt vì lẽ gi?

-Tội mưu phản

Chiêu bỗng cười vang

-Vua tính sai rồi. Ta chẳng đời nào chịu để lũ vua quan xấu xa làm hoen ố non sông gấm vóc tiền nhân để lại. Nay ta phải đánh lũ ngươi trước. Mai kia muôn dân cả nước sẽ đứng lên đạp đổ cường quyền

Nói xong lời ấy, Chiêu xông tới, giật lấy gươm và ngựa của Thâm.

-Đừng. Hãy mau trốn khỏi nơi đây

Thâm thét

Quan văn hầu quần nhau với nghìn quân triều từ sáng đến chiều. Những lúc thấy Chiêu phá thủng vòng vây, Thâm lại thét lên

-Hãy nghe lời ta, ông văn hầu

Cho đến khi mặt trời tắt nắng, quân triều lớp chết, lớp tháo chạy

Chiêu phi ngựa suốt cả đêm về kinh thành Xương Quơn.

Du còn đương yên giấc, nghe cấp báo có giặc, vội xách gươm chạy ra khỏi hậu cung

-Ta đến hỏi tội ngươi đây

Chiêu chỏ gươm về phía vua, nói

Nhưng lính  cấm vệ đã xông ra

Quan văn hầu lại đánh nhau với quân triều cho đến lúc chẳng còn đánh nổi

 

PHÁP  TRƯỜNG

Trấp đi chầu về, gọi cháu gái bảo

-Thế là hết. Chỉ còn chờ ngày vua đem ra chém

Cơ hỏi

-Nhưng bác đã nhờ đến hoàng hậu chưa ?

-Rồi. Song chẳng ăn thua. Vua vốn ghét ông văn hầu, nay có dịp là giết thôi

Mặt Cơ chợt đổi sắc

-Cháu làm sao thế?

-Thưa, Cơ này phải trốn đi Nga Sơn, xin nghĩa binh về kinh giải cứu

Trấp lắc đầu

-Việc tụ nghĩa là việc lớn, không phải muốn khởi binh lúc nào cũng được. Vả, cũng chưa biết hiện Nga Sơn thực lực thế nào. Cháu tìm được Khưu Luân thì vua đã chém xong ông văn hầu

Tối hôm ấy Trấp đến nhà Cưu

Quan thống binh đang khăn áo chỉnh tề

-Ta định sang ông vũ hầu đây

Cưu nói

Trấp nghe hồi họp trong lòng

-Ông đã nghĩ ra cách rồi ư ?

Cưu buột thở dài

-Hoá ra ông cũng hỏi ta câu ta định đến hỏi ông

Trấp ngồi nhấp nước sối với Cưu, đến nửa đêm thì đứng lên

-Ta về thôi

-Ừ ông về

-Nhưng chẳng lẽ bọn ta đành chịu bó tay ?

Hai vị quan già lại ngồi nhấp nước sối cho đến khi nghe gà gáy sáng.

Quan thống binh chợt òa khóc

-Cưu này lấy làm xấu hổ với ông ấy. Bỡi chẳng dám từ bỏ miếng cơm manh áo vua ban

Trấp cũng lau nước mắt

-Sao ta lại cứ tiếp tục ngồi chung chiếu cùng đám người đê tiện , hỡ ông thống binh

Chỉ mỗi Thâm là được vua cho đến gặp tội nhân  trước khi bị hành quyết

Quan cơ chính trách

-Ông văn hầu nghe ta thì đâu đến nông nỗi này

Chiêu cười

-Ông cơ chính biết chuyện chó quan chó dân chưa ?

-Chưa. Chuyện thế nào ?

-Chó quan chê chó dân là loài chó đói. Chó dân bảo, đói thì ăn cứt của dân lành còn hơn những món cao sang của đám tham quan. Chó mà biết sống thanh cao. Còn ông cơ chính, ta nghe nói ông Đa Trà đã nhổ vào mặt ông giữa bá quan, nhưng đến nay vẫn chưa chịu chết đi, quả là gan ruột

Thâm tức điên lên, đóng ập cửa tù, lặng lẽ quay về.

Kể từ lúc Chiêu bị bắt đến khi đem ra chém là chẵn hai ngày hai đêm. Thời gian đủ để vua cho lập pháp trường gòm có giá chém và đài ngự lãm.

Theo lệnh Du, hết thảy quan triều phải có mặt ở pháp trường.

Lúc chờ dẫn tội nhân đến, Thâm khều Tố, hỏi

-Ông có nghe hoàng thượng sai ai coi hành quyết không ?

Tố lắc đầu

-Lúc thảo án lệnh, ta có hỏi việc ấy. Nhưng vua bảo ra pháp trường thì rõ.

Chiêng gióng năm đã gióng dả gióng lên. Quan văn hầu Khưu Chiêu đeo gông tam phạm thong thả bước lên giá chém. Pháp trường chợt im như chết.

Vua nhìn quanh bốn phía, rồi ngoắc Chuyết đến hỏi

-Khanh cho phát cáo tri từ lúc nào ?

Quan tể hầu thất sắc

-Thưa, ngay từ lúc bắt được Chiêu. Nhưng chẳng hiểu vì sao dân chúng chẳng đến

xem

-Thôi, lui ra

Vua nạt

Đoạn, đứng lên bục dành cho vua ở đài ngự lãm, nói to

-Ta đương kiêm hoàng đế Chang Lang bảo cho thần dân cả nước biết. Khưu Chiêu vốn là quan đại thần, được hưởng bỗng lộc triều đình, nhưng đã đem lòng phản trắc, bày ra quỉ thuật sấm thần, dám chống lại quân triều lúc thi hành luật nước, lại cả gan tiến đánh hoàng cung. Ba tội ấy đều bị ghép vào án chém đầu. Nay giao cho quan vũ công hầu Vưu Trấp lo việc hành quyết

Quan pháp hình phải dìu, Trấp mới bước nổi. Lính hành quyết đang bồng gươm đứng chờ ở chân đài ngự lãm.

-Hãy gắng lên, ông vũ hầu

Tố nói khẽ. Đoạn đỡ Trấp lên ngựa

Ở ngự lãm đài, Thâm nghiêng người, nắm lấy tay Chuyết, tươi cười

-Đáng đời đứa hám danh, hỡ ông tể hầu

Chuyết cười mũi

-Ông cơ chính lấy làm vui sướng lắm sao ?

Chiêng gióng ba đã gióng lên gấp gáp. Lính hành quyết bước theo kiểu lùi một tấn hai, tiến về giá chém. Bước theo sau là ngựa của Trấp.

Từ đài ngự lãm, quan pháp hình cất tiếng hô

-Đã đến giờ hành quyết

Vừa trông thấy Chiêu cười, Trấp đã gục trên lưng ngựa

Vua giận dữ, thét

-Đến giờ rồi đấy

Quan vũ hầu Vưu Trấp nằm dài trên lưng ngựa, òa khóc.

Và hô  “chém”

Khi vua và các quan rời khỏi pháp trường, quan vũ hầu mới tỉnh lại

Một bà lão đầu chít khăn tang chạy bổ đến chỗ giá chém, gào lớn

-Hỡi cây đại thụ của đời ta

Quan vũ hầu sững sờ

-Bà là ai, có thể nói cho ta biết không ?

Bà lão ngửa mặt lên trời, đáp

-Là kẻ hèn mạt nhất đời này

Mãi sau này đám lính hành quyết mới nói lộ ra, là bọn chúng đã nhận mấy chục cân vàng, và để bà lão mang xác quan văn hầu đi. Nghe bọn lính kể, nhiều người nghĩ đấy là chị vú của Luân, tức người tình cũ của quan văn hầu Khưu Chiêu

Sau khi chém Chiêu, vua lại nghe lời Thâm và Chuyết, cho truy bắt vợ chồng con cái Khưu Châu, trong đó có lũ con Vi Gia, đem về kinh chém cả

 

ĐẠI  TANG

Giác từ Mi Sơn mang tin dữ về Luốc Bưa.

Luân quị xuống hằng giờ, lúc trở dậy, nói

-Ta vừa mơ thấy cha ta bị vua sát hại

Giác gạt nước mắt, bảo

-Là thật đấy. Theo lời bọn binh triều trốn lên Mi Sơn, thì quan văn hầu một mình một ngựa, xông vào hoàng cung, quần nhau với đám ngự lâm quân

-Hỡi trời cao có thấu

Luân thét. Rồi nhảy lên con kim mã, phóng ra khỏi làng. Đến tận mãi chân lũy Nga Sơn, Giác và Xuyên mới đuổi kịp. Đêm cuối xuân, vằng vặc ánh sao.

Con gái quan vũ hầu cho ngựa đi sát ngựa của Luân

-Nỗi đau này đâu phải chỉ riêng anh

Giác cũng cho ngựa đi kề cạnh ngựa của Luân

-Binh triều hằng vạn, mà ta đi báo thù cho quan văn hầu bằng cách này, e khó thành. Chi bằng quay lại, kêu gọi nghĩa binh ba miền xuống núi

Luân vẫn im, thúc ngựa tiến về phía cửa lũy

Thấy cả ba vị chủ chốt Nga Sơn đột ngột ra đi, đám nghĩa binh coi cửa lũy vô cùng kinh ngạc

-Chủ soái cùng ông Hai, cô Tượng định bỏ người Nga Sơn chúng tôi hay sao ?

Giác bảo

-Hãy đốt lửa lên cho tộc trưởng Bơ Man biết bọn  ta đang ở đây

Sau khi làm xong công việc báo hiệu, đám nghĩa binh coi cửa lũy đến quì trước ngựa Luân, khóc

-Chủ soái đi rồi, binh triều sẽ lên đây, dân Nga Sơn chúng tôi ắt chết cả

Luân vẫn ngồi im trên ngựa, chẳng nói lời nào

Xuyên sụt sùi khóc

-Nằm gai nếm mật bao nhiêu năm tháng, nay bỗng bỏ cả hay sao ?

Bỗng Giác nhảy xuống ngựa, nắm lấy tay Luân

-Khưu huynh hãy ở lại cùng người Nga Sơn lo việc khởi binh. Để mỗi Giác này đi báo thù cho quan văn hầu

-Không được. Quay lại cả thôi

Luân lại thét lên

Vi Gia đầu chít khăn tang từ Hoắc Sơn quay về Luốc Bưa

-Lệnh đệ tính chừng nào thì xuống núi ?

Ông Sa Lung cắm ngọn dáo xuống đất

-Ta cùng anh Kỵ sang đây là để hỏi việc khởi binh đây

Điên Giác nói

-Nhất định là phải xuống núi để trả mối thù này. Nhưng giờ hãy lo việc tang lễ cho những người bị sát hại trước đã.

Chang Lang Sử Lịch chép

“Bấy giờ là cuối xuân. Cảnh vật Nga Sơn vẫn tốt tươi, nhưng lòng người thì sầu héo

Dù chưa nên duyên chồng vợ, Vưu Xuyên vẫn để tang cho quan văn hầu Khưu Chiêu theo đạo dâu con. Chưa cảnh nào đau lòng hơn. Luân, Xuyên khóc cha, khóc anh và đàn cháu. Vi Gia thì khóc con. Ở động Tà Bư, hương đèn nghi ngút suốt ngày đêm. Sáu mươi tư vị tộc trưởng Nga Sơn tề tựu đủ ở đây. Các vị tộc trưởng Mi Sơn cũng kéo sang viếng.

-Vua giết trước sau là mười lăm mạng người. Đây là mối thù chung của ba miền Nga Sơn, Mi Sơn, và Hoắc Sơn.

Nghe ông Bơ Man nhắc đến số người bị Du sát hại, ai nấy đều rơi lệ.

Ông Khơ Lăn nói

-Con cọp dữ nhất trên rừng cũng không ăn quá hai mạng người

Ông Sa Lung lại cắm ngọn dáo xuống đất

-Phải xuống núi thôi

-Phải

Hết thảy các vị tộc trưởng đồng hô to

Nhưng chủ soái Nga Sơn vẫn ngồi bất động trước bàn hương án

Luân khóc cha đúng bảy ngày đêm mới trở dậy, hỏi

-Mọi người đi cả rồi phải không ?

Xuyên nói

-Người trở lại Hoắc Sơn. Kẻ về lại Mi Sơn. Hết thảy đều đang chờ lệnh chủ soái Nga Sơn

-Lệnh ta? Nhưng là lệnh chi ?

Xuyên cho là tang tóc đã làm tâm trí Luân rối rắm, không còn nghĩ đến việc khởi binh, nên liền triệu ông Bảy Mươi vào động Tà Bư

-Tôn ông đến chẩn mạch cho ta đấy ư ?

Chủ soái Nga Sơn hỏi

Ông lão ái ngại nhìn Luân. Không quay về làng , mà ông đến suối Tà Bư, hát

Sông dài sông dài mày chảy về đâu “

Xuyên rất bối rối, hỏi

-Sao không để cho ông Bảy Mươi chẩn mạch cắt thuốc ?

Luân đáp

-Ông ấy chẳng giúp gì được ta đâu

Nhưng ông Bảy Mươi đã quay lại

-Xin chủ soái cho già này thử chữa trị

Luân u sầu, bảo

-Tôn ông cứ nói đi

-Vậy thì xin hỏi. Lúc quan văn vũ công khanh băm nát mũ áo vua ban, bỏ kinh thành lên đây, có phải vì thiên hạ không ?

-Phải

-Triều đình họ Hiêu như cái ách trời đè trên cổ dân Chang Lang. Nay có kẻ tháo được ách ấy mà không chịu làm thì có bị muôn dân oán hận không ?

-Thôi, tôn ông hãy về đi

Nửa đêm hôm ấy, Luân vùng dậy, chạy khỏi động Tà Bư, vừa chạy vừa gào thét. Lúc Xuyên đuổi kịp, thì Luân đã gục xuống giữa rừng đêm

Sáng hôm sau Luân thuật cho Xuyên nghe giấc mơ của mình, rồi bảo

-Ta đã thấy máu tuôn ra từ gươm báu của cha ta. Phải xuống núi thôi

Điên Giác, Vi Gia, cùng các vị tộc trưởng ba miền lập tức được triệu về Luốc Bưa

-Nay Nga Sơn, Mi Sơn, Hoắc Sơn đều cùng chung một lòng, nên ta quyết khởi binh

Chủ soái Nga Sơn vừa dứt lời, các vị tộc trưởng ôm nhau hò reo

Ông Bảy Mươi nương gậy trúc, đứng lên

-Nay nghĩa binh sắp đi đánh đổ triều đình họ Hiêu bạo ngược, tức gầy nên trang sử mới cho dòng giống Chang Lang. Do vậy, trước khi xuống núi, ta phải làm lễ tế cờ nghĩa, tôn vinh chủ soái

Điên Giác liền đứng lên

-Tôn ông nói rất phải. Theo Giác này, cờ nghĩa nên lấy màu xanh của rừng núi Nga Sơn. Còn chủ soái Nga Sơn thì lên ngôi vua nghĩa

Các vị tộc trưởng cùng nói

-Bấy lâu chúng tôi vẫn muốn thế

Luân vội đứng lên, nói

-Ta chỉ có mỗi ước nguyện đánh đổ được triều đình họ Hiêu bạo ngược. Nên nay ta là thống lĩnh nghĩa binh, chứ không phải là vua

Ông Bảy Mươi lại nương gậy trúc, đứng lên

-Như thế không được. Một là phải có vua nghĩa để đứng ra hiệu triệu muôn dân trong nước. Hai là phải có vua nghĩa để cùng nghĩa binh chống lại ông vua bạo ngược, phải có danh chính thế, triều đình Xương Quơn mới không cho Nga Sơn ta là giặc.

Cuối cùng, Luân phải thuận theo ý của mọi người

Mi Sơn, Hoắc Sơn còn đang trên đường về Luốc Bưa để làm lễ tôn vinh vua nghĩa và xuống núi, thì có tin quân triều kéo lên Tây Biên “

 

CHÉN  RƯỢU  NGA  SƠN

Cưu lệnh dừng quân ở chân dãy Nga Sơn, rồi cho gọi thủ trấn Tây Biên đến hỏi

-Đám rợ dấy loạn hiện có bao nhiêu người? Và đích xác do ai cầm đầu?

Hiêu Căn không dấu được bối rối

-Thưa, hôm ấy trời vừa tối thì lính trấn nhìn thấy lửa trên ngọn cây cao bên kia lũy Nga Sơn. Thần cho đấy là ám hiệu của bọn dấy loạn, nên phải cấp báo về kinh

-Ta đã nghe việc ấy ở triều. Mật báo của ông còn nói rõ, chính Khưu Luân cầm đầu đám dân dấy loạn, nên mới có cuộc tây phạt này

-Thưa, có phải Khưu Luân đang cầm đầu đám rợ ấy không, thần không dám chắc. Song, trong phép cầm quân, ta có quyền nghi hoặc kẻ địch

-Thôi được. Giờ ông hãy đích thân đến gặp đám rợ ấy nói lời hơn thiệt. Chừng nào bọn chúng không nghe, ta mới tiến quân

Sau lần đem lính trấn đi phá lũy, Căn vẫn còn kinh sợ rợ Nga Sơn. Nghĩ ngợi hồi lâu, Căn liều mạng nói

-Thà quan đại thống binh chém đầu thần, chứ đi chiêu hàng, quả Căn này không dám

Cưu cười

-Thế thì ta phải đi vậy

Thủ trấn Tây Biên vô cùng kinh ngạc trước quyết định của Cưu. Song, chẳng dám nói gì thêm, vì sợ Cưu đổi ý.

Bấy giờ là đầu mùa hạ. Rừng núi Nga Sơn khô bức, đìu hiu. Vì được vua giao chức phó thống lĩnh hành quân, nên khi Cưu đi rồi, Căn phải lo việc cai quản đám binh triều. Phần sợ bọn lính quen sống ở kinh thành, không chịu được kham khổ, bỏ trốn. Phần lo người Nga Sơn bất thần tấn công. Cả ngày đêm Căn không rời yên ngựa. Nhọc nhằn thế, nhưng Căn lại thấy vui thú trong lòng.

Thủ trấn Tây Biên nói với thuộc hạ thân tín

-Quan đại thống binh tuổi cao sức yếu, e không sống nổi cho đến sau cuộc chiến này. Đó là chưa kể việc có thể bị rợ Nga Sơn giết. Chừng đó vua sẽ cất nhắc ta lên thay ông ấy là cái chắc

Cưu rời doanh trại chỉ đem theo mấy người lính để mang lương thảo. Đi trọn một ngày thì trông thấy lũy Nga Sơn. An uống xong, trời tối

Thấy bọn lính có vẻ lo sợ, Cưu hỏi

-Các ngươi sợ chi? Rợ Nga Sơn? Hay thú dữ?

Bọn lính đáp

-Thưa, cả hai

Cưu bảo

-Có hào lũy thế kia, tất thú dữ đã tránh đi nơi khác. Còn người Nga Sơn cũng dòng giống Chang Lang, việc chi sợ

Sáng hôm sau Cưu kêu bọn lính bảo

-Các ngươi ở lại đây giữ lương thảo và đợi ta, đừng sợ

Rồi một mình một ngựa, Cưu tiến về phía lũy Nga Sơn. Thấy lũy cao dày, Cưu biết việc vượt qua là muôn phần khó khăn. Một hòn tên chợt vút qua đầu. Cưu chỉ sợ chết trước khi làm được điều ước nguyện, nên vội gọi to

-Ta là Viên Cưu, quan đại thống binh của triều đình, muốn gặp quan văn vũ công khanh Khưu Luân

Có nhiều tiếng chân ở bên kia lũy. Nhưng lập tức im bặt

Cưu chờ đến xế chiều thì nghe ở phía bên kia lũy có tiếng vó ngựa rầm rập, rồi tiếng người xôn xao, lát sau có tiếng gọi to

-Xin quan đại thống binh cho vật làm tin

Cưu mừng vô kể, liền đáp

-Hãy bảo với quan văn vũ công khanh rằng ta chỉ có mỗi mảnh áo hoàng hậu kết bằng lá trao.

Chỉ chốc lát sau đó, Viên Cưu đã được gặp mặt Khưu Luân

-Làm sao lệnh thúc biết cháu đang ở đây?

Chủ soái Nga Sơn ôm Cưu khóc ròng

Cưu lấy từ ngực áo chiến bào ra một gói nhỏ trao Luân

-Có phải là của cháu không ?

Luân xem đúng là mảnh áo chính tay mình kết bằng lá trao thuở ấy

Vưu Xuyên cố ghìm xúc động, hỏi

-Có phải Vưu Cơ đã đưa cho lệnh thúc không ?

Cưu chợt nước mắt đầm đìa

-Sau khi vua giết ông văn hầu, ta có ước nguyện trước khi ta chết, phải gặp được Khưu Luân. Chợt thủ trấn Tây Biên báo về triều Nga Sơn khởi loạn, do Luân cầm đầu. Ta liền xin lãnh cờ tây phạt. Trước khi đi, ông vũ hầu đã nói hết mọi điều với ta. Cơ liền đưa kỷ vật của Xuyên cho ta mang lên đây làm vật làm tin

Ngay chiều hôm ấy Luân truyền cho hết thảy nghĩa binh đang có mặt ở Luốc Bưa biết có quan đại thống binh  của triều đình Xương Quơn lên thăm Nga Sơn. Lập tức có tin đồn trong quân rằng chủ soái Nga Sơn sắp giảng hòa với triều đình

Hết thảy các vị tộc trưởng kéo đến chỗ ông Bơ Man, cùng nói

-Phải gặp chủ soái hỏi cho ra lẽ

Ông Luốc Bưa phải cố sức can ngăn, mọi người mới thôi

Đêm ấy, động Tà Bư  đèn đuốc sáng trưng. Bên ngoài có đội quân nghĩa cầm dáo mác đứng canh. Bên trong, các vị tộc trưởng của ba miền ngồi thành hai hàng ở hai bên động, tựa hai hàng quan triều.

Khưu Luân đứng lên nói

-Theo kế sách của nghĩa binh, ba hôm nữa thì ta xuống núi. Nhưng nay có quan đại thống binh là chỗ đồng liêu thân thiết với cha ta lên thăm Nga Sơn. Do vậy, việc khởi binh phải định lại ngày khác.

Tộc trưởng Bơ Man lập tức đứng lên

-Một là chủ soái phải lên ngôi vua nghĩa. Hai là phải xuống núi trả thù cho những người đã chết vì bọn vua quan độc ác.

Vưu Xuyên cũng đứng lên

-Về chuyện trả thù, anh Một với anh Kỵ là nóng lòng nhất. Tiếp đến là bọn ta. Song, vì có khách đến, nên phải hoãn việc xuất quân

Tộc trưởng Sa Lung gần như hét lên

-Ta biết vua không dám đánh Nga Sơn, nên mới cử quan triều lên gặp chủ soái ta xin giảng hòa. Bọn chúng tôi chẳng đời nào chịu việc đó.

-Phải đánh thôi

Các vị tộc trưởng cùng hô to

Luân ra hiệu cho mọi người im, rồi bảo

-Giờ, hãy nghe quan đại thống binh nói

Từ phía trong cùng, Cưu đứng dậy, tiến ra giữa mọi người

-Thưa những người anh em thân thiết, vua sai ta cầm quân tây phạt, nhưng ta đã cho dừng lại bên kia lũy Nga Sơn, một mình lặn lội lên đây. Được biết không phải anh em

làm loạn như vua nghĩ, mà chỉ muốn đánh đổ triều đình hư hèn của vua. Ta nghĩ, dẫu Nga Sơn, Mi Sơn, Hoắc Sơn, hay trung nguyên, cũng là dòng giống Chang Lang. Nay vua chẳng còn nghĩ đến dân lành. Quan chỉ mưu toan mỗi việc vinh thân. Thế sự đảo điên. Nhưng ta tuổi cao sức hết, chỉ còn biết thầm thở than. Giờ được gặp những người anh em lòng trắng trong tựa hoa voan hoa gấc, là ta mãn nguyện rồi

Cưu nói xong, vái chào mọi người, lui về chỗ cũ.

Hết thảy ngồi nín lặng.

Mãi thật lâu sau tộc trưởng Bơ Man mới rụt rè đứng lên

-Lũ chúng tôi thật không có mắt trông xa, xin quan đại thống binh thứ tội

Điên Giác và Vi Gia phải chạy lại ngăn, ông Bơ Man mới không sụp lạy Cưu

Hôm làm lễ lên ngôi vua nghĩa, Khưu Luân mặc chiến bào màu lam, ngồi trên đài cao, dựng ngay trước động Tà Bư. Bên dưới, mấy nghìn nghĩa binh cầm gươm dáo đứng thành những hàng dài chỉnh tề. Đứng trước đoàn quân nghĩa là các vị tộc trưởng của ba miền, trước các vị tộc trưởng là Vưu Xuyên, Điên Giác và Vi Gia

Sau khi duyệt qua các hàng quân, quan đại thống binh Viên Cưu cũng đứng vào chỗ Xuyên, Giác

Dứt ba hồi chiêng, thì Khưu Luân dõng dạc đứng lên

-Hỡi những người anh em thân thiết, hỡi trăm họ Chang Lang. Con người là giống vật trời ban cho việc biết đi biết thở. Nhưng nay vua bắt mọi người phải nộp cả thuế thở thuế đi. Non sông đất nước Chang Lang là được gầy dựng bằng mồ hôi và máu của tiền nhân. Nhưng nay vua đã lấy hết đá quí gỗ quí trên rừng để xây cung gác cho vua nằm, lấy cửa bể cửa sông làm chỗ đậu lâu thuyền cho vua ngủ với gái trinh. Luật triều của vua nói dân là kẻ có quyền uy cao nhất, nhưng nay dân phải chảy máu mắt máu tai mới làm ra được chén cơm ăn. Bảy nghìn người chưa kịp hé môi than thở, đã bị vua đem ra chém. Trăm họ đương lo hoảng việc đói nghèo. Nói vâng mệnh thần Cốc lo việc an nước an dân, nhưng vua lại xem dân như chó ngựa. Vua mà dối gạt thần linh, bất chấp cả tiền nhân, lừa mị cả trăm họ, thì quả là vô đạo, phải bỏ đi. Nay ta nhận lấy ngôi nghĩa vương là để cùng anh em nghĩa binh và muôn dân trong nước lo việc đánh đổ triều đình họ Hiêu hư  nát, gầy dựng lại một triều đình biết lo cho dân cho nước

Khưu Luân vừa dứt lời, mấy nghìn nghĩa quân hô vang

-Cả ba miền Nga Sơn, Mi Sơn và Hoắc Sơn đều muốn thế

Con gái tộc trưởng Luốc Bưa bưng chiếc khay lớn bước lên đài cao, tiến đến bên Luân. Trong lúc chủ soái Nga Sơn cúi người, dập đầu lên khay đất thiêng nơi tay Mưng, thì hết thảy mọi người cùng quì, dập đầu lên mảnh đất ngay dưới chân mình

Ông Bảy Mươi cùng mấy trăm người biết gảy đàn khuyết tiến vào giữa đoàn quân

Con chim khưu đi lấy nước cho cây lúa lướt, hoa gất hoa voan hết buồn “

Ông lão xướng lên. Tức thì mọi người cùng hát theo tiếng đàn khuyết. Bài ca lập đất mấy trăm năm qua những bộ tộc phía tây nam đất nước Chang Lang vẫn hát

Ngay hôm đó, quan đại thống binh được xem nghĩa binh tập tiến đánh kinh thành

Cưu hỏi

-Đây là lần tập thứ mấy

Luân đáp

-Thưa, lần thứ bảy

Cưu nói

-Cách đánh thần tốc rất hợp với dân các bộ tộc vùng cao. Có điều, sự chết chóc sẽ nhiều

Luân nói

-Cháu đã cố đọc qua các binh thư, để thử tìm có cách hành binh nào khỏi tốn máu xương không

Cưu thở dài

-Cháu sẽ hoài công thôi

Ông Bơ man nói

-Quan đại thống binh sắp trở về triều, nên chúng ta phải lo lễ tiễn

Các vị tộc trưởng đều cho là phải. Liền mang hết mấy trăm vò rượu via định uống trong buổi xuất quân đặt sẵn ở bến suối Tà Bư

Hôm Cưu trở về triều, vừa đi đến đó, thì mấy nghìn quân nghĩa hô vang

-Hãy cùng anh em chúng tôi uống chén rượu chia tay

Lập tức, ông Bảy Mươi nghiêng vò, rót rượu ra chén, mời

Cưu đỡ lấy chén rượu từ tay ông lão, nước mắt rưng rưng

Luân nói

-Cháu sẽ cùng Xuyên đưa lệnh thúc đến nơi cửa lũy

Cư u nắm lấy tay Luân

-Cái chết của con người lạ lắm, cháu. Lúc chống Vân Muôi, tên đạn thế, nhưng ta nào sợ. Vậy mà, suốt bao năm buộc ngồi chung chiếu cùng đám vua quan vô lại, ta không dám quyên sinh, mà phải giả làm anh quan già nghểnh ngảng, cúi gằm xuống mà sống. Ta sợ chết thật. Vì cứ thấy mình còn món nợ lớn lao. Nay đã được bưng chén rượu Nga Sơn đưa lên môi nhấp, ta bỗng nghe cái chết nhẹ tựa bông. Khi về đến kinh, tất vua sẽ giết ta. Nên giờ ta phải nói cho cháu rõ điều hệ trọng. Là đấng thần linh bấy lâu ngự trên đầu dân Chang Lang chẳng qua là do ông vua lập ra vương triều họ Hiêu đặt ra đấy thôi. Khi đấng thần linh ấy không còn, tất dân Chang Lang chẳng còn xem họ Hiêu là kẻ cầm đầu thiên hạ. Chỉ hú gọi một tiếng, trăm họ sẽ về với nghĩa binh

Luân không dấu được sợ hãi

-Lệnh thúc muốn nói là phải xóa bỏ thần Cốc ?

-Phải. Nhưng cháu hãy thử nói ta nghe, xóa bỏ bằng cách nào ?

Luân ngẫm nghĩ, rồi đáp

-Thưa, đốt quốc đền ở kinh đô Chang Lang

 

THĂNG  THIÊN

Chang Lang Sử Lịch chép

“Bấy giờ là đương mùa hạ. Vua lo nghĩ đến phát phẫn vì hoàng hậu Đam Mỵ bỗng mắc cơn bệnh lạ. Hết thảy thầy thuốc trong nước được gọi về triều, song, đều bó tay. Mỵ lúc nằm thiêm thiếp như sắp lìa bỏ cõi đời, lúc tỉnh dậy nói năng như chẳng có gì xảy ra. Vài ba hôm Mỵ lại vùng khỏi giừơng bệnh, xông đến đại điện, ngồi vào ghế rồng, xưng là vua Chang Lang.

Hôm ấy, Du đang ngự ở pháp trường, chờ chém Viên Cưu, thì quân hầu hốt hoảng chạy đến báo Mỵ đang hấp hối

Về đến hậu cung, thấy quan thái y đương quì bên giừơng hoàng hậu, Du thét

-Nhốt nó vào ngục cho ta

Rồi ôm Mỵ, òa khóc.

Chặp sau thì hoàng hậu thỏ thẻ

-Thần thiếp đâu nỡ bỏ hoàng thượng mà đi

Bá quan đã đến chật cung hoàng hậu

Vua nhoẻn cười, nhìn mọi người

-Hoàng hậu yêu quí của ta thoát được rồi

Cơ chính Hiêu Thâm tiến đến bên vua

-Thưa, hoàng thượng có trở lại pháp trường không ?

Du thở ra, vẻ khoan khoái

-Thôi, mấy hôm nữa mới chém cũng được

Theo lệnh vua, ngoài cơ chính Hiêu Thâm, chẳng ai được đến chỗ Cưu. Lòng Trấp đau tựa cắt. Cưu nằm xuống nữa, coi như ông chẳng còn kẻ tâm huyết trên đời. Do Hiêu Căn mật báo với vua, rằng Cưu lên Nga Sơn hàng giặc, nên vừa về đến trấn Tây Biên, Cưu đã bị quân triều đón bắt, dẫn thẳng đến ngục tử tù. Trấp vẫn chưa biết gì về Vưu Xuyên.

Một hôm, có ông lão vào nhà, xưng là thầy thuốc, xin chữa bệnh cho Trấp

Quan vũ hầu lấy làm lo lắng

-Tôn ông từ đâu đến ? Mà ta nào có bệnh chi ?

Ông lão cúi người, ghé vào tai Trấp, nói

-Khưu Luân đã lên ngôi vua nghĩa. Chẳng bao lâu nữa quan vũ hầu sẽ gặp lại con

Ông lão đi rồi, Trấp lo nghĩ đến ngã bệnh. Cơ theo hỏi mãi, Trấp vẫn không chịu nói ông lão đã nói gì

Bỗng một hôm, Trấp gọi Cơ đến bên giừơng bệnh, bảo

-Ta chẳng còn sống bao lâu nữa. Sau này, nếu Khưu Luân mà được thiên hạ Chang Lang, cháu hãy nói giùm, là ta đã bị vua bắt ép đứng ra chém quan văn hầu Khưu Chiêu

Cơ giật mình

-Ông lão tự xưng là thầy thuốc đã cho bác biết tin tức về Nga Sơn ?

Trấp kéo cháu gái, rỉ tai

-Khưu Luân đã xưng vương. Vưu Xuyên vẫn còn sống. Nga Sơn sắp khởi binh

Cơ liền vực bác dậy

-Nước sắp yên. Nhà ta sắp sum hợp. Cớ gì bác lại u sầu ?

Trấp thở dài

-Nhưng chính ta là kẻ phản lại bạn bè tâm huyết

Cơ nói

-Con đại bàng rừng núi Nga Sơn còn lạ chi sự giảo quyệt của vua. Xin bác chớ nghĩ đến chuyện ấy nữa

Bệnh tình hoàng hậu lại trở nặng. Trong cơn mê sảng, Mỵ xưng là thần Cốc.

Quan thái y vào tận giừơng vua nói

-Hoàng hậu lại được thần linh giáng nhập, xin hoàng thượng chớ quá lo lắng

Nhưng liền sau đấy, Mỵ tung chăn gối, chạy đến chỗ Du, giật lấy gươm vua, thét

-Nay ta nói cho ngươi rõ. Muốn ngôi vua vững bền, trăm họ nghe theo, trước hết phải chém lũ tham quan

Quan thái y hối vua quì

Vua liền sụp xuống chân Mỵ

-Xin thần linh mách bảo, giờ thì phải chém ai ?

Mỵ cười ghê rợn

-Đứa xu nịnh thì ngươi cho sống. Các bậc trung can  ngươi lại đem ra chém. Hôn quân vô đạo phải chết

Du hoảng hốt, chưa biết nói gì, Mỵ đã ngã lăn, bất tỉnh.

-Hãy đi lấy thiên linh sâm

Vua hối

Quan thái y run

-Muôn tâu, linh sâm đã hết tự hôm á cung hoàng hậu lâm bệnh ngặt

Mỵ không chết. Nhưng suốt ngày đêm nằm thiêm thiếp trên giừơng bệnh

Du lại lệnh đem Cưu ra chém. Nhưng xe vua vừa tới pháp trường, quân hầu cận chạy đến báo

-Muôn tâu hoàng thượng, việc xảy quá lạ kỳ. Hoàng hậu hiện ngự nơi ngai vàng, tự xưng là tiên đế, đòi hoàng thượng đến chầu

Du hoảng hốt lệnh xa giá quay về đại điện. Thì thấy Mỵ ngồi nơi ghế rồng, đang lớn tiếng, nói

-Ta hỏi các khanh, Viên Cưu là bậc trung thần nghĩa khí, suốt đời xả thân cho nước, cớ sao nay đem ra chém ?

Du quì giữa đại điện vắng tanh, lòng vô cùng kinh hãi

-Đồ hôn quân, phải chết

Mỵ bỗng nhìn Du, thét

Rồi gục xuống  bệ rồng

Quan thái y vào chỗ vua nằm, nói

-Hoàng hậu quả là bậc trinh nữ trên đời. Hết thần Cốc, đến tiên vương giáng nhập để chỉ ra cách yên nước yên dân

Du ngồi bật dậy trên giừơng, thét

-Viên Cưu là đứa phản nước phản dân. Cha ta có sống lại thật, cũng không cứu nổi

rõ chưa?

Qua hôm sau, Mỵ gượng dậy hỏi

-Ở triều có điều chi khác không ?

Quan thái y đáp

-Thưa, còn mấy hôm nữa thì vua chém quan đại thống binh

Mỵ bảo

-Ta muốn gặp hoàng thượng ngay bây giờ

Vua đến, Mỵ nhoẻn cười, nói

-Nay hai ta tuổi cũng đã khá cao. Nên phải rán lo việc tích đức, để phúc lại cho cháu con.

Vua vui vẻ bảo

-Ta vẫn đang lo cho trăm họ yên vui, chẳng phải tích đức là gì ?

Mỵ bá lấy cổ Du

-Thần thiếp muốn hoàng thượng làm nhiều hơn nữa kia. Nay quan đại thống binh đã già, chẳng may mắc tội. Vì lòng nhân từ, xin hoàng thượng hãy tha chết cho ông ấy

Du gỡ tay Mỵ

-Việc này thì nhất định không được. Nể lời ái khanh, ta chỉ cho ông ấy sống thêm mấy hôm nữa thôi

Từ bữa đó, Mỵ nằm luôn trên giừơng bệnh., trò chuyện với chính mình. Lúc Mỵ xưng là vua trời, lúc xưng là vua Chang Lang. Nghe lời đối đáp của hai vua, phát ra từ cửa miệng hoàng hậu, quan thái y rất hãi. Bỡi theo những đối đáp kia, thì tai ương sắp ập xuống triều đình Chang Lang

Không dám thuật lại cho vua nghe, quan thái y chỉ nói như vầy

-Theo chỗ thần hiểu, hoàng hậu đang rơi vào cõi thần thái, dường hiểu hết mọi lẽ trên đời, xin hoàng thượng xem xét

Vua lập tức xuống chiếu, phong đại công hầu cho bất cứ ai chữa cho hoàng hậu khỏi bệnh

Kẻ ứng thí vào phẩm tước cao hơn cả tước tể hầu là ông lão đã vào nhà xin chữa bệnh cho Trấp

Vua hỏi

-Quê quán ngươi ở đâu ?

Ông lão đáp

-Thưa hoàng thượng, đã từ lâu già này là kẻ không nhà

Vua ra hiệu ông ta đứng lên

-Mà thôi. Ta chẳng cần biết ngươi từ đâu đến. Miễn chữa cho hoàng hậu của ta khỏi bệnh là được

Sau khi mọi người đã lui ra theo yêu cầu của mình, ông lão cúi xuống Mỵ, hỏi

-Có phải lệnh bà muốn cứu quan đại thống binh không ?

Mỵ ngồi bật dậy, vẻ hoảng hốt

-Ông là ai ? Sao lại hỏi điều này ?

Ông lão liền quì

-Kẻ này trở lại kinh từ mấy hôm nay, nghe kẻ chợ đồn rằng thần Cốc rồi tiên vương Hiêu Lịch đã giáng nhập nơi lệnh bà. Cứ lấy lẽ đời mà luận, lệnh bà là bậc hoàng hậu khác thường

Mỵ bước xuống khỏi giừơng

-Coi như hết. Hoàng thượng chẳng nể sợ thần linh, cũng chẳng nể vì tiên đế. Giờ tôn ông có cách chi giúp ta không ?

Ông lão đứng lên, khẽ nói vào tai Mỵ

-Hãy giết vua

Rồi vội vã xin cáo biệt

Những ngày sau đó, Mỵ nằm liệt giừơng, chẳng màng ăn uống, thuốc thang. Vua hóng mắt chờ một kẻ nào khác đến ứng thí vào tước đại công hầu, nhưng chẳng thấy. Hôm Du chém Cưu, thì Mỵ trút hơi cuối cùng “

Cuối đoạn trên có lời chú của sử quan Chư Đăng

“Đam Mỵ vốn là tiên  nữ ở cung thất tinh, được vua trời sai xuống giúp cho vua nước Chang Lang. Một hôm Đam Chuyết phu nhân nằm mộng thấy đám mây trắng sà xuống người mình, rồi mang thai. Chỉ ba tháng sau sinh được con gái, đặt tên Đam Mỵ. Sợ miệng thế dị nghị, vợ chồng Đam Chuyết dấu bặt Mỵ trong nhà. Chỉ sau nửa năm, Mỵ đã thành đứa con gái nhan sắc chẳng ai bằng. Đến lúc ấy, tiên nữ cung thất tinh tức Đam Mỵ mới hiểu ra mình quá vội vàng, đã không chịu sinh trưởng theo đúng luật trần gian. Vợ chồng Đam Chuyết bấy giờ đã có rất nhiều con gái. Sợ không làm được việc trời giao, Mỵ vội đến vườn thượng uyển trao thân cho thái tử Hiêu Du. Xuống trần bấy nhiêu năm, tiên nữ cung thất tinh chỉ làm được mỗi việc đẻ con cho Du. Rốt cuộc, trời đành phải gọi tiên nữ trở về trời. Chuyện thực hư chẳng rõ. Cứ chép hết vào đây lời tương truyền của dân gian để người đời suy gẫm “

 

ĐỒNG  MINH

Du bỏ lâm triều, nằm khóc Mỵ

Thái tử Hiêu Thuông vào tận giừơng vua nói

-Nay mẫu hậu hết số trời, về chầu tổ tiên , như bao nhiêu bậc hoàng hậu trên đời. Phụ vương chớ lấy đó làm điều to tát, bỏ bê việc trị nước

Du tức giận thét

-Đồ quân bất hiếu

Rồi đuổi Thuông ra

Tể hầu Đam Chuyết vào thăm vua, nói

-Hoàng hậu là con đẻ của Chuyết này. Nay không may mất đi, xin hoàng thượng chớ quá đau buồn

Vua liền mắng

-Cha mà không nhìn mặt con, khanh quả là giống người chẳng biết quí máu mủ ruột thịt của mình

Chuyết liền quì

-Con mà không thờ kính mẹ cha cho phải đạo, ắt sẽ bị trời tru diệt. Nay thần lỡ làm cha không thương con, xin hoàng thượng cứ theo đạo lý tổ tiên mà trị tội

-Thôi, ta đương mệt, hãy lui ra

Vua rất căm Chuyết. Song, chẳng biết nói lời nào khác hơn lời ấy

Thấy Du vẫn bỏ việc triều chính, Hiêu Thâm đích thân đến chỗ vua nằm

-Ta đã giết Cưu về tội hàng giặc. Nhưng đến nay vẫn chưa biết rợ Nga Sơn thực lực ra sao. Có quả Khưu Luân cầm đầu rợ ấy không, thần thấy rất lo

Du giật mình, nhảy xuống khỏi giừơng

-Sao ta lại không khảo tra Cưu, bắt khai ra mọi thứ ?

Thâm lắc đầu

-Cưu là bậc nghĩa khí, chẳng có gì khuất phục được ông ta. Việc hôm nay là phải tiến chiếm Nga Sơn

-Phải. Nội hôm nay, ta xuống chiếu cử khanh lĩnh cờ tây phạt

Quan cơ chính quì

-Nay võ quan ở triều chỉ còn  mỗi thần và Vưu Trấp. Nhưng Trấp ốm đau, chẳng thể cầm quân. Nếu thần lãnh cờ tây phạt, ai lo việc cơ mật ở triều ?

Du buông tiếng thở dài

-Có quân mà không có tướng, giờ phải làm sao ?

Thâm nghĩ ngợi, rồi đáp

-Chắc ta phải nhờ đến Vân Muôi

Tể hầu Đam Chuyết lập tức được triệu đến gặp vua bàn việc sang Vân Muôi thương nghị

Bấy giờ là cuối hạ. Sắp đến lễ tế thần Cốc giữa năm.

Quan lễ nhạc tâu

-Để quyền uy vua thêm bền vững, thần muốn lễ tế ở quốc đền lần này phải to gấp năm gấp mười lần trước

Vua nhìn khắp bá quan

-Lời quan lễ nhạc là của bậc tôi trung , đã làm dịu bớt nỗi đau buồn của ta

Tu liền tiếp

-Số thần gặp may. Là có ông lão đàn giỏi hát hay, đến xin làm ca công ở quốc đền. Thần liền bảo đàn thử hát thử, thì thấy đám ca công ở Cung Nguyệt Khuyết chẳng ai sánh bằng. Xin hoàng thượng chỉ truyền, giờ nên thu dụng kẻ ấy không ?

Vua vui ra mặt, bảo được

Tu vội tâu tiếp

-Theo ông lão, việc tế lễ phải hết sức trọng thể, mới đủ tỏ rõ quyền uy vua. Nhạc tấu phải đủ bảy ngày đêm. Rượu via phải đủ mươi nghìn vò. Dầu lim phải mươi nghìn hũ, để đủ thắp đèn từ quốc đền tỏa đi khắp nẻo kinh thành. Thần hứng thú quá, bảo được. Nay xin hoàng thượng chỉ truyền, làm thế có được không ?

Du liền phán

-Hãy sắm đủ mươi vạn hũ dầu lim, chứ không phải mươi nghìn, để đèn thắp ở quốc

đền đủ tỏa sáng uy danh ta ra khắp các lân bang

Vua Vân Muôi tiếp Du như vị vua một lân bang giàu mạnh

-Trị nước là công việc của cả đời vua. Hãy nghỉ ngơi ít hôm cho khỏe, hẳn bàn luận

Vua Trắc Mạ nói. Rồi đích thân đưa Du  đi nếm thử món gan chim doan ở Ngũ Tửu Lầu. Tới lúc ấy, Du mới biết Vân Muôi còn nổi tiếng cả việc chế tạo rượu quí.

Uống đủ năm thứ rượu ở Ngũ Tửu Lầu, Du thấy mình như không còn là mình nữa

-Quí quốc thấy rượu của bản quốc thế nào ?

Vua Trắc Mạ cười, hỏi

Du đáp

-Chẳng say. Nhưng cứ thấy nhớ nhung, lưu luyến

-Ta biết

Vua Vân Muôi bảo. Rồi đưa Du sang gian kế cạnh, có giọng thỏ thẻ như chim doan học nói trên cành

-Cứ ở đây chốc lát, quí quốc sẽ thấy hết nhớ nhung.

Rượu quí cùng gái đẹp Vân Muôi đã giúp Du  rũ bớt nỗi lo âu về rợ Nga Sơn.

Tể hầu Đam Chuyết từ dinh quan tể tướng Vân Muôi quay lại nơi lưu trú của sứ bộ Chang Lang.

-Vì phải lấy lòng kẻ giúp ta, thần đã nhường cho quan tể tướng Vân Muôi soạn thảo hết thảy các điều khoản bang giao

Dự thảo gòm hai khoản. Thứ nhất, Vân Muôi sẽ gởi bốn chục vạn quân sang giúp Chang Lang. Bộ binh qua ải Xương Linh. Thuỷ binh vào cửa Đông Biên. Thứ hai là giải giáp hết thảy binh lính Chang Lang, để lúc giao tranh, binh đội Vân Muôi khỏi lầm lẫn quân triều với quân phản loạn

Đến ngày hẹn, Du cùng Chuyết đến nơi thương nghị

Vua Trắc Mạ nói

-Bản quốc đã xem xong dự thảo, lấy làm hài lòng. Giờ chỉ còn chờ ý của quí quốc

Du nói

-Bản quốc cũng đã xem xong. Có điều thấy chưa thõa đáng. Vì quí quốc chỉ bỏ ra mà chẳng được chi

-Một đất nước hùng mạnh như  Vân Muôi, chỉ đánh dẹp một nhúm rợ núi, bảo ta phải nhận tiền công đánh giặc ư ?

Vua Trắc Mạ nói, giận dữ đứng lên

Quan tể tướng Vân Muôi cũng đứng lên

-Thưa, không tiếp tục bàn luận cho ngã ngũ công việc hay sao ?

-Thôi, cứ để Chang Lang đi nhờ chỗ khác

Tể hầu Đam Chuyết vội rỉ tai Du

-Người ta chịu giúp không cho mình, tội gì không nhận

Rồi đứng lên nói

-Hoàng thượng của bản quốc trộm nghĩ, Vân Muôi sở dĩ  muốn giúp Chang Lang là để tỏ cho các lân bang biết sự hùng mạnh của mình

-Nghĩ thế là phải

Vua Trắc Mạ bảo. Rồi hứa cùng Du đúng ba hôm sau sẽ gởi bốn chục vạn quân sang giúp

Sứ bộ Chang Lang sắp qua ải Xương Linh thì bỗng có kẻ quất ngựa đuổi theo

Du liền lệnh dừng xa giá để xem việc lành dữ thế nào

Tên kỵ mã nhảy xuống khỏi ngựa, quì

-Kẻ này có việc muốn tấu bày lên hoàng thượng

Một kỵ binh Vân Muôi nói sành tiếng Chang Lang

Du có vẻ rất lo lắng

-Ta nghe đây, xin người cứ nói

Tên lính kỵ ngước nhìn vua

-Việc rất hệ trọng, nên phải tấu bày riêng với hoàng thượng

Du liền lệnh Chuyết cùng đám tùy tùng tránh khỏi xa giá

Tên lính kỵ kéo áo lau mồ hôi trán, rồi bắt đầu nói

-Cha kẻ này họ Bồn tên Nhương, vì chuyện tình duyên, bỏ nước Chang Lang, đổi họ tên, sang Vân Muôi sống, làm đến tứơc đốc binh trong ngự lâm quân. Sau khi xin cho kẻ này vào làm lính ngự ở hoàng cung, ông mới nói cho biết gốc gác của mình, rồi dẫn mẹ kẻ này đi biệt tích. Có lần trông thấy thư của quan tể hầu Chang Lang gởi cho nhà vua Vân Muôi, kẻ này cho là việc lạ, liền đem dấu đi, đến nay vua cũng chưa hay thư kia đã mất. Do sẵn hồ nghi, nên vừa rồi đã cố tìm cách nghe thử cuộc chuyện trò giữa hai quan tể tướng hai nước, mới rõ quan tể hầu nước Chang Lang là nội gián của nhà vua Vân Muôi

Du không dấu nổi bàng hoàng

-Ngươi ăn cơm mặc áo của vua Vân Muôi, cớ sao lại đi nói với ta điều hệ trọng kia?

-Thưa, kẻ này không nỡ để ông vua họ ngoại giày xéo đất tổ quê cha. Bốn chục vạn quân Vân Muôi sắp sang xâm lấn Chang Lang đó

Người lính kỵ lấy từ ngực áo ra gói nhỏ, trao Du. Rồi lặng lẽ nhảy lên ngựa, quày lại con đường khác với con  đường vừa đến

Thư Chuyết gởi vua Vân Muôi có đọan

Đến lúc thần thấy chiếm được Chang Lang, thì sẽ đưa vua ấy sang gặp hoàng thượng “

    Du  nghiến chặt răng, gọi to

-Ta đi thôi, ông tể hầu

Lúc Chuyết trở lại chỗ xa giá, vua rút gươm chỏ vào ông ta, nói

-Bấy lâu ta đã cho ngưoi chỗ ngồi cao sang. Nay thì lấy lại

Thấy vua chém quan tể hầu như chém một thần dân mạt hạng, đám tùy tùng vô cùng khiếp hãi.

Về đến hoàng cung, vua liền cho gọi quan cơ chính

-Vân Muôi sắp sang xâm lấn Chang Lang ta. Khanh hãy tức tốc gọi ba vạn lính về giữ kinh thành

Thâm ngớ người ra

-Hoàng thượng đang lầm lẫn điều gì chăng ?

-Cứ triệu lính về kinh rồi hẳn rõ

Vua nạt

Mất ba ngày, Thâm chỉ gọi được vài ba trăm lính

-Cứ dùng tạm bấy nhiêu đấy đã

Vua sốt ruột bảo. Rồi cùng Thâm cất quân xuống cửa Xương Quơn.

-Hễ gặp người Vân Muôi, cứ chém cho ta

Du phán trước quân sĩ

Nhưng đến  nơi thấy cửa bể trống trơn. Cả thương thuyền lẫn lâu thuyền đều không còn.

Vua tức giận cho quân sĩ trẩy luôn ra cửa Đông Biên. Thì thấy cảnh nhà không sân trống, hoang vắng tựa buổi chưa lập cửa ra vô

Thâm nói

-Trắc Mạ biết cơ mưu bại lộ, đã nhanh chóng lo việc bảo toàn quân sĩ của mình

-Thế là yên nạn Vân Muôi

Vua nói. Và chợt nhớ món vi cá sức,  liền lệnh xa giá đến Vọng Hải Đài

Thâm ngăn

-Nay việc rợ Nga Sơn hãy còn đó. Nếu xảy bề chi, các quan ở nhà chẳng biết đường xoay trở

Vua cười

-Hiêu Căn là đứa chây lười. Vừa qua chỉ nằm co ở nhà, đoán già đoán non, làm ta thiệt mất quan đại thống binh

Trời bỗng đổ mưa. Đại Hải nổi sóng to gió lớn, chẳng thể đi săn cá sức

Vua buồn, bảo

-Vậy là số ta không được ăn món hải vị ấy đến lần thứ hai

Xa giá vừa về đến ngoại thành Xương Quơn đã trông thấy cảnh nhốn nháo khác thường

Lễ nhạc Bào Tu tuột khỏi lưng ngựa, nằm mọp xuống đường

-Thần mang trên đầu đến hai tội chết

Du chẳng rõ đầu đuôi, quát

-Nhà ngươi làm trò chi thế ?

Tu ngước nhìn vua, khóc

-Một là thần đã đi làm rể kẻ phản dân hại nước. Hai là để cháy quốc đền

-Sao ? Cháy quốc đền ?

Du thét

Thâm phải đỡ vua ngồi cùng ngựa với mình, để đến đền thần Cốc.

Ông lão đàn hát cho quan lễ nhạc liền tiến đến trước vua

-Ta là kẻ thay trời để đánh đổ quyền uy của họ Hiêu đây

Nói xong lời ấy, ông lão ngửa mặt cười vang. Rồi rút gươm tự đâm cổ mình

Khi nhìn ra đấy là kẻ đã ứng thí tước đại công hầu để chữa bệnh hoàng hậu, vua khẽ bảo Thâm

-Giờ ta mới rõ, sao phải sắm đủ mười nghìn hũ dầu lim

Rồi lê chân bước đến bên đống hoang tàn

Cả tượng thần tượng vua đều đã cháy thành than

 

CHINH  CHIẾN

Nghe chó sủa và tiếng gọi cổng hơi lạ, Vưu Cơ rất lo

Quan vũ hầu bảo

-Cháu hãy để cho ta

Cổng mở

Trấp bàng hoàng, tưởng trong mơ

-Có phải là người đã nuôi dưỡng cháu ta thuở ấy không ?

Vưu Cơ vừa trông thấy ông lão đã òa khóc

-Bao nhiêu lần già này trở lại kinh thành rồi âm thầm ra đi, vì không muốn có cảnh chia ly xảy ra lần nữa

Ông lão vừa nói, vừa sờ soạn  cầm tay đứa con gái nuôi.

Cơ lau nước mắt

-Nhưng vì đâu lệnh phụ lại phải xông pha giữa cảnh chinh chiến để đến đây ?

Ông lão ra hiệu, bảo đưa mình vào nhà. Khi biết chỉ có mỗi bác cháu Trấp, mới bắt đầu kể

-Từ ngày từ biệt quan vũ hầu, già này lại đi khắp nơi để kiếm sống. Nay Tây Biên, mai Bắc Biên. Mắt tuy mù, nhưng tai vẫn tỏ. Đâu đâu cũng xảy đói khổ, cũng ta oán triều đình. Theo già này biết, hiện nghĩa binh Nga Sơn do quan văn vũ công khanh  Khưu Luân cầm đầu đã chặn hết các ngả vào kinh thành

-Làm sao tôn ông vào đến đây được ?

Trấp bồn chồn hỏi

Ông lão lại sờ soạn tìm Cơ

-Nay chinh chiến đã xảy ra, chưa biết ai còn ai mất. Đến được đây để gặp mặt Cơ, già này lấy làm mãn nguyện rồi. Giờ thì xin cáo biệt

Trấp hết lời cầm giữ, còn Cơ thì khóc, níu ông lão lại.

Nhưng ông nói

-Hãy để cho già này ra đi. Biết đâu còn làm được điều hữu ích

Ông già mù vừa đi, thì Tố đến

Quan pháp hình chưa kịp ngồi, đã hỏi

-Ông vũ hầu đã tính được gì chưa ?

Trấp buồn bã đáp

-Tính gì bây giờ ?

Tố rỉ tai Trấp

-Một vạn quân triều  nhất định không chống nổi quân Nga Sơn. Kỳ này họ Hiêu chắc đổ. Ta với ông phải tính trước

-Theo ông, thì tính thế nào ?

-Nội đêm nay, ta với ông trốn khỏi kinh thành, tìm gặp Khưu Luân, xin qui phục. Là chỗ thâm tình với Chiêu, ông nói chắc được

Trấp không dấu được nỗi lo âu

-Ta và Chiêu vốn như anh em ruột thịt. Nhưng oái oăm, vừa rồi lại xảy ra sự thể.

Tố phẩy tay

-Khắp đất nước này ai không biết Chiêu chết là do vua

Lại có tiếng trống triều giục. Từ lúc Tây Biên thất thủ đến lúc ấy, Du cho hội triều thần không biết bao nhiêu lần

Tố đứng lên

-Đến nước này, không chần chừ được đâu. Đi xem vua nói gì, sau đó ta và ông phải định liệu ngay

Nghe đền thần Cốc ở kinh cháy, Luân lập tức khởi binh. Quân nghĩa đi đến đâu cũng được dân chúng hưởng ứng. Xuống núi ngày hôm trước, qua ngày hôm sau, nghĩa binh Nga Sơn làm chủ toàn bộ đất nước, trừ kinh thành Xương Quơn

Du lại hỏi điều đã hỏi trong các lần hội triều thần trước đó

-Theo ý các quan, ta nên xuất quân lấy lại những nơi đã mất, hay cứ giữ kinh thành ,chờ chúng đến mới đánh ?

Cơ chính Hiêu Thâm tức giận đứng lên

-Việc quân như nước lửa, sao hoàng thượng cứ chần chừ, không xuống chiếu cử ai đó cầm quân đánh dẹp ?

Du  nói

-Sáng nay vũ hầu Vưu Trấp xin thọ tội, vì tuổi già không cầm quân nổi. Thái tử Hiêu Thuông  thì phải lo việc phòng ngự ở kinh thành. Chẳng lẽ ta cử các quan văn đi đánh giặc ?

Lễ nhạc Bào Tu vội vã quì

-Muôn tâu, thần đã để cháy quốc đền, xin hoàng thượng xem xét, nếu không đem ra chém, thì hãy cho bề tôi này lui về dân dã

Vua quát

-Đồ quan hèn. Hãy lui ra đi, cho khỏi bẩn triều đình

Chuyên Chiết khều Nhữ Bột, bảo Bột nói

Quan ngoại công điện liền quì

-Muôn tâu hoàng thượng, rợ Nga Sơn vốn quen rừng núi, khi vào kinh thành, không rõ đường tiến lui, tất sẽ hoảng loạn. Theo ý thần, cứ để chúng vào đây, thái tử chỉ đánh một trận là yên.

Tương Húc quì, tiếp lời Bột

-Lúc nước lâm nguy, kẻ tôi trung lại sáng ra. Theo ý thần,  lời quan ngoại công điện là diệu kế.

Cơ chính Hiêu Thâm lại đứng lên

-Khưu Luân vốn văn võ tinh thông, không dễ thắng như quan ngoại công điện tưởng. Theo ý thần, nhất thiết phải cử người đi đánh dẹp, trứơc khi chúng vào đến

kinh thành. Ai trái lệnh vua, chém

Du ngửa mặt than

-Nếu chém thì chém quan thống binh Hiêu Thâm trước. Nhưng chém khanh, ai lo việc cơ mật cho ta

Lúc mặt trời sắp tắt, Thâm hớt hải đến gặp vua

-Đại nguy, thưa hoàng thượng. Cả ngàn binh triều đã theo ngõ bắc kinh thành chạy trốn

Du hoảng hốt, thét

-Hãy chém hết lũ ấy cho ta

Thâm bảo, thái tử Hiêu Thuông đã cho đám lính thân tín đuổi theo, nhưng bọn chúng cũng bỏ đi luôn

Du xốc kiếm, toan ra khỏi hoàng cung. Nhưng Thâm đã kéo lại

-Xin hoàng thượng đừng đi. Hiện thời quân Nga Sơn còn cách xa. Nhưng kinh thành đang hổn loạn, hoàng thượng ra ngoài, nguy hiểm muôn phần

Du vỗ trán

-Nhưng liệu Hiêu Thuông con ta có đủ sức chống đỡ, nếu giặc vào kinh thành ?

Thâm bỗng òa khóc

-Việc thành  bại trong chinh chiến rất khó lường. Nếu không may, kinh thành thất thủ, rợ Nga Sơn sẽ chẳng chừa một ai trong dòng tộc họ Hiêu ta

Du có vẻ bối rối lắm

-Thế theo khanh giờ phải làm gì ?

Thâm lại nắm chặt lấy áo vua

-Thần vừa nghĩ ra được kế sách. Là khi thấy quân triều không thể chống nổi, hoàng thượng hãy sớm giao triều đình cho quân Nga Sơn, để cứu lấy bao nhiêu sinh mạng của dòng tộc họ Hiêu

Du tuốt gươm khỏi vỏ

-Tức khanh bảo ta phải hàng giặc ?

Thâm lật đật quì

-Muôn tâu, thế vẫn còn hơn để dòng họ Hiêu bị tuyệt diệt

-Quân phản bội. Có chết xuống âm ti, ta cũng là vua, rõ chưa ?

Du thét. Rồi chém chết Thâm

 

NHỮNG  NẺO  TRẦN  GIAN

Chang Lang Sử Lịch  chép

“Bấy giờ là sắp canh hai. Nghĩa binh siết chặt vòng vây, chỉ còn cách kinh thành vài ba mươi dặm

Chủ soái Nga Sơn bồn chồn đi lại

-Theo tin tức ban chiều, cánh quân của Vi Gia đã qua khỏi đất Cha Man, sao giờ này chưa thấy lửa hiệu ?

Xuyên nói

-Từ Cha Man qua Xương Đông cũng hơi xa. Mà cánh quân của Gia còn phải áp dẫn đám quan  quân các trấn các dinh phía bắc

Tộc trưởng Bơ Man chợt nhảy xuống voi, nằm áp tai vào đất. Nhưng liền đứng lên bảo

-Chẳng việc gì đâu

Phía đằng sau là những xóm làng thuộc trấn Nam Biên, nghĩa quân vừa mới vượt qua lúc ban chiều. Chiến trường chợt lặng lẽ khác thường. Mấy nghìn quân nghĩa như đã lặn sâu vào đất. Chủ soái Nga Sơn cố nén từng hơi thở.

Xuyên chợt nghiêng ngừơi, khẽ hỏi

-Liệu những giờ phút sắp đến có phải tốn nhiều máu xương không ?

Luân khẽ đáp

-Cũng chưa biết. Có điều, chắc chắn nghĩa binh sẽ làm chủ kinh thành

Có tiếng chim khắc rúc lên từ đằng xa.

-Điên Giác sai ngừoi đến gặp ta đó

Luân nói

Ông Bơ Man liền nhảy xuống khỏi voi, thủ sẵn cung tên.

Tiếng chim khắc rúc nghe gần hơn. Luân ghìm ngựa, rúc đáp lại mấy tiếng

Vừa trông thấy dáng người ngựa tiến về phía mình, Luân đã lên tiếng hỏi

-Sao không sai người khác đi ?

Điên Giác nhảy xuống ngựa, lau vội mồ hôi

-Đến giờ này vẫn chưa thấy lửa hiệu của Vi Gia, nên em phải đích thân đến nghe lệnh

-Cứ như đã sắp đặt. Nghĩa binh phải làm chủ được kinh thành

Tiếng vó ngựa của Giác lại mất hút trong đêm

Xuyên chợt ghìm ngựa vào sát ngựa của Luân

-Tự nhiên em cứ thấy bồi hồi

-Ta cũng thế

-Mình sắp cùng về Xuyên Lâm phải không anh ?

-Phải. Ta ngồi chép sách, tu chỉnh lại phong hóa, sửa sang giềng mối nhân luân. Còn em, dạy dỗ đàn con

Con lam tơ của Xuyên bỗng chồm lên, vì bất chợt Xuyên siết lấy yên cương

-Muộn mất rồi anh. Em phải vào kinh thành trước, kẻo nghĩa binh giết cha em mất

Luân cũng hoảng hốt

-Phải đi gấp đi thôi

Có hai người chợt phi ngựa trong đêm. Được một quãng, cả hai đều dừng lại

-Anh hãy bảo trọng lúc lâm chiến

-Ta sẽ gặp lại nhau nơi đại điện vào lúc nửa đêm

Mãi hết canh hai, mới thấy lửa hiệu lóe lên ở phía đông bắc kinh thành

Chủ soái Nga Sơn rớm mồ hôi trán

-Khởi sự đi

Tộc trưởng Bơ Man lập tức giương cung. Những mũi tên lửa bay vút lên trời

Cho đến khi làm chủ được kinh thành, nghĩa binh chẳng phải tốn giọt máu nào. Bỡi hết thảy binh triều đã bỏ trốn từ lúc nghe vua hạ sát quan cơ chính

Cả nghìn ngọn đuốc đã được thắp sáng ở cửa chợ kinh thành. Nghĩa binh định bêu thây Du nơi đây, để làm thõa lòng muôn dân. Nhưng có lệnh chủ soái Nga Sơn đưa

Đến.

Chớ giết Du. Đám vua quan ấy phải sống, làm lụng như mọi người. Để biết thế nào là việc kiếm ra miếng cơm manh áo”

Điên Giác phải đứng trên ngựa, đọc to lời chủ soái Nga Sơn, dân kẻ chợ mới để nghĩa binh dẫn Du đi

Vi Gia đến ngục Luân Giao thả hết những phạm nhân của triều đình cũ. Và thay vào đó là đám quan gia của Du đã bị nghĩa binh bắt được trên đường tiến binh

Thấy Giác phải đích thân cùng nghĩa binh dẫn Du đến, Gia hỏi

-Kẻ ấy là ai vậy ?

Giác cười

-Cứ đóan thử xem

Du liền sụp xuống, dùng đôi tay đã bị trói để chống lên đất phía sau lưng, ngửa mặt, thét to

-Cho đến lúc hồn lìa khỏi xác ta cũng còn căm hận ngươi, hỡi lão già núi Cốc

Lúc đã đẩy Du vào ngục Luân Giao, cửa ngục đã được khóa kỹ,Vi Gia mới hỏi Giác

ông già núi Cốc là ai

Giác thở dài:

-Đấy là kẻ đã bày cho dòng họ Hiêu cách trị nước hơn trăm năm qua

Đèn hoa nơi đại điện đã được thắp sáng từ lâu.

Đoàn quân nghĩa uy nghi bồng gươm đứng thành những hàng dài trước bệ rồng. Đứng trước các hàng quân  là Điên Giác, Vi Gia và các vị tộc trưởng của ba miền Nga Sơn, Mi Sơn, Hoắc Sơn.

Khưu Luân vừa ngồi vào chiếc ghế thếp vàng, định giúp Điên Giác lên  ngôi cửu ngũ như đã hứa ngày nào ở Ngũ Sơn, thì có người thiếu nữ chạy bổ đến

-Em phải liều mình trong binh lửa để đến gặp anh

Người thiếu nữ dúi vào tay Luân mảnh giấy nhỏ.

Chủ soái Nga Sơn lập tức nhận ra cô gái mặt đầy sẹo và bụi khói là Vưu Cơ

Chính ta là kẻ cầm đầu đám quân hành quyết quan văn hầu, giờ còn mặt mũi nào để gặp lại cháu. Bỡi không muốn dòng máu họ Vưu đã bị vấy bẩn lẫn vào dòng máu họ Khưu vô cùng cao khiết, nên ta phải đưa Xuyên đi. Vưu Trấp “

Đọc xong thư, Luân thất sắc, quay sang Cơ

-Họ đi bằng gì, em biết không ?

-Thưa, bằng ngựa. Từ lúc nghĩa binh vừa vào tới kinh thành

-Xuyên có nhắn gì ta không ?

-Thưa, chỉ khóc. Vì bị quan vũ hầu trói, lôi đi. Bác ấy định sang Tây Miêu thì phải

Chủ soái Nga Sơn có gục xuống trong chốc lát vì cứ thấy như mình vừa trải qua một giấc mộng. Nhưng liền bước khỏi bệ rồng, lặng lẽ tiến ra cửa đại điện, trước sự ngơ ngác của mọi người

Luân nhảy lên con kim mã đã để đứng bên mấy chiếc vạc đồng lúc mới đến, chạy về phía cửa tây kinh thành.

Điên Giác đã đuổi kịp. Nhưng chủ soái Nga Sơn không dừng lại, vừa thúc ngựa, vừa nói

-Có lên ngôi vua như đã bàn luận ở Ngũ Sơn hay không là do em định liệu. Dường

chỉ cách  ấy, may ra em mới có cơ hội tìm lại quan đốc binh Bồn Nhương

Nói xong những lời trên, Luân phóng ngựa về hướng núi Nga Sơn “

 

Nam Tượng-Qui Nhơn
1980-1998

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *